Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Giải pháp phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp huyện Yên Hưng – Quảng Ninh theo hướng bền vững

Chuyên đề tốt nghiệp
dựa vào hai chỉ tiêu vốn và lao động mà nó được xét trên hai mặt: Độ phức tạp của
quản lý và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tiểu công nghiệp không
chỉ là một hình thức sở hữu mà tồn tại với mọi thành phần kinh tế.
b. Thủ công nghiệp
Trong cơ cấu kinh tế gần như thuần nông không có nghĩa là người ta chỉ làm
nông nghiệp mà người nông dân tự chế biến ra nông sản và tự tạo ra công cụ lao
động. Sự phân công lao động xã hội phát triển đã dẫn đến sự tách lao động công
nghiệp và lao động thương nghiệp ra khỏi lao động nông nghiệp hình thành dần nghề
thủ công. Thủ công nghiệp là giai đoạn phát triển thấp của công nghiệp, lúc đầu chỉ
nhằm thỏa mãn nhu cầu của người sản xuất và mang tính chất của một nghề phụ
nhưng về sau đã xuất hiện những nghề thủ công độc lập, chuyên chế biến nguyên liệu
và dùng sản phẩm đó để trao đổi.
Thủ công nghiệp hay nghề thủ công là hình thức sản xuất công nghiệp có quy
mô nhỏ chủ yếu dựa vào sự khéo léo của bàn tay con người, với các công cụ lao động
giản đơn.
1.2.2. Đặc điểm
Sở hữu tư liệu sản xuất của tiểu thủ công nghiệp đa dạng, được thể hiện ở chỗ:
không những các thành phần kinh tế đều tham gia tìm kiếm lợi nhuận trong lĩnh vực
tiểu thủ công nghiệp mà còn là tính chất pha tạp sở hữu trong tiểu thủ công nghiệp,
trong đó sở hữu tư nhân, cá thể trong lĩnh vực này đang ngày càng chiếm ưu thế.
Ngành nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp đa dạng, sản xuất có tính tập trung
cao. Ở các vùng nông thôn có thể sử dụng lao động dư thừa lúc nông nhàn và tận
dụng các nguyên liệu do sản xuất chính tạo ra hoặc sử dụng tài nguyên của địa
phương. Khác với ở nông thôn, ở đô thị có điều kiện tập trung sản xuất cao hơn, quy
mô lớn hơn và tính chuyên môn hóa cao hơn. Đây cũng là thị trường rộng lớn để trao
đổi và tiêu thụ sản phẩm và đó cũng là điều kiện khách quan thúc đẩy sản xuất tiểu
thủ công nghiệp phát triển.
Đặc điểm chung của ngành tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp là vốn đầu tư
nhỏ, dễ thay đổi theo quy luật cung – cầu. Kinh tế thị trường càng phát triển thì các
cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp càng có điều kiện thay đổi hướng sản xuất linh
hoạt, đáp ứng nhanh chóng nhu cầu mới phát sinh của thị trường. Khi vốn và thị
trường thuận lợi tạo điều kiện cho sản phẩm tiểu thủ công nghiệp thay đổi nhanh về
mẫu mã, kiểu dáng, chủng loại sản phẩm và hướng sản xuất.
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kinh tế phát triển 47A - QN
5
Chuyên đề tốt nghiệp
Tuy nhiên, sự khác biệt giữa tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp được thể
hiện ở mức độ phân công lao động, sự tiến bộ về kỹ thuật, phạm vi thị trường tiêu thụ
sản phẩm và quy mô tổ chức sản xuất.
Trong quá trình phát triển, ở giai đoạn đầu các xí nghiệp tiểu công nghiệp tập
trung đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong vùng, trong khu vực lân cận, sau đó tiến tới cả
nước và xuất khẩu tại chỗ cho khách du lịch. Khi thị trường đã mở rộng vượt biên
giới quốc gia, tiểu công nghiệp cũng vươn ra thị trường quốc tế và đem lại thu nhập
cao hơn, nhất là những mặt hàng mang bản sắc văn hóa dân tộc.
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
Phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp chịu sự tác động của nhiều
nhân tố, có nhân tố tích cực thúc đẩy phát triển, song có nhân tố kìm hãm, hạn chế
sự phát triển. Các nhân tố đó được chia làm 2 nhóm là nhóm nhân tố bên trong và
nhóm nhân tố bên ngoài. Nhóm nhân tố bên trong bao gồm toàn bộ những tiềm
năng có thể huy động được và cách thức sử dụng tiềm năng đó vào quá trình phát
triển hay có tác động hạn chế đến quá trình phát triển. Các nhân tố bên ngoài bao
gồm tất cả những yếu tố kinh tế, chính trị quốc tế có tác động tích cực hay hạn chế
đến quá trình phát triển của đất nước nói chung và của địa phương nói riêng. Các
nhân tố bên ngoài tuy có ảnh hưởng đáng kể, song các nhân tố bên trong mới có
tính chất quyết định, bởi vì nó không chỉ tác động vào khả năng huy động và sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực bên trong, mà còn quyết định cả việc huy động và
sử dụng các nhân tố bên ngoài, hoặc cố gắng hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực
của các nhân tố trong quá trình phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp.
2.1. Nhóm nhân tố trong nội bộ nền kinh tế
2.1.1. Nhân tố thị trường và nhu cầu tiêu dùng xã hội
Thị trường và nhu cầu xã hội là người đặt hàng cho tất cả các ngành nghề, lĩnh
vực kinh tế trong toàn bộ nền kinh tế. Nếu như xã hội không có nhu cầu thì tất nhiên
sẽ không có bất kỳ quá trình sản xuất nào. Cũng như vậy, không có thị trường thì
không có kinh tế hàng hóa.
Thị trường và nhu cầu xã hội không chỉ quy định về số lượng mà cả về chất
lượng các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ nên nó có tác dụng trực tiếp đến quy mô,
trình độ phát triển của các cơ sở kinh tế, đến xu hướng phát triển và phân công lao
động xã hội, đến vị trí, tỷ trọng của ngành công nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân
thống nhất.
2.1.2. Nguồn lực phát triển
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kinh tế phát triển 47A - QN
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Tài nguyên thiên nhiên:
Tài nguyên thiên nhiên là một trong những yếu tố nguồn lực đầu vào của quá
trình sản xuất. Ảnh hưởng của tự nhiên đến cơ cấu của nền kinh tế do đó là tất yếu.
Xét trên phạm vi toàn thế giới, nếu không có tài nguyên, đất đai thì sẽ không có sản
xuất và cũng không có sự tồn tại của loài người. Mặc dù sự phát triển của lực lượng
sản xuất làm cho chế độ chế ngự thiên nhiên của con người được nâng cao và đời
sống của con người bớt phụ thuộc vào những biến động bất thường và sự phân bố
không đều của tài nguyên, thì nền sản xuất trước sau vẫn gắn bó với tự nhiên, phụ
thuộc nhưng đồng thời cũng tác động đến tự nhiên Tài nguyên thiên nhiên có ảnh
hưởng quan trọng đến phát triển và phân bố các ngành khai thác và chế biến tài
nguyên. Vì vậy xu hướng coi thường nhân tố tự nhiên trong hoạch định chính sách cơ
cấu là sai lầm. Và trên thực tế yếu tố công nghệ luôn được đổi mới, phát triển thì lưu
lượng tài nguyên thiên nhiên hữu hạn sẽ là hạn chế cho việc sản xuất vật chất trong
những ngành công nghiệp sử dụng khoáng quặng làm nguyên liệu đầu vào như thép,
nhôm,… Các nhân tố kinh tế xã hội gồm các nguồn lực lao động, vốn, trình độ khoa
học công nghệ, nhu cầu thị trường,…phản ánh trình độ phát triển của một quốc gia.
Các nhân tố tác động của quốc tế và chính sách phát triển của quốc gia đó mới là
nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến cơ cấu kinh tế và quá trình biến đổi của cơ cấu
kinh tế. Thực tế đã cho thấy, nhiều quốc gia dù có trữ lượng tài nguyên phong phú,
đa dạng, điều kiện tự nhiên thuận lợi, song vẫn là nước nghèo, kém phát triển. Ngược
lại, nhiều quốc gia có ít tài nguyên khoáng sản nhưng lại trở thành nước công nghiệp
phát triển.
Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu lao động và con người có khả năng sử
dụng tư liệu lao động để tác động vào đối tượng lao động tạo ra sản phẩm hàng hóa
và dịch vụ để đáp ứng nhu cầu xã hội. Sự phát triển của lực lượng sản xuất làm thay
đổi quy mô sản xuất, thay đổi công nghệ, thiết bị, hình thành các ngành nghề mới,
biến đổi lao động từ giản đơn đến lao động phức tạp, từ ngành này sang ngành khác.
Sự phát triển đó phá vỡ thế cân đối cũ, hình thành một cơ cấu kinh tế mới với tỷ
trọng các ngành và các lĩnh vực phù hợp hơn, thích ứng được yêu cầu phát triển của
lực lượng sản xuất, đáp ứng nhu cầu của xã hội. Quá trình đó diễn ra một cách khách
quan và từng bước tạo ra một sự cân đối hợp lý, có khả năng khai thác nguồn lực
trong nước, cũng như nguồn lực nước ngoài.
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kinh tế phát triển 47A - QN
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Sự phát triển của lực lượng sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lực lượng sản xuất phát triển không ngừng nên cơ cấu
kinh tế cũng luôn thay đổi. Từ đó, đây chính là một trong những nhân tố quan trọng
ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, vì để
ngành có thể chiếm được tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế thì cần phải đầu tư phát
triển mạnh mẽ cho lực lượng sản xuất cả về lao động tri thức cũng như công nghệ,
trang thiết bị hiện đại.
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật:
Để thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu được xây dựng trên cơ sở
đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững, nhu cầu đầu tư để phát triển cơ sở hạ tầng
là rất lớn. Việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật trong khu công nghiệp là vấn đề thu hút sự
quan tâm của các nhà đầu tư, bởi nó gắn với quyền lợi của họ. Do vậy, việc quy
hoạch và xây dựng hạ tầng kỹ thuật cho các khu công nghiệp cần được tiến hành một
cách bài bản và chặt chẽ như mở rộng hệ thống đường giao thông nội bộ, hệ thống
thoát nước, nâng công suất trạm điện, xây dựng cơ sở cung cấp nước sạch, trạm xử lý
nước thải, xây dựng hệ thống kho hàng, bến bãi, nhà ở cho công nhân… Thủ tướng
Nguyễn Sinh Hùng cho rằng, giải quyết được những yếu kém hiện tại của cơ sở hạ
tầng vốn gây ra đủ thứ hạ tầng yếu kém như kinh tế hàng hóa không phát triển, nông
nghiệp nông thôn không phát triển… sẽ thúc đẩy phát triển và tăng trưởng.
2.1.3. Truyền thống địa phương
Truyền thống địa phương cũng là một trong những nhân tố tác động mạnh mẽ
đến sự phát triển của công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp cả về mặt tích cực lẫn mặt
tiêu cực. Bởi lẽ những người dân đã quen với hình thức lao động nông nghiệp khi
chuyển sang công nghiệp sẽ gặp không ít khó khăn như thời gian lao động, sự chuyên
nghiệp, chuyên môn trong công viêc. Hơn nữa, đối với những địa phương vốn thuần
nông, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã kéo theo sự chuyển dịch lao động giữa các
ngành. Tuy nhiên, lao động tham gia họat động ngành nghề và các công việc khác
vẫn gắn với hoạt động nông nghiệp, mặc dù thu nhập từ nông nghiệp không phải là
chủ yếu.Ngành nghề không ổn định mà còn được coi là nghề phụ. Người nông dân đi
làm các công việc khác như đánh bắt cá, khai thác tận thu than, và các công việc
mang tính chất lao động phổ thông ở địa phương khác, nhưng đến mùa vụ lại trở về
với công việc đồng áng trên mảnh ruộng của mình được giao.
Tuy nhiên, yếu tố nào cũng có sự tác động hai mặt của nó, người nông dân
vốn có bản chất thật thà, chăm chỉ, họ có sự gắn bó thân thiết với những gì mang tính
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kinh tế phát triển 47A - QN
8
Chuyên đề tốt nghiệp
truyền thống dân tộc và không muốn để mai một những ngành nghề do cha ông
truyền lại dù những lợi ích trước mắt là rất lớn. Đây là lý do quan trọng nhất để tồn
tại những làng nghề truyền thống gìn giữ nét văn hóa truyền thống dân tộc, truyền
thống địa phương trong những sản phẩm mà máy móc không thể thay thế bàn tay con
người. Nếu được đầu tư mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng, nguồn vốn, những làng nghề
truyền thống này có thể đưa ra được những sản phẩm không chỉ sử dụng trong nước
mà còn có thể xuất khẩu, đem lại nguồn lợi cho chính bản thân người dân, cho sự
phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp của địa phương nói riêng và cả nước
nói chung.
2.1.4. Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước, địa phương trong
mỗi giai đoạn nhất định
Nhà nước tác động bằng cách định hướng phát triển để thực hiện được mục
tiêu đáp ứng nhu cầu xã hội. Định hướng phát triển của nhà nước không chỉ nhằm
khuyến khích mọi lực lượng sản xuất xã hội mà còn đưa ra các dự án để mọi thành
phần kinh tế tham gia. Nhưng nếu không đạt được thì nhà nước phải trực tiếp tổ chức
sản xuất, bảo đảm sự cân đối giữa các sản phẩm, các ngành và các lĩnh vực trong nền
kinh tế.
Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước và của mỗi địa phương trong
mỗi giai đoạn nhất định là sự định hướng cho mọi thành phần, mọi nhà doanh nghiệp
phấn đấu thực hiện dưới sự điều tiết của nhà nước thông qua hệ thống pháp luật và
các quy định thể chế, chính sách của nhà nước. Sự điều tiết của nhà nước gián tiếp
hướng các ngành, lĩnh vực và thành phần kinh tế phát triển, đảm bảo tính cân đối,
đồng bộ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế. Vì thế, vấn đề phải phát triển ngành
công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp cả nước cũng như từng địa phương như thế nào,
theo hướng nào, được đầu tư bao nhiêu… đều nằm trong mục tiêu phát triển tổng thể
kinh tế xã hội của đất nước, chịu sự điều tiết của nhà nước.
2.2. Các nhân tố tác động từ bên ngoài
Trong xu hướng quốc tế hóa và bùng nổ thông tin, cùng với những thành tựu
của cách mạng khoa học kỹ thuật cho phép các nhà sản xuất kinh doanh có khả năng
nhanh chóng nắm bắt thông tin và tìm hiểu thị trường cũng như đối tác mà mình
muốn hợp tác. Từ đó mà triển khai sự hợp tác đan xen, khai thác thế mạnh cho nhau,
để các bên cùng có lợi. Như việc rất nhiều loại sản phẩm hàng hóa trên thị trường
hiện nay có sự tham gia của nhiều công ty, xí nghiệp trong một nước hoặc giữa nhiều
quốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới. Đặc biệt với các quốc gia thực hiện
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kinh tế phát triển 47A - QN
9
Chuyên đề tốt nghiệp
chiến lược hướng về xuất khẩu thì yếu tố này trở thành nhân tố không thể thiếu được.
Đối với sự phát triển của ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, vấn đề hợp tác
giữa nhiều quốc gia là vô cùng cần thiết vì khi tham gia vào các hoạt động kinh tế xã
hội của khu vực và trên thế giới quốc gia đó sẽ có điều kiện hội nhập với quốc tế, có
thể tranh thủ kỹ thuật công nghệ, và có được nguồn vốn đầu tư nước ngoài để khai
thác sử dụng có hiệu quả nguồn nội lực. Bởi vậy, xu thế chính trị và xã hội của khu
vực, thế giới cũng chính là nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành.
3. Các mô hình phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn
huyện Yên Hưng
3.1. Hộ gia đình
Theo Điều 116 Bộ luật Dân sự thì hộ gia đình chỉ tham gia vào quan hệ dân sự
trong các lĩnh vực được liệt kê, điều đó không những làm kém đi tính hấp dẫn của
loại hình chủ thể này với các thành phần kinh tế khác trong xã hội mà còn không
phản ánh được đầy đủ hoạt động kinh tế của các hộ gia đình. Trong thực tế, một hộ
gia đình không chỉ tham gia vào các quan hệ trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp…
mà còn tham gia vào các lĩnh vực kinh doanh, thương mại, dịch vụ, tiểu thủ công
nghiệp, kể cả các quan hệ pháp luật phát sinh từ các hoạt động đó. Ví dụ: mua
nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm, thuê mướn mặt bằng, sử dụng các dịch vụ kinh tế
xã hội, vay vốn ngân hàng để sản xuất, ký hợp đồng ủy thác xuất khẩu hàng hóa làm
ra, thuê nhân công… Sự hạn chế năng lực làm cho tư cách pháp lý của hộ gia đình so
với các chủ thể độc lập khác trở nên bất bình đẳng, họ không được quyền lựa chọn
các quan hệ pháp luật dân sự để tham gia. Do đó, không khuyến khích được các cá
nhân lập ra nhiều hộ gia đình hoặc tự thừa nhận mình là hộ gia đình, bởi như vậy
cũng có nghĩa là họ tự đặt mình vào một quy chế chủ thể bất lợi.
Đối với các cá nhân và pháp nhân thời điểm phát sinh và thời điểm chấm dứt
tư cách của các chủ thể được quy định rất rõ ràng, minh bạch. Nhưng suy từ những
quy định trên về hộ gia đình thì thời điểm ra đời hoặc chấm dứt tư cách của các chủ
thể hộ gia đình đơn giản phụ thuộc vào việc tham gia hoặc không tham gia vào một
quan hệ dân sự.
Như vậy, hộ gia đình là một tổ chức tự phát, tự sinh rồi tự diệt, pháp luật
chưa có căn cứ quy định sự khai sinh hoặc chấm dứt tư cách chủ thể của hộ gia đình.
Như vậy, tư cách chủ thể của hộ sẽ luôn thay đổi và không ổn định nên việc căn cứ
phát sinh năng lực chủ thể của hộ gia đình là hết sức cần thiết.
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kinh tế phát triển 47A - QN
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Khác với việc giao dịch với một cá nhân hoặc với một nhóm các đồng sở hữu
chủ tài sản chung, việc giao dịch với hộ gia đình không thể tiến hành cùng lúc với tất
cả các thành viên mà phải thông qua chủ hộ hay người đại diện hợp pháp của chủ hộ.
Chủ hộ gia đình là người có vai trò quan trọng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt tài sản chung của hộ, nhân danh cho tất cả các thành viên để xác lập, thực hiện
các giao dịch chung vì lợi ích chung của hộ. Hộ gia đình phải hợp tác chịu trách
nhiệm bằng tài sản chung của hộ, nếu tài sản chung không đủ để trả nợ chung thì tổ
viên chịu trách nhiệm liên đới theo phần đóng góp bằng tài sản riêng của mình.
Hộ gia đình chấm dứt trong các trường hợp như tài sản chung không còn, hoặc
các thành viên trong hộ đều đã chết, hoặc ly hôn, tách hộ để ra sống riêng, hoặc các
thành viên thỏa thuận chấm dứt hoạt động của hộ gia đình.
3.2. Doanh nghiệp công nghiệp
Doanh nghiệp công nghiệp theo nghĩa chung nhất là đơn vị sản xuất hàng hóa
và dịch vụ với quy mô lớn. Ở nghĩa hẹp hơn, doanh nghiệp công nghiệp là đơn vị sản
xuất hàng hóa vật chất với quy mô lớn.
Người quản lý doanh nghiệp có thể là chủ sở hữu, giám đốc doanh nghiệp tư
nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, chủ tịch hội đồng thành viên, chủ
tịch công ty, thành viên hội đồng quản trị, giám đốc hoặc tổng giám đốc và các chức
danh khác do điều lệ công ty quy định.
Doanh nghiệp công nghiệp nhà nước có thể chia thành từng nhóm với tỷ lệ sở
hữu của nhà nước khác nhau. Việc đánh giá doanh nghiệp công nghiệp được thực
hiện bằng cách xem xét, so sánh số thống kê về mức độ đóng góp của từng nhóm vào
sản lượng, giá trị xuất khẩu hay số lượng việc làm… của ngành hay của toàn bộ nền
công nghiệp. Có nhiều chỉ số tài chính khác nhau có thể sử dụng để so sánh và đánh
giá doanh nghiệp công nghiệp. Các nhóm chỉ tiêu tài chính thường được sử dụng là:
khả năng thanh khoản, khả năng sinh lời và hệ số thử thị trường.
Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của doanh nghiệp công
nghiệp, bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt
hình thức sở hữu và thừa nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh.
Đồng thời, doanh nghiệp có nghĩa vụ tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi để người lao
động thành lập và tham gia hoạt động trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội trong doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có quyền tự chủ kinh doanh, chủ động chọn lựa ngành nghề, địa
bàn, hình thức kinh doanh, đầu tư, chủ động mở rộng quy mô ngành nghề kinh doanh
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kinh tế phát triển 47A - QN
11
Chuyên đề tốt nghiệp
và được nhà nước khuyến khích, ưu đãi và tạo điều kiện thuận lợi tham gia sản xuất,
cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích. Có quyền chủ động ứng dụng khoa học công
nghệ hiện đại để nâng cao hiệu quả kinh doanh và tăng khả năng cạnh tranh… Đồng
thời doanh nghiệp công nghiệp cũng như các hình thức doanh nghiệp khác phải thực
hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình là hoạt động kinh doanh đúng ngành nghề đã ghi
trong giấy chứng nhận kinh doanh, đảm bảo điều kiện kinh doanh theo quy định của
pháp luật khi kinh doanh ngành nghề kinh doanh có điều kiện; tổ chức công tác kế
toán, lập và báo cáo tài chính trung thực, chính xác; bảo đảm quyền lợi của người lao
động theo quy định của pháp luật về lao động… Nói tóm lại, một doanh nghiệp công
nghiệp cần thực hiện đầy đủ mọi quyền lợi và nghĩa vụ đối với một doanh nghiệp đã
được quy định trong Luật doanh nghiệp của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005.
3.3. Khu công nghiệp – Cụm công nghiệp
Dưới áp lực của đô thị hóa và sự gia tăng dân số, các khu công nghiệp ra đời
như một tất yếu khách quan nhằm giải quyết những mâu thuẫn giữa nhu cầu và nhu
cầu có khả năng thanh toán. Nhưng sự ra đời của các khu công nghiệp chỉ dung hòa
một phần nào đó của mâu thuẫn trên. Và bản thân nó lại nảy sinh ra những mâu thuẫn
mới trong sự mất cân đối về sinh thái, sự gia tăng áp lực của con người lên môi
trường, sự biến đổi cấu trúc xã hội, những vấn đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng,
đến rác thải công nghiệp…
Khái niệm khu công nghiệp ra đời cách đây hơn một thế kỷ. Khi đó người ta
xem xét nó như là một khái niệm về sự phân bố ngành nghề. Tuy nhiên, ngày nay
người ta thống nhất với nhau rằng khu công nghiệp là một nhóm các nhà máy phân
bố trên một khu vực địa lý xác định với sự thừa nhận của công ty chủ. Và gần đây
nhất, chính phủ đã đưa ra một khái niệm cụ thể: Khu công nghiệp là khu chuyên sản
xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh
giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại
Nghị định số 29/2008/NĐ – CP.
Cụm công nghiệp là một số xí nghiệp bố trí gần nhau trên một mặt bằng thống
nhất. Các nhà máy trong cụm quan hệ với nhau về mặt hợp tác xây dựng và sử dụng
chung các công trình phụ trợ kỹ thuật, các công trình và mạng lưới kỹ thuật hạ tầng,
nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư và giảm các chi phí quản lý khác.
Các khu công nghiệp ra đời nhằm góp phần giảm thiểu các chi phí xây dựng
cơ sở hạ tầng và thúc đẩy sự phát triển kinh tế khu vực. Quản lý khu công nghiệp
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kinh tế phát triển 47A - QN
12
Chuyên đề tốt nghiệp
theo hướng tập trung sẽ giảm thiểu được các chi phí không cần thiết như các chi phí
xử lý ô nhiễm môi trường, chi phí vận chuyển hàng hóa giữa các nhà máy, chi phí tạo
dựng cơ sở hạ tầng. Việc quản lý khu công nghiệp một cách hợp lý và tổ chức tốt sẽ
tạo thuận lợi cho sự vận hành và phát triển các khu công nghiệp theo hướng bền
vững. Vấn đề phá hủy môi trường có thể tránh được như vấn đề quy hoạch môi
trường được lồng ghép vào trong chiến lược phát triển khu công nghiệp ở mỗi quốc
gia. Mỗi khu công nghiệp có một mô hình tổ chức khác nhau, bởi vì nó có những đặc
trưng riêng về quy mô, về quyền sở hữu, về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên – kinh tế -
xã hội.
Khi quy hoạch môi trường cần phân định chức năng của khu công nghiệp để
đảm bảo việc hạn chế tối đa tác động môi trường tương hỗ giữa các đơn vị sản xuất
trong khu vực công nghiệp. Chẳng hạn, khu tập trung các đơn vị sản xuất thuộc
ngành công nghiệp không ổn định được bố trí bên ngoài khu công nghiệp, gia tăng
khoảng cách ly với khu dân cư, khu vực tập trung các đơn vị chế biến thực phẩm
không được bố trí tập trung ở gần khu vực có các đơn vị sản xuất khói, thải, bụi, hơi
độc. Việc quy hoạch môi trường cần chú ý nhiều đến tỷ lệ đất sử dụng vào mỗi mục
đích khác nhau. Ví dụ: đất cho cây xanh, đất cho giao thông, đất cho việc xây dựng
nhà xưởng…
3.4. Hợp tác xã công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
Hợp tác xã công nghiệp là tổ chức kinh tế tự chủ, do những người lao động có
nhu cầu, có lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức, lập ra theo quy định của pháp
luật để sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch
vụ công nghiệp. Hợp tác xã công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp là một tổ chức kinh tế
có tư cách pháp nhân, có tên gọi riêng, có địa chỉ cụ thể, có điều lệ riêng cho mình,
có mức vốn điều lệ, có tài khoản tại ngân hàng, có con dấu riêng và hoạt động theo
đúng pháp luật. Từ đó, Hợp tác xã được pháp luật công nhận, không thể có những tổ
chức “ma” đội lốt hợp tác xã công nghiệp để hoạt động trên thị trường.
Mọi người muốn tham gia hợp tác xã công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp để
trở thành xã viên đều phải nghiên cứu, hiểu rõ về Luật Hợp tác xã và Điều lệ mẫu
Hợp tác xã công nghiệp và xây dựng, trong đó đặc biệt là nguyên tắc tự nguyện, dân
chủ, lợi nhuận thuộc về xã viên, quan tâm đến lợi ích chung của Hợp tác xã. Tuy
nhiên, cần lưu ý là các xã viên phải trên 18 tuổi, có đủ tư cách và hành vi dân sự, số
xã viên phải có ít nhất là 9 người và 2/3 xã viên có nghề chuyên môn phù hợp. Tức là
khi thành lập hợp tác xã công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp phải có 6/9 người có
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kinh tế phát triển 47A - QN
13
Chuyên đề tốt nghiệp
nghề với mục đích làm cho kết quả sản xuất kinh doanh có chất lượng, làm cho hợp
tác xã được bền vững lâu dài. Vì thế khi vận động để thành lập hợp tác xã phải chọn
cho được những người vừa có tay nghề cao vừa có nhiệt tình tham gia, làm cho hợp
tác xã thực sự là chỗ dựa của người lao động để góp vốn, góp sức làm ăn lâu dài.
Việc trích lập quỹ và chia lãi theo vốn góp của xã viên do đại hội xã viên
quyết định hàng năm. Do mỗi năm có những nhu cầu khác nhau về đầu tư, phát triển
của hợp tác xã như có năm cần mua thiết bị, có năm cần đào tạo nên ban quản trị phải
chuẩn bị kỹ và thuyết minh sự cần thiết cho từng loại quỹ rồi đưa ra Đại hội xã viên
để bàn bạc và biểu quyết. Và việc xử lý các khoản lỗ phải được làm rõ nguyên nhân
trách nhiệm cá nhân xã viên gây ra thì xã viên phải bồi thường cho Hợp tác xã theo
quy định của Đại hội xã viên.
Từ khi có Luật Hợp tác xã, nhất là sau khi Luật hợp tác xã mới ra đời năm
2003 đã diễn ra sự thay đổi cơ bản về cả lý luận và khuôn khổ pháp lý cho sự phát
triển lâu dài và bền vững của hợp tác xã, đã xuất hiện một số nhân tố mới, góp phần
làm rõ hơn mô hình hợp tác xã kiểu mới, gợi mở cách làm mới cho khu vực kinh tế
thị trường. Đa số các hợp tác xã sau khi chuyển đổi được củng cố một bước. Hoạt
động của hợp tác xã ngày càng ổn định và từng bước có sự phát triển, đa dạng và có
hiệu quả hơn do chuyển sang sản xuất kinh doanh, dịch vụ tổng hợp. Nhìn chung,
khu vực hợp tác xã công nghiệp đã thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, sáng tạo,
vượt qua khó khăn, hoạt động đa dạng để nắm bắt cơ hội sản xuất kinh doanh có hiệu
quả. Các hợp tác xã đã có các liên doanh, liên kết với nhau và với các thành phần
doanh nghiệp khác, tạo nên một sức mạnh tổng hợp để hỗ trợ nhau và thúc đẩy cùng
nhau phát triển một cách toàn diện và bền vững. Các hợp tác xã công nghiệp – tiểu
thủ công nghiệp trong các làng nghề, ngành nghề truyền thống đã từng bước được
khôi phục và có bước phát triển tốt hơn. Ở nhiều nơi, các hộ nghề đã tập hợp trong
các tổ hợp tác, hợp tác xã để gắn kết với nhau trong việc cung ứng vật tư, nguyên
liệu, kỹ thuật, cải tiến mẫu mã và tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm. Đặc biệt,
trong những năm gần đây, một số hợp tác xã đã mạnh dạn ứng dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật, tổ chức sản xuất có bài bản, áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu
chuẩn ISO… nên đã có hướng phát triển tốt, ổn định. Một số hợp tác xã đã đầu tư
chiều sâu và có quy mô sản xuất kinh doanh lớn, có thị trường ổn định, sản phẩm làm
ra có chất lượng và uy tín trên thị trường cả trong và ngoài nước.
4. Kinh nghiệm phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp ở một số địa
phương trên địa bàn tỉnh và một số tỉnh lân cận
Nguyễn Thị Thu Trang Lớp: Kinh tế phát triển 47A - QN
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét