Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

In order to become competent in a foreign language, it is important for language learners not only to acquire new vocabularies and a new set of phonological and syntactic rules but also to learn what Wilson (1986)

2.1.3. Phương thức biểu thò
61
2.1.4. Ngữ nghóa
67
2.2. Nhân danh
70
2.2.1. Nguồn gốc
71
2.2.2. Cấu tạo
72
2.2.3. Phương thức biểu thò
79
2.2.4. Ngữ nghóa
81
2.3. Tiểu kết
84
Chương ba: Hệ thống từ ngữ gọi tên chung
86
3.1. Đònh danh động vật
86
3.1.1. Nguồn gốc
88
3.1.2. Cấu tạo
88
3.1.3. Phương thức biểu thò
90
-5-
3.1.4. Ngữ nghóa
92
3.2. Đònh danh thực vật
93
3.2.1. Nguồn gốc
95
3.2.2. Cấu tạo
95
3.2.3. Phương thức biểu thò
96
3.2.4. Ngữ nghóa
98
3.3. Đònh danh công cụ, phương tiện sản xuất và sinh hoạt
99
3.3.1. Nguồn gốc

100
3.3.2. Cấu tạo

101
3.3.3. Phương thức biểu thò

102
3.3.4. Ngữ nghóa

104
-6-


000
3.4. Đònh danh đơn vò đo lường dân gian 106
3.4.1. Nguồn gốc

107
3.4.2. Cấu tạo

107
3.4.3. Phương thức biểu thò

107
3.4.4. Ngữ nghóa

108
3.5. Đònh danh về sông nước và hoạt động trên sông nước

113 3.5.1. Nguồn gốc 0
3.5.1. Nguồn gốc

113
3.5.2. Cấu tạo

114
3.5.3. Phương thức biểu thò

115
3.5.4. Ngữ nghóa
-7-

116
3.6. Đònh danh những sản phẩm được chế biến từ nông sản, thuỷ sản

117
3.6.1. Nguồn gốc

118
3.6.2. Cấu tạo

118
3.6.3. Phương thức biểu thò

119
3.6.4. Ngữ nghóa

121
3.7. Tiểu kết

122
Kết luận

124
Tài liệu tham khảo

128
Phụ lục
-8-
DẪN NHẬP
0.1. Lí do chọn đề tài
0.1.1. Nam Bộ là một vùng đất mới của người Việt ở phương nam. Do có
thuận lợi về điều kiện tự nhiên nên Nam Bộ có nhiều tiềm năng và lợi thế để
phát triển kinh tế. Tính cách, tâm hồn, nếp sinh hoạt của con người ở đây cũng
có những nét rất riêng so với cội nguồn. Đó là những con người bộc trực, thẳng
thắn, yêu ghét hết mình và vẫn giữ được đức cần cù, chòu khó, lòng yêu nước,
thương nòi vốn có của dân tộc. Một miền đất giàu có, trù phú với mênh mang
sông nước và những con người nhân hậu là sức lôi cuốn những ai yêu quý và
quan tâm đến cuộc sống con người nơi đây.
-9-
0.1.2. Phương ngữ Nam Bộ (PNNB), từ đòa phương Nam Bộ không những
phản ánh cách phân cắt hiện thực của người Nam Bộ mà nó còn mang những nét
văn hoá rất đặc trưng của vùng đất mới. Đây là nguồn đề tài hấp dẫn cho các
nhà văn hoá học, ngôn ngữ học… Nghiên cứu đònh danh trong ngôn ngữ chính là
nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hoá, ngôn ngữ và tư duy. Mối quan hệ này thể
hiện ở nhiều cấp độ khác nhau trong ngôn ngữ như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp.
Trong đó, cấp độ từ vựng là rõ ràng nhất.
Đònh danh có tầm quan trọng đặc biệt đối với cuộc sống con người. Nếu
đối tượng xung quanh con người không có tên gọi thì con người sẽ mất phương
hướng, ảnh hưởng đến giao tiếp và tư duy. “Mất cái tên gọi con người sẽ mất một
trong những khả năng đònh hướng trong thế giới quanh mình” [9; 167]. Đònh danh
từ vựïng trong PNNB là một vấn đề khá thú vò và chưa được các nhà Việt ngữ
học quan tâm. Qua việc nghiên cứu về đặc điểm đònh danh từ vựng, đề tài thử
góp phần lí giải một phần đặc điểm của PNNB. Đồng thời, qua đó hiểu thêm về
môi trường tự nhiên, xã hội, thấy được nét độc đáo về văn hoá của miền đất tận
cùng Tổ quốc này.
0.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về đònh danh từ vựng, luận văn tập trung nghiên cứu về hệ
thống từ ngữ gọi tên riêng (như: đòa danh, nhân danh), hệ thống từ ngữ gọi tên
chung (như: những sản phẩm được chế biến từ nông sản, thuỷ sản; các loại động
thực vật; những công cụ, phương tiện lao động và sinh hoạt của con người;
những đơn vò đo lường dân gian và nhóm từ liên quan đến sông nước) sau khi tìm
hiểu về những vấn đề chung về Nam Bộ và về đònh danh. Như vậy, đối tượng
khảo sát của chúng tôi bao gồm từ và ngữ đònh danh. Luận văn cũng chỉ nghiên
cứu phương thức đònh danh trực tiếp, không có điều kiện nghiên cứu phương thức
gián tiếp.
-10-
Sở dó chúng tôi giới hạn như vậy vì một mặt, bản thân không đủ năng lực,
khuôn khổ luận văn không cho phép; mặt khác, chỉ khảo sát hệ thống từ ngữ nói
trên bởi vì những từ ngữ này được sử dụng nhiều trong đời sống cộng đồng người
dân Nam Bộ, gắn bó với môi trường tự nhiên, thể hiện được đặc trưng văn hoá
Nam Bộ.
0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
0.3.1. Mục đích nghiên cứu: Từ kết quả nghiên cứu tiếng nói của người
Nam Bộ thông qua các tài liệu có được của các tác giả đi trước, qua thực tiễn lời
ăn tiếng nói hằng ngày của người dân đòa phương, luận văn nhằm tìm hiểu về
đònh danh từ vựng của PNNB, đưa ra những nhận xét bước đầu về những đặc
điểm có tính quy luật trong việc đònh danh hiện thực của tiếng nói Nam Bộ. Đó
cũng chính là đặc điểm ngôn ngữ – văn hoá của vùng đất này.
0.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn đặt
ra những nhiệm vụ sau:
+ Tìm hiểu về đặc điểm về tự nhiên và xã hội của Nam Bộ.
+ Tìm hiểu đặc trưng văn hoá của Nam Bộ.
+ Nêu lên những đặc điểm của PNNB.
+ Nghiên cứu về sự tri nhận hiện thực qua việc đònh danh từ ngữ trong
PNNB.
0.4. Lòch sử vấn đề
0.4.1. Nghiên cứu về phương ngữ Nam Bộ
Nghiên cứu PNNB có các tác giả tiêu biểu:
- Hoàng Thò Châu (1989) nghiên cứu PNNB trong phương ngữ Nam (như
cách chia vùng của tác giả) và với công trình Tiếng Việt trên các miền đất nước
của mình. Bà chú ý đặc biệt đến vấn đề ngữ âm: “Tác giả dựa vào những
phương pháp của ngôn ngữ học và phương ngữ học để miêu tả, phân tích, giới
-11-
thiệu với bạn đọc những biến thể đòa phương của tiếng Việt, lí giải các nguyên
nhân xã hội và các quy luật biến đổi ngữ âm đã tạo ra sự đa dạng đó” [8; 5,6].
Tác giả cho rằng đây là sự khác biệt đáng tin cậy và thể hiện lòch sử phát triển
của tiếng Việt. Tuy nhiên, vì ranh giới phân vùng của tác giả về phương ngữ
Nam quá rộng, do đó có một số vấn đề về ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp, tác giả
đã có những nhận xét không chỉ dành riêng cho PNNB.
- Nguyễn Văn Ái (1994): Do cách phân vùng của tác giả khác với Hoàng
Thò Châu - hẹp hơn vềø phạm vi đòa lí, do đó ông miêu tả đặc trưng ngôn ngữ
vùng này cụ thể hơn. Cách xác đònh vùng PNNB của tác giả trùng khớp với ranh
giới đòa lí hiện nay. Đây cũng là quan điểm phân vùng của tác giả luận văn. Các
công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Ái về PNNB khá nhiều. Tuy nhiên, cuốn
được giới nghiên cứu nhắc đến nhiều hơn là Từ điển phương ngữ Nam Bộ.
- Trần Thò Ngọc Lang (1995): Công trình khoa học (PTS) của bà nghiên
cứu tương đối toàn diện về PNNB. Từ công trình này, tác giả đã cho xuất bản
cuốn Phương ngữ Nam Bộ – những khác biệt về từ vựng – ngữ nghóa so với
phương ngữ Bắc Bộ. Ngoài ra, bà còn có nhiều bài viết khác về PNNB, trong đó
đáng chú ý là bài viết Điểm khác biệt về ngữ pháp của phương ngữ Nam Bộ (so
sánh với Bắc Bộ) (Tạp chí Ngôn ngữ số 2/ 2002).
- Hồ Lê (1992) cùng với nhóm tác giả của mình (Huỳnh Lứa, Thạch
Phương, Nguyễn Quang Vinh) nghiên cứu PNNB dưới góc nhìn văn hoá trong
Văn hoá dân gian người Việt ở Nam Bộ.
- Cao Xuân Hạo (2001) lại đặc biệt quan tâm tới hệ thống âm vò của các
phương ngữ. Ông đối chiếu hệ thống âm vò của PNNB với phương ngữ Hà Nội,
Nam Trung Bộ, cả phát âm cổ để tìm ra nét khu biệt của hệ thống âm vò trong
phương ngữ này. Đây là ý kiến của ông trong bài viết “Hai vấn đề âm vò học của
-12-
phương ngữ Nam Bộ” in trong Tiếng Việt mấy vấn đề ngữ âm ngữ pháp ngữ
nghóa.
- Bùi Khánh Thế (2001) và nhóm cộng tác trong Mấy vấn đề về tiếng Việt
hiện đại đã dành một số trang nghiên cứu đặc điểm ngữ âm của PNNB qua đặc
điểm ngữ âm tiếng Sài Gòn mà tác giả cho đó là tiếng Nam Bộ chuẩn.
- Huỳnh Công Tín (1999) nghiên cứu về ngữ âm PNNB với luận án tiến só
Hệ thống ngữ âm tiếng Sài Gòn (So sánh với phương ngữ Hà Nội và một số
phương ngữ khác ở Việt Nam). Ngoài ra, anh cũng có một số bài viết về ngôn từ
của PNNB, cách diễn đạt của người dân vùng ĐBSCL.
0.4.2. Nghiên cứu đònh danh trong tiếng Việt và trong phương ngữ Nam
Bộ
- Nguyễn Đức Tồn (2002): Trong công tình Tìm hiểu đặc trưng văn hoá
dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc
khác) của mình, ông đã đưa ra một số vấn đề về lí thuyết đònh danh ngôn ngữ;
tìm hiểu đặc điểm dân tộc của đònh danh động vật, thực vật, bộ phận cơ thể
người… so sánh với ngôn ngữ khác, đặc biệt là tiếng Nga. Đây là một công trình
nghiên cứu theo hướng lí thuyết thuộc về lónh vực tâm lí – ngôn ngữ học tộc
người – một lónh vực khá mới mẻ đối với ngành ngôn ngữ học Việt Nam.
Trước đó, ông cũng đã có một bài viết Đặc trưng dân tộc của tư duy ngôn
ngữ qua hiện tượng từ đồng nghóa (Tạp chí Ngôn ngữ số 3/ 1993) ít nhiều liên
quan đến lónh vực này.
- Đỗ Hữu Châu (1998, 1999) trong Cơ sở ngữ nghóa học từ vựng, Từ vựng
ngữ nghóa tiếng Việt đã dành nhiều trang nói về chức năng đònh danh của tín
hiệu ngôn ngữ. Ông khẳng đònh vai trò quan trọng của đònh danh trong giao tiếp
và tư duy của con người, miêu tả một cách cụ thể và thuyết phục quá trình đònh
danh trong tiếng Việt. Tuy nhiên, ông chỉ thừa nhận đònh danh ở cấp độ từ,
-13-
không thừa nhận đònh danh ở cấp độ cụm từ (trừ cụm từ ở dạng đònh danh hóa)
và câu. Ông cho cụm từ tự do chỉ có chức năng biểu vật.
- Lí Toàn Thắng (2002, 2005): Một phần quan trọng trong cuốn Mấy vấn
đề Việt ngữ học và ngôn ngữ học đại cương và đặc biệt là cuốn Ngôn ngữ học tri
nhận: Từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt của ông là công trình về đại
cương ngôn ngữ học tâm lí và ngôn ngữ học tri nhận. Phần này liên quan đến lí
thuyết về đònh danh, về sự phân cắt hiện thực của con người.
- Lê Trung Hoa (2002, 2003) đặc biệt chú ý đến mảng đòa danh, nhân
danh. Các cuốn sách đáng chú ý về hai mảng này là: Họ và tên người Việt Nam,
Tìm hiểu nguồn gốc đòa danh Nam Bộ và tiếng Việt văn học, Từ điển đòa danh
Thành phố Sài Gòn – Hồ Chí Minh.
- Trònh Sâm (2002): Cuốn sách Đi tìm bản sắc tiếng Việt của ông là tập
hợp những bài viết về tiếng Việt. Trong đó, PNNB và đònh danh là hai vấn đề có
liên quan đến đề tài khảo sát ở đây. Ngoài ra, bản sắc văn hoá Việt được ông
tìm hiểu qua ngôn ngữ đòa phương Nam Bộ. Ông gợi ra một số vấn đề thú vò liên
quan đến đònh danh trong bài viết “Về cơ chế ngữ nghóa – tâm lí trong tổ hợp
song tiết chính phụ tiếng Việt”.
- Nguyễn Thuý Khanh (1994): Với các bài viết về đònh danh động vật ở
tiếng Việt và tiếng Việt so sánh với tiếng Nga, tác giả đã cho người đọc nắm
được khá cụ thể và sâu sắc về một lónh vực của đònh danh trong tiếng Việt. Đó
là các bài viết: Đặc điểm đònh danh tên gọi động vật trong tiếng Việt, Một vài
nhận xét về thành ngữ so sánh có tên động vật tiếng Việt, Đặc điểm đònh danh
của trường tên gọi động vật tiếng Nga trong sự đối chiếu với tiếng Việt
Trong luận văn của mình, chúng tôi muốn khẳng đònh lại những thành tựu
của các công trình đi trước. Tuy nhiên, trước những vấn đề còn tranh cãi, chúng
tôi cũng chọn cho mình một quan niệm mà theo chúng tôi là có tính thuyết phục
-14-

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét