Phạm Thu Hương Khoá luận tốt nghiệp
Năm 1993 D.F Waterhouse đã công bố 4 loài sâu hại chính và quan trọng
ở phía nam Châu Á làAceria litchi (Keifer), Cnopomorpha sinensis, Cossus
sp., Tessaratoma papillosa Drury. (The Maior Arthropod Pest and Weed of
Agriculture in Southeast Asia: Distribution Impotance and Origin. Canberra,
Australia – 1993.)
Năm 1997 nhóm tác giả LiLi_ Ying Wang Ren và D.F Water house đã
xác định được 10 loài sâu hại phổ biến và quan trọng trên cây nhãn và vải ở
phía nam Trung Quốc. (The distribution and impotance of arthropod pest and
weed of Agriculture and Forestry plantationsin Southern China. Canberra
1997)
Năm 1998 Rajpal Singh và cộng tác viên phát hiện ra 16 loài sâu hại phổ
biến tại một số huyện của Trung Quốc. (K.Flower visitor of litchi and their
role in pollinnation and fruit production. Pest Management and Economic
Zoology, 1998. Vol. 6, No. 1, pp. 1 – 5.7 ref.).
Năm 1998, Liu Xi Die và cộng tác viên đã tiến hành nhân nuôi ong
Anastatus Japonicus Ashmaed để trừ bọ xít nhãn vải, hiệu lực phòng trừđạt
94%. (Experiment of control of litchi stink bug by using Anastatus japonius
Ashmead. South China Fruit, 1998)
Năm 1998 Randahawa H.S và Gill R.S đã nghiên cứu về loài sâu đục hạt
vải Blastobasis sp. (Lepidoptera Blastobasidae).
Năm 1998 Liu Yu Fang và cộng sự nghiên cứu và so sánh mức độ ký sinh
của 2 loài ong Anastatus sp. vàOoencyrtus sp. trên 2 vườn vải, 1 có sử dụng
thuốc trừ sâu hoá học, 1 vườn áp dụng biện pháp điều khiển dịch hại tổng hợp
IPM , kết quả tỷ lệ ký sinh của của vườn sử dụng thuốc hoá học chỉ thấy ong
Anastatus sp. xuất hiện với tỷ lệ rất thấp, không thấy ong ký sinh Ooencyrtus
sp.trong khi vườn áp dụng IPM, tỷ lệ ký sinh của ong Anastatus sp. là 17,7 – 18,4%,
ong Ooencyrtus sp. là 23,5 – 30,4%.
Năm 1998, Luo Qi Hao và cộng sựđi sâu nghiên cứu loài bướm đêm chích
hút quả vải Comocritis albicapilla Morinti, đây là một trong các loài sâu hại
Lớp 02- 01 Khoa Công nghệ sinh
học
Phạm Thu Hương Khoá luận tốt nghiệp
quan trọng. (Study on Comocritis albicapilla of litchi tree. Journal of South
China Agricaltural University, 1998)
Năm 1999, Tan Shi Dong và cộng tác viên đãđiều tra phát hiện được 83
loài sâu hại trên cây vải thuộc 76 giống, 30 họ, 7bộ, trong đó có 14 loài quan
trọng nhất. (Study on the structure and dynamic of pest community in lychee
orchard. Actaphytoppylacica Sinica, 1999)
Năm 1999, Yang Chi Kun và cộng sựđã nghiên cứu về loài ruồi hại vải
thuộc giống Oligotrophiniở Quảng Đông, Trung Quốc. (A new genus ang
species of gall midge (Dipera Cecidomyiidao) infesting litchi from China.
Entomotaxonomia, 1999)
2.1.2.Những nghiên cứu về côn trùng vải thiều của các tác giả trong nước.
Điều kiện khí hậu nhiệt đới của nước ta rất thuận lợi cho sự phát triển của côn
trùng.Trên cơ sởđó tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học Việt Nam đi
sâu nghiên cứu về hệ côn trùng phong phú vàđa dạng đó.
Năm 1967–1968, Viện BVTV đãđiều tra thu thập được 18 loài sâu hại
nhãn vải là: bọ dừa nâu, bọ dừa nâu nhỏ, sâu tiện vỏ, xén tóc mai rùa, rệp sáp
cạnh, rệp sáp đỏ, rệp sáp nâu mềm, bọ xít vằn, sâu cuốn lá, rệp sáp Ai Cập,
rệp sáp lớn giả cam , rệp sáp hình bán cầu , ve sầu bướm , bọđa lớn hai chấm
và bọ xít nhãn. (Kết quảđiều tra côn trùng 1967–1968. NXB nông thôn.)
Năm 1982, sau một quá trình nghiên cứu có hệ thống, Hoàng Đức Nhuận
đã phát hiện được ở Việt Nam trên 220 loài thuộc 65 giống, 15 tộc và 6 phân
họ. (Bọ rùa – Coccinellidae ở Việt Nam. NXB Khoa học và kỹ thuật Hà
Nội - 1982)
Năm 1990, theo tác giả Vũ Công Hậu thì sâu hại vải thì có rất nhiều loài
khác nhau, trong đó có các loài gây hại chủ yếu như: bọ xít nhãn vải
(Tessaratoma papillosa), bọ xít dài hôi (Leptocorisa acuta), sâu đục vỏ
(Indarbela sp), sâu cuốn lá (Olethreutes leucaspis), sâu đo xanh hai sừng
(Thalassodes guadraria), rệp sáp (Ceroplastes rubens), (Trồng cây ăn quảở
Việt Nam – NXB Nông nghiệp TP Hồ Chí Minh, 1990).
Lớp 02- 01 Khoa Công nghệ sinh
học
Phạm Thu Hương Khoá luận tốt nghiệp
Bọ xít Tessaratoma papillosa là loài nghiêm trọng với các vườn vải và
nhãn, chúng chích hút mầm non, quả non gây hiện tượng rụng quả, nếu chích
hút quả già thi gây kém chất lượng. Năm 1995, Vũ Quang Côn và cộng sự
nghiên cứu một sốđặc điểm phát sinh , phát triển của bọ xít nhãn vải
Tessaratoma papillosa Drury (Hemiptera : Pentatomidae ), đi sâu nghiên cứu
sự phát triển của cá thể, của các cơ quan sinh sản, sự phát sinh lứa và biến
động số lượng loài. Kết quả cho thấy thời gian cùng tồn tại gối lứa của bọ xít
trưởng thành thế hệ cũ và mới kéo dài khoảng 30 ngày, trong đó bọ xít trưởng
thành của thế hệ mới chiếm tới 61,4% còn bọ xít trưởng thành thế hệ cũ chỉ
38,6% Bằng thực nghiệm cho thấy mỗi con cái thế hệ mới ghép đôi giao phôí
với con đực thế hệ cũđẻđược 2 – 3 ổ trứng. Hiện tượng tiêu sinh trứng của
trưởng thành cái xảy ra khi cách ly chúng với cây nhãn vải. Mật độ bọ xít cao
nhất vào trung tuần tháng 4 (48 – 56 con/cây). (Một sốđặc điểm phát sinh,
phát triển của bọ xít nhãn vải Tessaratoma papillosa Drury (Hemiptera :
Pentatomidae). Những công trình nghiên cứu cơ bản , 1995 ) [225–231].
Năm 1995, Trần Huy Thọ và cộng sựđã phát hiện dược 19 loài sâu hại và
4 loài nhện hại tại Hà Nội, Hải Hưng, Hà Nam, Yên Bái. Những loài sâu hại
chính đó là: bọ xít hại nhãn vải , rệp sáp , ve sầu bướm , sâu tiện vỏ , sâu đục
cành, sâu đục thân, nhện lông nhung và ruồi đục quả. (Một số kết quả nghiên
cứu về sâu hại chủ yếu trên một số cây ăn quảở miền Bắc nước ta. Tuyển tập
công trình nghiên cứu. Viện BVTV 1990 – 1995).
Năm 1998 – 2000, Nguyễn Xuân Hồng đã xác định được 15 loài sâu hại
vải ở Lục Ngạn (Bắc Giang), và Chương Mỹ (Hà Tây). Trong đó có 14 loài
thuộc 5 bộ của côn trùng và 1 loài nhện hại, phổ biến là nhện lông nhung, bọ
xít hại nhãn vải, rệp muội, sâu đục quả và ngài chích hút. Ngoài ra còn ghi
nhận được một sốđối tượng khác là dơi và chuột.
Năm 2001, chi cục BVTV tỉnh Bắc Giang đã ghi nhận được 17 loài sâu
hại tại Bắc Giang chủ yếu là ve sầu nhảy, bọ xít nhãn vải và nhện lông nhung.
Lớp 02- 01 Khoa Công nghệ sinh
học
Phạm Thu Hương Khoá luận tốt nghiệp
Năm 2003, đã có nhiều công trình nghiên cứu về côn trùng trên cây nhãn
vải.
Phạm Văn Lầm và Nguyễn Thành Vĩnh dẫn liệu bước đầu vềđặc điểm
sinh học cơ bản của ong đen Ooencyrtus phongi Trjap ký sinh trứng bọ xít
nhãn vải cho thấy: ở nhiệt độ 28,4 – 31,1°C vàđộẩm 74,2 – 79,6%,
Ooencyrtus phongi ký sinh trứng bọ xít nhãn vải lhoàn thành vòng đời trong
thời gian trung bình từ 12,8 – 13,5 ngày. Tuổi thọ của ong trưởng thành kéo
dài 2,3 – 2,6 ngày (không được ăn thêm lá hoặc chỉ uống nước lã) đến
6,9 – 11,3 ngày (được ăn thêm nước đường hoặc dung dịch mật ong 50%).
Một con ong trưởng thành cái ký sinh trung bình được 12,2 trứng bọ xít
T.papillosa và sản sinh trung bình 136 ong trưởng thành cho đơì sau. (Dẫn
liệu bước đầu vềđặc điểm sinh học cơ bản của ong đen Ooencyrtus
phongiTrjap, Myart. et Kost (Hymenoptera, Encyrtidae) ký sinh trứng
bọ xít nhãn vải _ Tạp chí BVTV số 3/2003).
Cũng trong năm 2003, Phạm Đình Sắc nghiên cứu cấu trúc loài nhện bắt
mồi và biến động số lượng của một số loài phổ biến trên cây vải vùng Sóc
Sơn Hà Nội đã xác định được 33 loài nhện bắt mồi thuộc 10 họ, trong đó họ
nhện nhảy Salticidae có số loài cao nhất (9 loài), tiếp đến là họ bụng tròn
chăng lưới Araneidae (7 loai), họ nhện hàm dài Tetragnathidae (6 loài), họ
nhện càng cua Thomicidae (3 loài), các họ còn lại 1 – 2 loài. Những loài bắt
gặp nhiều và chiếm ưu thế trên vườn vải tại Sóc Sơn là nhện nhảy sọc
đỏEpocilla canlcarata, nhện nhảy vằn xanh Phintella sp., nhện càng cua lớn
Heteropoda sp Số loài nhện đã xác định dược trên cây vải tại Sóc Sơn Hà Nội
phong phú hơn số loài nhện trên cây vải tại vùng Mê Linh Vĩnh Phúc. (Cấu
trúc loài nhện bắt mồi và biến động số lượng của một số loài phổ biến trên
cây vải vùng Sóc Sơn Hà Nội. Tuyển tập công trình nghiên cứu BVTV -
Viện Bảo vệ thực vật - NXB Nông nghiệp)[125_129].
Năm 2003, Đào Đăng Tựu, Lê Văn Trịnh và Trần Huy Thọđãđiều tra thu
thập được 51 loài sâu và nhện hại trong đó có 46 loài tập trung ở 6 bộ côn
Lớp 02- 01 Khoa Công nghệ sinh
học
Phạm Thu Hương Khoá luận tốt nghiệp
trùng và 5 loài ở lớp nhện. Bộ cánh vẩy Lepidoptera có nhiều nhất là 8 loài
chiếm 35,3%, bộ cánh đều Homoptera có 15 loài chiếm 29,4%, bộ cánh cứng
Coleoptera 8 loài chiếm 15,7%, cánh nửa Hemiptera 3 loài chiếm 5,8%, hai
cánh Diptera, cánh tơ Thysanoptera chiếm 1,9%. Lớp nhện có 5 loài chiếm
10%. Trong số 51 loài gây hại đã phát hiện có 11 loài sâu hại rất phổ biến
trong đó có 9 loài làđối tượng tập trung gây hại từ thời kỳ ra hoa cho tới lúc
thu hoạch bao gồm : bọ xít vải , rệp muội , rệp sáp , sâu đục cuống quả, ruồi
hại quả, nhện lông nhung, nhện chổi rồng, bướm chích quả,ve sầu bướm hai
chấm trắng.
Các kết quả khảo sát nhện trên cây vải tại Mê Linh - Vĩnh Phúc và Sóc
Sơn- Hà Nội cho thấy số loài và mật độ nhện ở mức cao trong quần xã các
loài cóích. Năm 2003, Phạm Đình Sắc và Vũ Quang Côn đã nghiên cứu thành
phần, số lượng và sự trúđông của nhện Araneae trên cây vải vùng Mê
Linh – Vĩnh Phúc. Kết quả cho thấy nhện ẩn nấp ở bên trong giữa tấm các
tông và vỏ thân hoặc cành cây. Trong tổng số 30 tấm các tông được đặt
cốđịnh trên cây vải thu được 179 cá thể nhện của 19loài thuộc 9 họ. Loài nhện
thu được nhiều nhất là nhện nhảy vằn lưng Bianor hotingchiehi, sau đó là loài
nhện nhảy sọc đỏEpocilla calcarata. Số lượng nhện trúẩn qua đông đạt cao
nhất trong thời gian từ cuối tháng 10 đến giữa tháng 11, đây cũng là thời kỳ
rụng lá của vườn cây ăn quả.
(Thành phần, số lượng và sự trúđông của nhện Araneae trên cây vải tại
vùng Mê Linh- Vĩnh Phúc. Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học
sự sống-báo cáo khoa học hội nghị toàn quốc lần thứ 2, nghiên cứu cơ bản
trong sinh học, nông nghiệp, y học - Huế 25 - 26/7/2003) [713 – 716].
Theo Bùi Lan Anh và Ngô Xuân Bình, đã nghiên cứu điều tra một số sâu
bệnh hại nhãn vải tại Thái Nguyên năm 2002 – 2003. Kết quả cho thấy sâu
hại nhãn vải có 19 loài, trong đó hại lá 12 loài, hại thân cành 1 loài và 6 loài
hại hoa và quả. Trong số những loài sâu hại đáng chúý là sâu đục gân lá tỷ lệ
hại trung bình 5 - 10% , nơi bị hại nhiều nhất có khi lên tới 19 - 26%. Sâu
Lớp 02- 01 Khoa Công nghệ sinh
học
Phạm Thu Hương Khoá luận tốt nghiệp
đục quả tỷ lệ hại trung bình 0,5%, nơi bị hại nặng tỷ lệ hại trên 10%. Các loài
bọ xít, sâu ăn lá, sâu đục thân cành cây gây hại có tính chất cục bộ. (Một số
kết quảđiều tra sâu bệnh hại nhãn vải tại Thái Nguyên năm 2002 – 2003. Tạp
chí Bảo vệ thực vật số 6/2003).
TS.Nguyễn Xuân Thành - Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, đãđóng
góp cho nghành nghiên cứu côn trùng học nói chung và côn trùng trên cây vải
nói riêng nhiều công trình nghiên cứu có giá trị.
Năm 1998 – 1999, Nguyễn Xuân Thành nghiên cứu ở nông trường Bình
Khê , xã Tràng Lương , huyện Đông Triều, Quảng Ninh và nông trường Hà
Trung, Thanh Hoá. Số lượng loài thu được là 77 loài sâu hại và 1 loài nhện
hại, trong đó : Bộ cánh phấn có 39 loài, bộ cánh đều 13 loài, bộ hai cánh có 1
loài, bộ cánh nửa 4 loài, bộ cánh cứng 19 loài. Côn trùng cóích gồm 14 loài
côn trùng ăn thịt (thuộc 6 bộ và 8 họ ) và 13 loài côn trùng ký sinh (11 loài
thuộc bộ cánh màng , 2 loài thuộc bộ hai cánh). Nhện hại mới phân loại được
một loài làEriophies litchi Keifer thuộc họ Eriophydae, số lượng loài nhện ăn
thịt thu được là 10 loài. Ông đã nghiên cứu sinh học sinh thái về loài sâu cuốn
láđầu đen và sâu cuốn láđầu nâu, nhóm sâu nhớt, nhóm sâu đo xanh, sâu đo
hình que đầu hai sừng, sâu đo nâu xám , nhóm bướm chích quả , sâu đục
cuống quả , sâu đục gân lá, bọ cánh cứng , bọ cánh gân nâu, bọ hung , bọ xít
nhãn vải , bọ mắt vàng , nhện lông nhung, câu cấu, bọ dừa, ong ký sinh trứng
bọ xít nhãn vải và ong ký sinh sâu non bộ cánh vẩy. (Côn trùng và VSV trên
cây vải thiều tại Quảng Ninh và Thanh Hoá - Biện pháp lợi dụng vàđiều khiển
chúng. Kỷ yếu hội nghị khoa học, công nghệ và môi trường các tỉnh miền núi
phía Bắc lần thứ 7).
Năm 2000, Nguyễn Xuân Thành nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh học,
sinh thái của hai loài bọ mắt vàng Chrysopasp. vàAnkylopteryxsp.
(Chrysopidae) trên cây vải thiều Đông Triều, Quảng Ninh. Kết quả cho thấy
hai loài bọ mắt vàng đều thuộc phân họ Chrysopinae Esben-Petesen 1918, họ
Chrysopidae, bộ Neuroptera. Cả hai loài tồn tại và phát triển quanh năm trên
Lớp 02- 01 Khoa Công nghệ sinh
học
Phạm Thu Hương Khoá luận tốt nghiệp
cây vải, mật độ cao nhất vào tháng cuối xuân , đầu hè, khi mật độ thức ăn và
các yếu tố sinh thái khác thuận lợi cho chúng. Mật độ cao nhất vào cuối tháng
4 đầu tháng 5, cuối tháng 5và từ 15 đến 20 tháng 6. Đây là 2 loài côn trùng ăn
thịt sau hại quan trọng trong việc điều hoà mật độ chủng quần sâu hại vải, góp
phần đáng kể hạn chế tác hại của sâu gây ra. (Một sốđặc điểm hình thái, sinh
học, sinh thái của hai loài bọ mắt vàng Chrysopasp. vàAnkylopteryx sp.
(Chrysopidae) trên cây vải thiều tại Đông Triều Quảng Ninh_ Tạp chí Sinh
học số 3/2000) [44_47].
Năm 2002, Nguyễn Xuân Thành bước đầu nghiên cứu về thành phần các
loài côn trùng và nhện trên vải tại Hà Nội và vùng phụ cận. Qua điều tra cho
thấy thành phần côn trùng và nhện tương đối phong phú. Tổng số loài hiện đã
thu được 109 loài, trong đó côn trùng và nhện thu được là 54 loài. Những loài
nguy hiểm nhất có 12 loài. Côn trùng cóích (Ky sinh và bắt mồi) thu được là
21 loài, cóý nghĩa nhất là bọ mắt vàng, bọ rùa 18 chấm, ong ký sinh kén
trắng. Nhện bắt mồi thu được 34 loài. Từ kết quả thu được nhận thấy sự tương
quan giữa các loài có hại và có lợi gần như nhau và cho gợi cho chúng ta cóý
thức hơn trong việc sử dụng các biện pháp phòng trừ các loài sâu hại sao cho
vừa đạt hiệu quả phòng trừ tốt mà vẫn bảo vệđược môi trường sinh thái, bảo
vệđược sức khoẻ cộng đồng. ( Kết quả nghiên cứu bước đầu về thành phần
các loài côn trùng và nhện trên vải tại Hà Nội và vùng Phụ cận_ Kỷ yếu hội
thảo quốc gia về khoa học và công nghệ bảo vệ thực vật_NXB Nông nghiệp
2002 ) [274_278].
Với chủ trương của Đảng xoáđói giảm nghèo, phát triển và mở rộng kinh
tế trang trại ổn định trật tự an ninh xã hội vì thế mà diện tích trồng vải ngày
càng tăng dẫn đến mật độ côn trùng hại nhãn vải cũng gia tăng. Mục đích
nghiên cứu phòng trừ thành phần côn trùng hại vải, năm 2003, Nguyễn Xuân
Thành đã nghiên cứu thành phần côn trùng hại nhãn vải và thành phần thiên
địch của chúng ở miền Bắc Việt Nam. Kết quả sau nhiều năm nghiên cứu cho
thấy thành phần côn trùng hại và thiên địch của chúng trên nhãn vải rất phong
Lớp 02- 01 Khoa Công nghệ sinh
học
Phạm Thu Hương Khoá luận tốt nghiệp
phú vàđa dạng. Tổng số loài gây hại hiện đã biết là 99 loài trong đó có 98 loài
côn trùng và 1 loài nhện. Các loài này thuộc 5 bộ sau: Coleoptera,
Lepidoptera, Hemiptera, Homoptera và bộ nhện nhỏ Acarina. Bộ cánh cứng
có 30 loài thuộc 9 họ , chiếm tới 33,33% trong tổng số loài bắt gặp. Bộ
Lepidoptera có 42 loài chiếm 42,42% tổng số loài bắt được. Bộ cánh đều
Homoptera có 6 họ , 11 loài chiếm 11,11%. Bộ cánh nửa Hemiptera có số
lượng ít nhất chỉ có 6 loài trong 4 họ , chiếm tỷ lệ thấp , chỉ có 6,66%. Bộ
nhện nhỏ Acarina thuộc lớp nhện chỉ mới thu được 1 loài, chiếm số lượng
họít nhất trong các loài gây hại . Bọ xít nhãn vải Tessarotoma papillosa Drury
và nhện lông nhung Eriophies litchi Keifer là những đối tượng gây hại nguy
hiểm nhất. Các loài thiên địch của các loài sâu hại vải thuộc lớp côn trùng thu
được 29 loài thuộc 6 bộ Neuroptera, Diptera, Coleoptera, Mantodae,
Hemiptera và Hymenoptera. Bộ nhện lớn bắt mồi trong lớp nhện Arachnida
có 33 loài thuộc 10 họ: Salticidae, Arancidae, Tetragnathidae, Tromicidae,
Oxypidae, Clubionidae, Lycosidae, Heteropodidae, Linyphiidae, Theridiidae.
(Thành phần côn trùng hại nhãn vải và thiên địch của chúng ở miền Bắc
Việt Nam. Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia bảo vệ thực vật –Phục vụ chủ
trương chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung_
NXB Nông nghiệp 2003) [53_56].
Trong năm 2003, Nguyễn Xuân Thành và Phạm Quỳnh Mai dã nghiên
cứu ong ký sinh trứng bọ xít nhãn vải vàảnh hưởng của các yếu tố sinh thái
đến chúng. Kết quả nghiên cứu sau nhiều năm cho thấy có hai loài ong ký
sinh trứng bọ xít nhãn Tessaratoma papillosa Drury, đó là ong đen nhảy
Ooencyrtus fongi Tryapizin thuộc họ Encyrtidae và ong xanh Anastatus aff
Japonicus thuộc họ Eupelmidae. Cả hai loài ong này song song tồn tại trong
suốt thời gian Bọ xít đẻ trứng. Ong Ooencyrtus fongi xuất hiện sớm hơn và có
tỷ lệ cao hơn nhiều so với ong xanh Anastatusaff. Ong xanh Anastatus aff
không những có khả năng tiêu diệt trứng bọ xít nhãn mà còn có thể tiêu diệt
trứng bọ xít xanh vòi dài hại cây có múi Rhynchocoris humeralis Thunberg.
Lớp 02- 01 Khoa Công nghệ sinh
học
Phạm Thu Hương Khoá luận tốt nghiệp
Các yếu tố môi trường tác động trực tiếp đến thời gian xuất hiện và tỷ lệ ký
sinh của cả hai loài ong này đó là thời tiết cuối đông đầu xuân và việc sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật. Vì vậy cả hai loài ong này có vai trò quan trọng trong
việc điều hoà mật độ chủng quần trứng bọ xít nhãn vải. (Viện Sinh thái vầ Tài
nguyên Sinh vật , Trung tâm KHTN&CNQG. Ong ký sinh trứng bọ xít nhãn
vải và các yếu tốảnh hưởng đến chúng.Những vấn đề nghiên cứu trong khoa
học sự sống - NXB khoa học và kỹ thuật Huế 25-26/7/2003)[742_745].
Năm 2004, Nguyễn Xuân Thành cho biết trên cây nhãn vải đã thu được 17
loài bướm thuộc phân họ Ophiderinae, họ bướm đêm Noctuidae , bộ cánh
phấn Lepidoptera. Dựa vào cấu trúc của vòi châm , vòi hoá sừng hoặc không
ta có thể chia ra làm hai nhóm: Nhóm đầu vòi hút hoá sừng có khả năng
xuyên thủng vỏ quảđể hút dịch. Nhóm thứ hai gồm những loài có vòi không
kitin hoá. Chúng chuyên hút dịch ở các quả bị thương do loài khác hoặc do
thiên tai gây ra. Nhóm thứ hai đại diện là hai loài chuyên sinh sản, phát triển
và phá hoại trên cây nhãn vải. Sâu xanh bướm vàng xám Oxyodes
scrobiculata Fabr. làđối tượng sâu hại nguy hiểm cho các vùng trồng vải
thiều. Chúng gây hại cho vải nhất là lộc non làm ảnh hưởng đến năng xuất và
chất lượng vải. Thiên địch của sâu xanh bướm vàng xám gồm các loài thuộc
bọ xít cổ ngỗng Raduviidae (Sycanus bifidus, S. croceovitatus vàS. faleni). Họ
bọ xít 5 cạnh Pentatomidae(C. furcellata) và ong ký sinh kén trắng chùm
Cotestia sp. Tỷ lệ ký sinh của hai loài ong này trung bình là 32%, vì vậy nó có
vai trò quan trọng đáng kể trong việc điều chỉnh mật độ chủng quần của loài
này. (Những đặc điểm quan trọng của loài bướm đêm hại cây ăn quả thuộc
phân họ Ophiderinae, Noctuidae, Lepidoptera trên miền Bắc Việt Nam_
Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống Thái Nguyên
23/9/2004 - NXB Khoa học kỹ thuật )[630_632].
Năm 2005, Nguyễn Xuân Thành và Hồ Thị Thu Giang đã thu thập và
phân loại được 6 loài sâu cuốn lá vải thuộc họ Tortricidae bao gồm: 1.
Adoxophyes fasciata Wals, 2. Adoxophyes syrtosema Meyris, 3.
Lớp 02- 01 Khoa Công nghệ sinh
học
Phạm Thu Hương Khoá luận tốt nghiệp
Archipseucroca Diakonoff, 4. Argyroplose apropola Meyrick, 5.
Homonacoffearia Meyrick, 6. Olethreutes leucaspis Meyrick. Trong
đóArchipeucroca Diakonoff vàOlethreutes leucaspis Meyrick là hai loài có
mật độ lớn nhất, xuất hiện gần như quanh năm, phá hoại nặng lá non, ảnh
hưởng đến sự quang hợp của cây. Qua nghiên cứu cho thấy Archips eucroca
có trứng màu vàng nhạt được đẻ thành từng ổ, xếp trên lá, tỷ lệ trứng nở trên
80%, thời gian phát triển trên 7 ngày, tỷ lệ sống của ấu trùng trên 70%, thời
gian phát triển trung bình 19 ngày. Thời gian của nhộng kéo dài trung bình
6,5 ngày, tỷ lệ vũ hoá 67%. Bướm sống trung bình từ 3-7 ngày . Sau khi vũ
hoá 1-2 ngày bứơm bắt đầu đẻ trứng, số lượng trứng đẻ cao nhất được 359
quả, thấp nhất 52 quả, trung bình 146 quả . Trong 4 ngày đầu trứng được đẻ
nhiều, cao nhất vào ngày thứ 2. Trong mùa xuân mật độ sâu cao nhất vào cuối
tháng 3 đến đầu tháng 4. (Thành phần sâu cuốn lá vải (Tortricidae,
Lepidoptera) ở miền Bắc Việt Nam vàđặc điểm sinh học sinh thái của Archip
eucroca Diakonoff. Báo cáo khoa học hội nghị côn trùng học toàn quốc lần
thứ 5 Hà Nội, 11_12/4/2005. NXB Nông nghiệp 2005 )[219_224].
Cũng trong năm 2005, Nguyễn Xuân Thành và Kiều Thu Thuỷ nghiên cứu
đặc điểm sinh học, sinh thái của bọ xít bắt mồi Sycanus bifidus Fabr.
(Reduviidae- Hemiptera) ở một số vùng trồng điều của miền Trung (Bình
Định, Quảng Ngãi) và trung du, miền núi của miền Bắc nơi trồng vải thiều.
Kết quả nghiên cứu cho thấy bọ xít bắt mồi Sycanus bifidus tiêu diệt các loài
sâu thuộc bộ cánh vảy Lepidoptera nhưấu trùng sâu xanh nhả tơ quấn tổ hại
điều, ấu trùng sâu xanh bướm vàng xám Oxyodes scrobiculata Khả năng tiêu
thụ mồi của loài bướm này khá lớn 24-25 ấu trùng Oxyodes scrobiculata.
Nhiệt độ vàẩm độảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển của loài bọ xít bắt mồi
Sycanus bifidus. Điều kiện thời tiết tốt nhất cho bọ xít bắt mồi này phát triển
là : nhiệt độ 25-30°C vàẩm độ 70-80%. Khả năng tiêu diệt côn trùng của bọ
xít bắt mồi Sycanus bifitusđã mở ra hướng phát triển mới của nền nông nghiệp
Việt Nam, nếu chúng ta biết khai thác và bảo vệ loài côn trùng thiên địch nói
Lớp 02- 01 Khoa Công nghệ sinh
học
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét