Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Kế toán nghiệp vụ bán hàng ở C.ty TM & dịch vụ Tổng hợp Hà Nội

bán hàng. Hoạt động đó không phải là căn cứ để thu tiền mà để tổng hợp
lập báo cáo.
Lợng hàng Lợng hàng Lợng hàng Lợng hàng
bán ra trong = tồn đầu + trong ca , _ còn lại cuối
ca, ngày ca, ngày ngày ca, ngày
b.Bán hàng thu tiền tập trung
Theo hình thức này hai nhiệm vụ bán hàng và thu tiền hàng đợc
tách rời nhau. Nhân viên thu ngân có nhiệm vụ viết hoá đơn và tích kê thu
tiền giao cho khách hàng để khách đến nhận hàng tại quầy do nhân viên
bán hàng giao. Hết ca hoặc định kỳ nhân viên bán hàng lập báo cáo bán
hàng (đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp)
hoặc bảng kê bán lẻ ( đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phơng
pháp khấu trừ). Ưu điểm của phơng pháp này là khắc phục đợc những lầm
lẫn, mất mát và các hiện tợng tiêu cực nhng có nhợc điểm lớn là thủ tục
phức tạp gây phiền hà cho khách.
Trong bán lẻ các doanh nghiệp thơng mại còn sử dụng một số ph-
ơng pháp bán hàng khác nh: Bán hàng bằng máy, bán hàng tự phục
vụ( siêu thị), bán theo hình thức đặt hàng
Ngoài ra còn một số hình thức bán hàng khác đang đợc sử dụng :
+ Bán hàng trả góp: bán hàng trả góp cũng là một hình thức bán
hàng trả chậm, đợc áp dụng bán đối với những mặt hàng có giá trị lớn, có
giá trị lâu bền và thời gian sử dụng lâu. Theo cách này sau khi giao hàng
cho ngời mua thì hàng đó đợc coi là tiêu thụ ngay và doanh nghiệp mất
quyền sở hữu về hàng hoá đó. Doanh nghiệp lập hoá đơn bán hàng và hoá
đơn thanh toán để căn cứ giao hàng và nhận tiền lần đầu, phần còn lại
doanh nghiệp chấp nhận trả dần ở kỳ tiếp theo nhng phải chịu một mức lãi
suất nhất định. Thờng số tiền trả ở các kỳ bằng nhau trong đó bao gồm 1
phần doanh thu gốc và một phần lãi suất trả chậm. Phơng thức này giúp
doanh nghiệp khai thác triệt để thị trờng tiềm năng.
+ Bán hàng thông qua các đại lý: Tiêu thụ hàng hoá qua đại lý có
lợi ích to lớn. Ngoài những lợi ích nh trung gian tiêu thụ hàng hoá, khi sử
dụng đại lý doanh nghiệp duy trì đợc sự kiểm soát chặt chẽ đối với giá
bán, tiêu thụ hàng nhanh chóng từ đó quay vòng đợc vốn nhanh. Tuy
nhiên việc sử dụng đại lý cũng có một số hạn chế nh ngời uỷ thác mất sự
liên hệ với thị trờng nên phần nào họ kém nhạy bén với thị trờng, bên cạnh
đó còn chậm thu hồi vốn và lợi nhuận bị chia sẻ.
Trên đây là các phơng thức bán hàng thờng đợc áp dụng trong các
doanh nghiệp thơng mại. Tuy nhiên việc doanh nghiệp áp dụng phơng
pháp bán hàng nào còn phải phụ thuộc vào đặc điểm, qui mô loại hình
kinh doanh của doanh nghiệp. Chọn đúng phơng thức bán hàng sẽ góp
5
phần thu hút đợc khách hàng, đẩy nhanh quá trình bán hàng, nâng cao
doanh số bán, tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp .
4.Phạm vi thời điểm xác định hàng bán
4.1 Phạm vi xác định hàng bán
Điều kiện hàng bán đợc hạch toán vào doanh thu nh sau:
-Hàng hoá phải thông qua mua, bán và thanh toán bằng tiền theo một ph-
ơng thức thanh toán nhất định.
-Doanh nghiệp thơng mại mất quyền sở hữu về hàng hoá, đã thu đợc tiền
hoặc đợc ngời mua chấp nhận nợ.
-Hàng hoá bán ra thuộc diện kinh doanh của doanh nghiệp, do doanh
nghiệp mua vào hoặc sản xuất , chế biến.
Một số trờng hợp ngoại lệ đợc coi là hàng bán nh:
-Hàng hoá xuất để đổi lấy hàng hoá khác, còn gọi là hàng hoá đối lu.
-Hàng hoá xuất để thanh toán tiền lơng, tiền thởng cho công nhân viên,
thanh toán thu nhập, chia cho các bên tham gia liên doanh, thanh toán các
khoản chiết khấu bán hàng, giảm giá cho bên mua.
-Hàng hoá xuất làm quà biếu tặng.
-Hàng hoá xuất dùng trong nội bộ, phục vụ cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp .
-Hàng hoá hao hụt, tổn thất trong khâu bán theo hợp đồng bên mua chịu.
Hàng hoá không đợc coi là hàng bán:
+Hàng mẫu của các cơ sở sản xuất đem gửi bán.
+Hàng xuất gia công, đem đi góp vốn liên doanh .
4.2 Thời điểm bán hàng hoá đợc xác định là tiêu thụ
Trong doanh nghiệp thơng mại, thời điểm ghi chép vào sổ sách kế toán về
bán hàng là thời điểm hàng hoá đợc xác định là tiêu thụ. Thời điểm đó,
quy định theo từng phơng thức, hình thức bán hàng nh sau:
-Bán buôn qua kho, bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng
trực tiếp, thời điểm hàng hoá đợc xác định là tiêu thụ khi đại diện bên mua
ký nhận đủ hàng , đã thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ.
-Bán buôn qua kho, bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển
hàng, thời điểm ghi chép hàng bán là khi thu đợc tiền của bên mua hoặc
bên mua xác nhận đã nhận đợc hàng chấp nhận thanh toán.
-Phơng thức bán lẻ hàng hoá , thời điểm ghi nhận hàng bán là khi nhận đ-
ợc báo cáo của nhân viên bán hàng.
-Phơng thức ký gửi, gửi đại lý, thời điểm ghi nhận hàng bán là khi nhận đ-
ợc tiền của bên nhận đại lý hoặc chấp nhận thanh toán.
6
Tuỳ theo từng phơng thức bán hàng mà thời điểm ghi chép bán hàng khác
nhau nhng đều tuân theo nguyên tắc thời điểm ghi chép bán hàng là thời
điểm chuyển quyền sở hữu , xác định doanh thu.
Từ thời điểm xác định hàng bán, kế toán sẽ ghi doanh thu bán hàng, xác
định kết quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp.
-Doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền thu thực tế sẽ thu về bán hàng hoá,
sản phẩm , cung cấp lao vụ, dịch vụ (kể cả phụ thu và phí thu thêm ngoài
giá bán nếu có)mà doanh nghiệp đã bán cung cấp cho khách hàng.Tuỳ
thuộc vào cách tính thuế hàng hoá mà chỉ tiêu doanh thu bán hàng có sự
khác biệt.
+Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ thì chỉ
tiêu doanh thu là toàn bộ số tiền thu thực tế sẽ thu về bán hàng hoá, sản
phẩm , cung cấp lao vụ, dịch vụ.
+Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp cũng
nh các đối tợng không chịu thuế GTGT( đối tợng chịu thuế xuất khẩu ,
thuế tiêu thụ đặc biệt) thì chỉ tiêu doanh thu bao gồm cả thuế nộp về hàng
tiêu thụ( tổng giá thanh toán)
-Tổng số doanh thu bán hàng sau khi trừ các khoản giảm giá, hàng bán bị
trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu đợc gọi là doanh thu thuần.
-Đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tợng nộp thuế GTGT theo phơng pháp
khấu trừ thì giá vốn hàng bán của hàng hoá mua vào là giá mua thực tế cha
có thuế GTGT đầu vào và chi phí phát sinh trong khâu mua.
-Đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tợng nộp thuế GTGT theo phơng pháp
trực tiếp và các đối tợng không thuộc đôí tợng nộp thuế GTGT thì giá vốn
hàng bán của hàng hoá , dịch vụ mua vào là tổng giá thanh toán (bao gồm
cả thuế GTGT đầu vào) và chi phí phát sinh trong khâu mua.
Lợi nhuận gộp bằng doanh thu trừ đi giá vốn hàng bán.
5.Giá bán của hàng bán
Gýa bán hàng hoá đóng vai trò quan trọng trọng quá trình tiêu thụ hàng
hoá, giúp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh trong nền kinh tế thị tr-
ờng . Việc xác định giá cả hàng hoá phải thoả mãn đợc các yêu cầu bù đắp
đợc các khoản chi phí và đem lại cho doanh nghiệp một khoản lợi nhuận,
nhng đồng thời nó cũng phải đợc ngời mua chấp nhận có nghĩa là giá bán
hàng hoá chính là giá thoả thuận giữa ngời mua và ngời bán, đợc ghi trên
hoá đơn và trong các hợp đồng mua bán.
Giá bán của hàng hoá đợc xác định bằng gía mua cộng với một phần bù
đắp chi phí và hình thành khoản lãi nhất định, phần đó đợc gọi là Thặng
số thơng mại.
7
Trong đó:
Để đa ra đợc giá bán hàng hoá hợp lý doanh nghiệp phải xác định gía vốn
hàng bán để làm căn cứ tính giá bán của hàng hoá đồng thời ghi sổ cuối
kỳ xác định hiệu quả của hoạt động kinh doanh. Việc xác định đợc giá
vốn hàng bán, tuỳ thuộc vào yêu cầu của công tác quản lý, cách đánh giá
hàng hoá phản ánh trong tài khoản và sổ sách kế toán mà các doanh
nghiệp vận dụng các phơng pháp tính cho phù họp.
Phơng pháp tính giá thực tế của hàng hoá xuất kho
Hàng hoá nhập, xuất, tồn kho theo quy định đợc tính theo giá trị giá thực
tế. Trị giá thực tế của hàng hoá mua vào đợc tính theo từng nguồn nhập
bao gồm trị giá mua của hàng và chi phí mua. Trị giá vật t hàng hoá phản
ánh trên các tài khoản thuộc nhóm hàng tồn kho phải đánh gía theo
nguyên tắc giá thực tế đợc quy định cụ thể cho từng loại vật t hàng hoá
theo từng nguồn nhập và thời điểm tính giá. Kế toán có nhiệm vụ xác
định trị giá thực tế của vật t hàng hoá xuất kho. Việc tính giá thực tế hàng
xuất có thể áp dụng các phơng pháp:
a. Phơng pháp giá thực tế bình quân gia quyền
* Phơng pháp bình quân cả kỳ dự trữ
Theo phơng pháp này hàng hoá xuất kho cha đợc ghi sổ, cuối tháng căn
cứ vào số đầu kỳ và nhập trong kỳ, kế toán tính đợc đơn giá bình quân của
hàng hoá. Từ đó tính đợc giá thực tế của hàng hoá xuất kho.
Công thức:
Trong đó đơn giá bình quân đợc tính bởi công thức:
8
Giá bán = Giá vốn hàng bán + Thặng số thơng mại
Thặng sô thơng mại = Giá vốn hàng bán x Tỷ lệ % thặng số
Giá thực tế hàng Số lợng hàng Đơn gía
xuất kho = hoá xuất kho x bình quân

Đơn Trị giá hàng hoá Trị giá hàng hoá
giá tồn kho đầu kỳ + nhập kho trong kỳ
bình =
quân Số lợng hàng hoá Số lợng hàng hoá
tồn kho đầu kỳ + nhập kho trong kỳ


Với phơng pháp này giá hàng hoá xuất kho tiêu thụ đợc tính tơng đối hợp
lý, nhng không linh hoạt vì phải đợi đến cuối tháng mới tính đợc giá bình
quân.
* Phơng pháp bình quân sau mỗi lần nhập( bình quân liên hoàn)
Theo phơng pháp này đơn giá bình quân đợc xác định trên cơ sở giá thực
tế hàng hoá tồn đầu kỳ và đơn giá thực tế hàng hoá của từng lần nhập
trong kỳ. Ưu điểm của phơng pháp này là giá bình quân có thể đợc xác
định ngay sau mỗi lần nhập.
* Phơng pháp bình quân cuối tháng trớc
Giá thực tế hàng hoá xuất kho đợc tính trên cơ sở số lợng hàng hoá xuất
kho và giá trị thực tế bình quân cuả một đơn vị hàng hoá cuối kỳ trớc.
Trong đó:
Với phơng pháp này giá thực tế của hàng hoá xuất kho có thể xác định bất
kỳ thời điểm nào trong niên độ. Tuy nhiên nếu giữa 2 biên độ giá cả có
biến động lớn thì việc tính giá hàng hoá xuất kho là không chính xác.
b. Phơng pháp giá thực tế nhập trớc xuất trớc( FIFO)
Phơng pháp này đòi hỏi xác định giá thực tế nhập kho của từng lần nhập.
Hàng hoá nhập trớc thì xuất trớc theo đúng đơn giá từng lần nhập tơng
ứng, xuất hết hàng thì mới xuất hàng của kỳ tiếp theo.
9
Trị giá thực Số lợng Đơn giá bình quân1
tế hàng hoá = hàng hoá x đơn vị hàng hoá
xuất kho xuất kho kỳ trớc

Đơn giá bình quân Giá trị hàng hoá cuối kỳ trớc
1 đơn vị hàng hoá =
cuối kỳ trớc Số lợng hàng hoá cuối kỳ trớc
Công thức tính nh sau:
Đây là một phơng pháp tính giá hợp lý vì với mỗi doanh nghiệp hàng hoá
mua trớc cần phải xuất bán trớc, hàng mua sau bán sau sẽ tránh đợc lỗi
thời hay, kém phẩm chất, hỏng hóc trong thời gian bảo quản tại kho. Việc
áp dụng phơng pháp này khi giá cả hàng hoá đang tăng sẽ làm giá trị của
hàng tồn kho cuối kỳ tăng cao hơn so vơí phơng pháp tính giá bình quân
nên làm cho trị giá vốn của hàng bán sẽ nhỏ hơn so với phơng pháp bình
quân. Phơng pháp nhập trớc xuất trớc phản ánh chính xác giá trị của hàng
tồn kho thực tế vì gía trị hàng tồn kho cuối kỳ sẽ đợc căn cứ vào thời giá
lúc lập báo cáo kế toán. Phơng pháp này có thể áp dụng cho bất kỳ doanh
nghiệp nào mặc dù trên thực tế sự vận động của hàng hoá không theo trật
tự nhập trớc xuất trớc.
c. Phơng pháp nhập sau xuất trớc (LIFO).
Với giả thiết hàng hoá xuất bán đợc coi là hàng hoá mua vào sau cùng và
hàng tồn kho đợc coi là đã mua từ lâu có nghĩa là hàng mua sau sẽ đợc bán
trớc tiên. Tuy nhiên trên thực tế doanh nghiệp thờng sẽ bán lô hàng nhập
trớc và sử dụng giá của lô hàng nhập sau.
Công thức tính nh sau:
d. Phơng pháp tính giá thực tế đích danh.
Theo phơng pháp này hàng hoá xuất khô thuộc lô hàng nào thì sẽ đợc tính
theo đơn giá thực tế của từng lô hàng nào thì sẽ đợc tính theo giá thực tế
của lô hàng đó, chính vì vậy nó phản ánh rất chính xác giá của từng lô
hàng xuất bán nhng công việc ghi chép sổ sách phức tạp và đòi hỏi ngời
quản lý phải nắm đợc chi tiết từng lô hàng.Phơng pháp này thờng đợc áp
dụng cho các loại hàng hoá có giá trị cao đợc bảo quản riêng theo từng lô
hàng của mỗi lần nhập.
6. Phơng pháp phân bổ chi phí thu mua cho hàng bán ra
10

Giá hàng hoá Giá hàng hoá Số lợng hàng hoá
Thực tế xuất = nhập kho theo x xuất kho trong kỳ
Kho trong kỳ từng lần nhập theo từng lần nhập

Giá hàng hoá Giá mua thực tế đơn Số lợng hàng xuất
thực tế xuất = vị hàng hoá nhập kho x kho trong kỳ theo
kho trong kỳ theo từng lần nhập sau từng lần nhập
Khi mua hàng phát sinh các khoản chi phí thu mua, chi phí này liên quan
đến cả hàng đã tiêu thụ và hàng còn lại nên để xác định chính xác kết quả
kinh doanh cần phân bổ chi phí thu mua cho hàng tiêu thụ theo tiêu thức
phù hợp( phân bổ theo doanh thu, theo trị giá mua của hàng bán, theo số
lợng , trọng lợng )
Công thức phân bổ chi phí thu mua:
Chi phí thu Chi phí
mua phân bổ thu mua
Chi phí thu cho hàng tồn + phát sinh
mua phân kho trong kỳ trong kỳ Trị giá
bổ cho hàng = x hàng hoá
hoá bán ra Trị giá Trị giá xuất bán
trong kỳ hàng hoá hàng hoá trong kỳ
tồn kho nhập kho
trong kỳ trong kỳ
Chi phí thu mua phân bổ cho hàng tồn kho đợc tính theo công thức:
Chi phí thu Chi phí thu Chi phí thu Chi phí
mua phân = mua phân bổ + mua phân bổ - thu mua
bổ cho hàng cho hàng tồn cho hàng bán phát sinh
tồn kho kho đầu kỳ ra trong kỳ trong kỳ
7. Các phơng thức thanh toán
a. Thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt
Là hình thức thanh toán trực tiếp với ngời mua. Khi nhận đợc hàng hoá thì
bên mua xuất tiền mặt ở quỹ trả trực tiếp cho ngời bán. Thanh toán trực
tiếp giữa ngời bán và ngời mua có thể tiến hành bằng đồng ngân hàng Việt
Nam, ngoại tệ, vàng bạc đá quý.
b. Thanh toán không dùng tiền mặt
Là hình thức thanh toán đợc thực hiện bằng cách chuyển tiền từ tài khoản
của doanh nghiệp hoặc thanh toán bù trừ giữa các doanh nghiệp thông qua
cơ quan trung gian là ngân hàng.
Có nhiều hình thức thanh toán không dùng tiền mặ, vận dụng hình thức
nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh doanh và mức độ tín nhiệm lẫn nhau
của các doanh nghiệp. Thanh toán không dùng tiền mặt gồm:
* Thanh toán bằng séc: Séc là chứng từ thanh toán do chủ tài khoản lập
trên mẫu in sẵn của ngân hàng, theo yêu cầu ngân hàng trích tiền từ tài
khoản của mình trả cho ngời đợc hởng có tên trong tờ séc. Séc chỉ đợc
11
phát hành khi có số d. Séc thanh toán gồm séc chuyển khoản, séc bảo chi,
séc và sổ séc định mức.
Séc chuyển khoản là séc đợc dùng để thanh toán về mua bán hàng hoặc
dịch vụ cung ứng giữa các đơn vị trong cùng địa phơng ngân hàng. Séc
này chỉ có tác dụng để thanh toán chuyển khoản, không có giá trị lĩnh tiền
mặt. Séc phát hành chỉ có giá trị trong thời hạn quy định.
Séc bảo chi là séc chuyển khoản đợc ngân hàng bảo đảm khả năng chi trả
số tiền ghi trên tờ séc đó khi phát hành séc. Đơn vị phát hành đem đến
ngân hàng để đóng dấu bảo chi sau đó chuyển cho đơn vị thụ hởng .
Nếu nh séc chuyển khoản đợc áp dụng giữa hai đơn vị mua bán hoàn toàn
tín nhiệm lẫn nhau thì ngợc lại séc bảo chi đợc sử dụng rộng rãi trong tr-
ờng hợp đơn vị mua bán không tín nhiệm lẫn nhau.
Séc và sổ séc định mức : vì nhợc điểm của séc bảo chi là không chủ động
đối với ngời mua và mất thời gian đối với đơn vị bán nên có một hình thức
thanh toán khác khắc phục đợc những nhợc điểm này đó là séc và sổ séc
định mức- là loại séc chuyển khoản đợc ngân hàng bảo đảm khả năng chi
trả tổng số tiền ghi trong cả quyển séc. Khi phát hành séc đơn vị chỉ đợc
phát hành trong phạm vi hạn mức mà ngân hàng đảm bảo chi. Mỗi lần
phát hành séc bảo chi phải ghi số hạn mức còn lại cha chi vào tờ sau của
séc, đơn vị bán hàng phải kiểm tra hạn mức còn lại của quyển séc.
* Thanh toán bằng uỷ nhiệm thu
Theo hình thức thanh toán này, đơn vị bán sau khi xuất chuyển hàng hoá
cho đơn vị mua thì lập uỷ nhiệm thu gửi tới ngân hàng nhờ thu hộ. số tiền
bán hàng. Ngân hàng bên mua khi nhận đợc chứng từ( uỷ nhiêm thu) và sự
đồng ý của bên mua sẽ trích tiền từ tài khoản tiền gửi của bên mua trả cho
bên bán thông qua ngân hàng phục vụ bên bán. Hình thức này áp dụng
trong các đơn vị có tín nhiệm lẫn nhau và thờng xuyên giao dịch với nhau.
* Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi
Là hình thức thanh toán mà sau khi hàng hoá đợc chuyển giao hoặc dịch
vụ đã cung ứng giữa hai bên mua và bán, ngời mua lập uỷ nhiệm chi yêu
cầu ngân hàng trích từ tài khoản tiền gửi của mình một số tiền nhất định
trả cho bên thụ hởng.
* thanh toán bù trừ
Trong hình thức thanh toán bù trừ đơn vị vừa là ngời mua đồng thời vừa là
ngời bán. Nội dung của phơng thức là định kỳ theo kế hoạch các bên chủ
động cung ứng hàng hoá dịch vụ cho nhau, cuối kỳ báo cho ngân hàng
biết , ngân hàng sẽ tổ chức bù trừ giữa các bên . Các bên tham gia thanh
toán bù trừ chỉ nhận đợc ( hoặc phải chi trả) số chênh lệch sau khi đã bù
trừ.
*Thanh toán bằng th tín dụng và tài khoản đặc biệt.
Th tín dụng là lệnh của ngân hàng phục vụ bên mua đối với ngân hàng bên
bán yêu cầu ngân hàng bên bán tiến hành trả tiền cho đơn vị bán về số
12
hàng hoá đã chuyển giao của đơn vị bán cho đơn vị mua theo hợp đồng.
Hình thức này áp dụng đối với các đơn vị không tín nhiệm lẫn nhau và
không cùng địa phơng ngân hàng.
Tài khoản đặc biệt Là hình thức mà đơn vị mua đợc phép của ngân hàng
phục vụ đơn vị mình chuyển tiền đến ngân hàng địa phơng khác mở tài
khoản riêng của đơn vị để thanh toán tiền hàng cho đơn vị bán.
Thanh toán không dùng tiền mặt có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm
sự an toàn trong vốn bằng tiền mặt của đơn vị, chống tham ô, lãng phí,
chống lạm phát, ổn định giá cả góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển .
c. Thanh toán bằng nghiệp vụ ứng trớc tiền hàng
Nếu nh thanh toán trực tiếp và thanh toán qua ngân hàng ngời bán chỉ
nhận đợc tiền khi chuyển hàng hoá cho đơn vị mua thì ngợc lại thanh toán
bằng nghiệp vụ ứng trớc tiền hàng đơn vị bán sẽ nhận đợc tiền trớc khi
xuất chuyển hàng cho đơn vị mua. Tuy nhiên số tiền ứng trớc này chỉ bằng
1/2 đến 1/3 trị giá hàng hoá xuất bán. Số tiền còn lại sẽ đợc thanh toán
sau khi đơn vị bán cung ứng hàng. Nghiệp vụ ứng trớc, ngời bán nhận đợc
tiền trớc khi chuyển quyền sở hữu về hàng hoá cho đơn vị mua. Hình thức
này thờng áp dụng đối với những đơn vị kinh doanh những mặt hàng có
giá trị lớn, số lợng hàng hoá cung ứng không nhiều hoặc đơn vị bán gặp
khó khăn về tài chính thì đơn vị mua giúp đỡ dới hình thức ứng trớc.
II. Phơng pháp kế toán nghiệp vụ bán hàng trong
các Doanh Nghiệp thơng mại.
1. Phơng pháp hạch toán ban đầu.
Hạch toán ban đầu là quá trình ghi chép phản ánh các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh vào các chứng từ kế toán và sử dụng các chứng từ này phục vụ
cho hạch toán tổng hợp và hạch toán chi tiết.
- Đối với nghiệp vụ bán buôn hàng hoá chứng từ ban đầu sử dụng gồm:
Hoá đơn thuế GTGT, hoá đơn bán hàng.
Hoá đơn GTGT ghi rõ phần giá bán cha có thuế và thuế GTGT, tổng giá
thanh toán (đối với doanh nghiệp áp dụng thuế GTGT theo phơng pháp
khấu trừ)
Hoá đơn bán hàng ghi rõ tổng giá thanh toán gồm cã giá bán và thuế
GTGT (đối với doanh nghiệp áp dụng thuế GTGT theo phơng pháp trực
tiếp).
Ngoài ra để hạch toán việc thu hồi tiền bán hàng còn có: Phiếu thu, bảng
kê nộp séc, uỷ nhiệm chi
- Đối với nghiệp vụ bán lẻ chứng từ đợc sử dụng là hoá đơn thuế GTGT,
hoá đơn bán hàng hoặc bảng kê bán lẻ hàng hoá đối với những mặt hàng
không thuộc diện lập hoá đơn bán hàng, báo cáo bán hàng, giấy nộp tiền,
giấy chấp nhận nợ
- Đối với nghiệp vụ bán đại lý chứng từ ban đầu sử dụng là bảng kê thanh
toán hàng đại lý (ký gửi), phiếu thu hoá đơn thuế GTGT
13
-Đối với nghiệp vụ bán trả góp chứng từ ban đầu sử dụng là hoá đơn bán
hàng, hoá đơn GTGT, giấy chấp nhận thanh toán
2. Kế toán tổng hợp nghiệp vụ bán hàng.
Hạch toán tổng hợp chính là việc sử dụng hệ thống tài khoản kế toán để
phản ánh các nghiệp vụ phát sinh, là căn cứ để đa vào các sổ tổng hợp.
2.1 Tài khoản sử dụng .
Kế toán bán hàng sử dụng các tài khoản:
156,157,632,511,512,531,532,333,133,911.
Các tài khoản này có kết cấu và nội dung nh sau:
a. Tài khoản 156 Hàng hoá .
- Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động
của hàng hoá trong kho của doanh nghiệp.
- Tài khoản 156 có số d bên nợ phản ánh :
Trị giá mua vào của hàng hoá tồn kho.
Chi phí mua hàng phân bổ cho hàng tồn kho cuối kỳ.
- Tài khoản 156 có hai Tài khoản cấp 2:
Tài khoản 1561 Giá mua hàng hoá .
Tài khoản 1562 Chi phí thu mua hàng hoá .
- Tài khoản này có nội dung và kết cấu nh sau:
Nợ 156 Có
14

Đấu tranh giai cấp

lời mở đầu
Trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị chiếm đoạt lao động của các
giai cấp và tầng lớp bị trị, chiếm đoạt của cải xã hội vào tay mình. Các giai cấp,
tầng lớp bị trị không những bị chiếm đoạt kết quả lao động mà họ còn bị áp bức
về chính trị, xã hội và tinh thần. Không có sự bình đẳng giữa giai cấp thống trị
và giai cấp bị trị, chẳng hạn giữa giai cấp các nhà t bản với giai cấp những công
nhân làm thuê. Giai cấp bóc lột bao giờ cũng dùng mọi biện pháp và phơng tiện
bảo vệ địa vị giai cấp của họ, duy trì củng cố kinh tế xã hội cho phép họ đợc h-
ởng những đặc quyền, đặc lợi giai cấp. Công cụ chủ yếu là quyền lực nhà nớc.
Lợi ích cơ bản của giai cấp bị trị đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị.
Đây là đối kháng về quyền lợi giữa những giai cấp áp bức bóc lột và những giai
cấp, tầng lớp bị áp bức, bị bóc lột.
Đối kháng là nguyên nhân của đấu tranh giai cấp. Có áp bức thì có đấu
tranh chống áp bức. Vì vậy đấu tranh giai cấp không do một lý thuyết xã hội
nào tạo ra mà là hiện tợng tất yếu không thể tránh đợc trong xã hội có áp bức
giai cấp.
Đấu tranh giai cấp là một trong những động lực thúc đẩy sự vận động và
phát triển của xã hội có sự phân chia giai cấp.
Chơng I. Giai cấp
I. Giai cấp là gì?
Chủ nghĩa duy vật lịch sử chỉ ra rằng, các giai cấp xã hội hình thành một
cách khách quan gắn liền với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của
sản xuất. Trong tác phẩm "Sáng kiến vĩ đại", Lê Nin đã đa ra định nghĩa về giai
cấp nh sau:
"Ngời ta gọi là giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những ngời khác
nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch
sử, khác nhau về quan hệ của họ (thờng thì những quan hệ này đợc pháp luật
quy định và thừa nhận) đối với những t liệu sản xuất, về vai trò của họ trong
những tổ chức lao động xã hội, và nh vậy là khác nhau về cách thức hởng thụ và
về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ đợc hởng. Giai cấp là những tập
đoàn ngời mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác,
do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất
định.
II. Nguồn gốc và kết cấu giai cấp.
1. Nguồn gốc giai cấp.
Trong xã hội có nhiều nhóm ngời, tập đoàn ngời đợc phân biệt bằng
những đặc trng khác nhau: tuổi tác, giới tính, dân tộc, chng tộc, quốc gia, nghề
nghiệp Trong những sự khác nhau đó, có một số là do nguyên nhân tự nhiên,
một số khác là do nguyên nhân xã hội. Những sự khác biệt đó tự nó không sản
sinh ra sự đối lập về xã hội. Chỉ trong những điều kiện xã hội nhất định mới dẫn
đến sự phân chia xã hội thành những giai cấp khác nhau. Chủ nghĩa duy vật lịch
sử khẳng định sự phân chia xã hội thành giai cấp là do nguyên nhân kinh tế.
Sản xuất xã hội dần dần phát triển, việc sử dụng công cụ bằng kim loại
làm cho năng suất lao động tăng lên đã dẫn tới sự phân công lại lao động trong
xã hội: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, sản xuất thủ công cũng dần dần trở thành
một ngành tơng đối độc lập với nông nghiệp, lao động trí óc tách khỏi lao động
chân tay. Với lực lợng sản xuất mới, chế độ làm chung, ăn chung nguyên thủy
2
không còn thích hợp nữa, sản xuất gia đình cá thể trở thành hình thức sản xuất
có hiệu quả hơn. T liệu sản xuất và sản phẩm làm ra trở thành tài sản riêng của
từng gia đình. Sở hữu t nhân về t liệu sản xuất xuất hiện và dần dần thay thế sở
hữu cộng đồng nguyên thuỷ. Chế độ t hữu ra đời dẫn tới sự bất bình đẳng về t ài
sản trong nội bộ công xã. Xã hội phân hoá thành những giai cấp khác nhau, giai
cấp bóc lột thống trị và giai cấp bị bóc lột, bị thống trị. Nh vậy, sự phân chia xã
hội thành giai cấp là kết quả tất nhiên của chế độ kinh tế dựa trên sự chiếm hữu
t nhân về t liệu sản xuất.
Sự hình thành giai cấp diễn ra theo hai con đờng:
- Thứ nhất, sự phân hoá bên trong nội bộ công xã thành kẻ bóc lột và ng-
ời bị bóc lột.
- Thứ hai, những tù binh bị bắt trong chiến tranh giữa các bộ lạc không bị
giết nh trớc mà bị biến thành nô lệ.
Chế độ có giai cấp đầu tiên trong lịch sử xã hội loài ngời là chế độ chiếm
hữu nô lệ, tiếp theo là chế độ phong kiến, chế độ t bản chủ nghĩa là bớc phát
triển cuối cùng và cao nhất của xã hội có giai cấp.
2. Kết cấu giai cấp.
Trong xã hội có giai cấp, mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một kết
cấu giai cấp nhất định. Khi hình thái kinh tế - xã hội này thay thế hình thái kinh
tế - xã hội khác, kết cấu giai cấp cũng thay đổi.
Mỗi kết cấu giai cấp trong xã hội có giai cấp đều có các giai cấp cơ bản
và không cơ bản. Những giai cấp cơ bản là những giai cấp xuất hiện và tồn tại
gắn liền với phơng thức sản xuất thống trị của xã hội. Sự đối kháng và cuộc đấu
tranh của các giai cấp đó biểu hiện mâu thẫun cơ bản của phơng tứhc sản xuất
đã sinh ra chúng.
Bên cạnh những giai cấp cơ bản, trong kết cấu giai cấp còn có giai cấp
không cơ bản. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, đó là những nông trị do có ít
ruộng đất. Trong xã hội phong kiến, đó có thể là giai cấp nô lệ và chủ nô với t
cách tàn d của xã hội củ; là giai cấp t sản ra đời trong lòng xã hội phong kiến.
3
Trong xã hội t bản, những giai cấp không cơ bản là giai cấp địa chủ với t cách là
tàn d, giai cấp nông dân.
Cùng với sự phát triển sản xuất, mỗi giai cấp trong một kết cấu giai cấp -
xã hội cũng có những biến đổi nhất định. Những sự biến đổi ấy dẫn đến sự thay
đổi địa vị của các giai cấp đó trong hệ thống sản xuất xã hội.
Trong kết cấu của xã hội có giai cấp, ngoài các giai cấp đối kháng còn có
tầng lớp trí thức làm công việc chủ yếu bằng trí óc. Tầng lớp trí thức không phải
là một giai cấp. Nó đợc hình thành từ những giai cấp khác nhau và cũng phục
vụ những giai cấp khác nhau.
Phân tích kết cấu giai cấp và sự biến đổi của nó giúp ta hiểu địa vị, vai trò
và thái độ chính trị của mỗi giai cấp đối với mỗi cuộc vận động lịch sử, đặc biệt
là trong cuộc đấu tranh của thời đại ngày nay.
4
chơng ii. đấu tranh giai cấp.
" Đấu tranh giai cấp là một trong những động lực thúc đẩy sự vận động
và phát triển của xã hội có sự phân chia giai cấp".
Đấu tranh giai cấp thực chất là cuộc đấu tranh giữa những giai cấp mà lợi
ích căn bản đối lập nhau.
Đấu tranh giai cấp là một trong lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội có
giai cấp đối kháng. Điều đo đợc thể hiện trớc hết ở chỗ: Thông qua đấu tranh
giai cấp sự xung đột giữa lực lợng sản xuất mới và quan hệ sản xuất già cỗi đợc
giải quyết, bớc quá độ từ một chế độ xã hội lỗi thời sàng một chế độ mới cao
hơn đợc thực hiên.
Xét đến cùng, nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội loài ngời là
hoạt động sản xuất ra của cải vật chất. Song sự phát triển của sản xuất chỉ diễn
ra khi quan hệ sản xuất còn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản
xuất. Khi quan hệ sản xuất đã lỗi thời thì mâu thuẫn với lực lợng sản xuất, mâu
thuẫn này biểu hiện về mặt xã hội thành mâu thuẫn giữa giai cấp cách mạng đại
biểu cho phơng thức sản xuất mới, với giai cấp bóc lột, thống trị - đại biểu cho
những lợi ích gắn liền với quan hệ sản xuất lỗi thời. Mẫu thuẫn đó chỉ có thể đ-
ợc giải quyết bằng cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp cách mạng và quần
chúng bị bóc lột, mà đỉnh cao của nó là cách mạng xã hội, thay thế quan hệ xã
hội cũ bằng quan hệ sản xuất mới, mở ra địa bàn mới cho sản xuất xã hội phát
triển. Sản xuất xã hội phát triển, đơng nhiên kéo theo sự phát triển của toàn bộ
đời sống xã hội.
Từ khi phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa xuất hiện trên vũ đài lịch sử,
việc xã hội nắm lấy quyền sở hữu toàn bộ t liệu sản xuất đã luôn luôn là một lý
tởng tơng lai mà nhiều cá nhân cũng nh nhiều môn phái trọn vẹn đã từng phảng
phất nhìn thấy ít nhiều lờ mờ ở trớc mắt. Nhng việc chiếm hữu đó chỉ có thể trở
thành một khả năng, trở thành một tất yếu lịch sử, một khi mà các điều kiện vật
chất để thực hiện việc đó đã có sẵn rồi. Cũng nh mọi sự tiến bộ khác của xã hội,
5
việc đó mà có thể thực hiện đợc, thì không phải là do ở chỗ ngời ta đã hiểu rằng
sự tồn tại của giai cấp là trái với chính nghĩa, trái với bình đẳng, không phải
là do ở chỗ chỉ đơn thuần có ý muốn tiêu diệt các giai cấp ấy, mà là do những
điều kiện kinh tế mới nhất định. Tình trạng xã hội phân chia thành một giai cấp
bóc lột và một giai cấp bị bóc lột, thành một giai cấp thống trị và một giai cấp
bị áp bức là một hậu quả tất nhiên của tình trạng phát triển thấp kém của nền
sản xuất trớc kia. Chừng nào tổng số sản phẩm do lao động của xã hội làm ra
chỉ mới cung cấp đợc một số gọi là vợt chút ít cái số thật cần thiết để vừa đủ để
đảm bảo sự sinh sống của mọi ngời mà thôi, chừng nào mà lao động vẫn choán
hết hay hầu hết thời giờ của đại đa số thành viên trong xã hội, thì tất nhiên xã
hội đó phải chia thành gia cấp là điều tất yếu xẩy ra. Khi giai cấp thống trị này,
hay một giai cấp thồng trị khác trở thành một sự lỗi thời, một trạng thái cổ hủ
thì cần phải có một giai cấp mới tiến bộ hơn, phát triển hơn phù hợp với quan hệ
sản xuất mới và diễn ra cuộc đấu tranh giữa những giai cấp này, giai cấp tiến bộ
tất yếu sẽ giành thắng lợi và cứ nh thế thúc đẩy xã hội phát triển đi lên.
C.Mác và Ph.Ăngghen chứng minh rằng, sản xuất vật chất để đáp ứng
nhu cầu tồn tại và phát triển của con ngời và xã hội loài ngời là hành động lịch
sử đầu tiên của con ngời. Tác động biện chứng giữa cải tiến sản xuất với nhu
cầu không ngừng tăng lên là động lực phát triển cơ bản, thờng xuyên của tất cả
xã hội. Sản xuất vật chất bao giờ cũng phát triển trong một quan hệ sản xuất
nhất định. Khi quan hệ sản xuất không còn phù hợp với lực lợng sản xuất, thì nó
trở thành xiềng xích của lực lợng sản xuất, dẫn đến những cuộc khủng hoảng
phá hoại lực lợng sản xuất,. Trong các xã hội có đối kháng giai cấp, những quan
hệ sản xuất lỗi thời không tự động nhờng chỗ cho quan hệ sản xuất mới. Chúng
đợc giai cấp thống trị bảo vệ bằng tất cả sức mạnh chính trị, kinh tế và t tởng,
đặc biệt là bằng bạo lực có tổ chức. Muốn thay đổi quan hệ sản xuất để giải
phóng sức sản xuất phải gạt bỏ lực cản lớn lao ấy. Điều đó chỉ có thể thực hiện
đợc qua đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội. Xuất phát từ quan điểm xem sự
vận động nội tại của phơng thức sản xuất quyết định sự phát triển của toàn bộ
lịch sử xã hội, C.Mác và Ph Ăngghen đã xem đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao là
6
thời kỳ cách mạng, nh đòn bẩy để thay đổi hình thái kinh tế - xã hội do đó "đấu
tranh giai cấp là động lực trực tiếp của lịch sử các xã hội có giai cấp.
Trong xã hội có áp bức giai cấp, đấu tranh giai cấp chăng những cải tạo
xã hội mà còn có tác dụng cải tạo bản thân các giai cấp cách mạng và quần
chúng lao động. Chỉ qua đấu tranh cho tự do, không cam chịu số phận nô lệ, các
giai cấp bị áp bức mới gột sửa đợc tinh thần nô lê và những tập quán xấu do chế
độ ngời áp bức ngời sản sinh ra.
Lịch sử nhân loại đã chứng minh vai trò to lớn của đấu tranh giai cấp
chống áp bức bóc lột. Thời cổ đại nếu không có các cuộc đấu tranh ngày càng
mạnh mẽ của hàng chục vạn nô lệ và tầng lớp bình dân chống giai cấp chủ nô
thì chế độ nô lệ dù đã thối nát cũng không thể sụp đổ. Cuối xã hội phong kiến
các phong trào đấu tranh của nông dân, thợ thủ công, thơng nhân, trí thức do
giai cấp t sản lãnh đạo đã dẫn đến các cuộc cách mạng t sản trong các thế kỷ
XVI, XVII, XVIII làm sụp đổ chế độ phong kiến, đa xã hội chuyển sang thời
đại t sản.
Cuộc đấu tranh giai cấp do giai cấp công nhân tiến hành là cuộc đấu
tranh giai cấp cuối cùng trong lịch sử loài ngời. Nó là phơng tiện tất yếu để giải
phóng chia giai cấp do giai cấp công nhân tiến hành là cuộc đấu tranh giai cấp
cuối cùng trong lịch sử loài ngời. Nó là phơng tiện tất yếu để giải phóng toàn xã
hội khỏi ách áp bức, bóc lột, khỏi sử phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp. Vì
vậy đây là một quá trình đấu tranh rất lâu dài và vô cùng phức tạp. Cuộc đấu
tranh giai cấp phát triển tất yếu dẫn đến cách mạng vô sản. Cuộc cách mạng này
thắng lợi trớc hết ở những khâu yếu nhất của chủ nghĩa t bản, nơi giai cấp công
nhân và các lực lợng cách mạng có nhữgn điều kiện khách quan và chủ quan để
giành chính quyền.
Sau khi giai cấp công nhân dân lao động giành đợc chính quyền, đấu
tranh giai cấp cha biến mất mà tiếp tục diễn ra gay go phức tạp trong điều kiện
mới.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội mục tiêu đấu tranh trực tiếp
của gai cấp công nhân đã thay đổi: từ mục tiêu giành chính quyền chuyển sang
7
mục tiêu cơ bản và chủ yếu là củng cố chính quyền của nhân dân lao động xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội, trọng tâm là xây dựng kinh tế. Giai cấp t sản
đã bị lật đổ, tiến hành cuộc đấu tranh chống cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm
phục hồi chủ nghĩa t bản.
Điều kiện đấu tranh thay đổi, mục tiêu trực tiếp của các giai cấp thay đổi
thì hình thức đấu tranh giai cấp cũng thay đổi. Lênin dã nói: "Trong điều kiện
chuyên chính vô sản, những hình thức đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản
không thể giống nh trớc:
1
Cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa t bant lên chủ
nghĩa xã hội diên xra trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội văn hoá,
t tởng. V.I.Lênin cho rằng chủ nghĩa xã hội chỉ giành đợc thắng lợi triệt để khai
giai cấp công nhân lãnh đạo đông đảo quần chúng nhân dân xây dựng thành
công phơng thức sản xuất mới, bảo đảm chủ nghĩa xã hội tạo ra đợc năng suất
lao động cao hơn chủ nghĩa t bản. Mục tiêu này cha đợc thực hiện thì khả năng
phục hồi chủ nghĩa t bản vẫn còn rất lớn. Các thế lực t bản quốc tế ra sức ngăn
cản giai cấp công nhân đã nắm chính quyền xây dựng thành công chủ nghĩa xã
hội bằng nhiều phơng tiện và thủ đoạn từ bao vây, cấm vận, can thiệp quân sự
đến "diễn biến hoà bình". Để xây dựng chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân và
nhân dân lao động phải làm thất bại các thủ đoạn nói trên.
Trong điều kiện đã nắm đợc chính quyền, giai cấp công nhân phải sử
dụng tổng hợp, linh hoạt các hình thức đấu tranh mới, trong đó có đấu tranh
bằng bạo lực và bằng hoà bình, bằng giáo dục thuyết phục và bằng hành chính,
pháp chế, bằng chính trị, quân sự và bằng kinh tế, bằng cải tạo các quan hệ cũ
đã lỗi thời và xây dựng các quan hệ mới đúng quy luật; bằng liên minh giữa giai
cấp công nhân với các giai cấp, tầng lớp lao động và các tầng lớp trung gian
khác; bằng sử dụng giai cấp t sản để xây dựng chủ nghĩa xã hội, v.v Cuộc
đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội lâu dài, gay go phức tạp nh thế nào tuỳ theho điều
kiện lịch sử cụ thể. ở Liên Xô cũ và các nớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũ, các
lực lợng chống chủ nghĩa xã hội đã lợi dụng tình hình khủng hoảng của chủ
1
1. V.I.Lênin: Toàn tập, NXB. Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, t.39, tr.298
8
nghĩa xã hội, nhất là lợi dụng những sai lầm nghiêm trọng của các đảng cộng
sản cầm quyền để đảo ngợc tình thế, lập lại trật tự t sản. Hai loại sai lầm
nghiêm trọng dễ mắc phải là: .
a. Chủ quan duy ý chí, coi nhẹ quy luật kinh tế khách quan, trong khi đó
lại tuyệt đối hoá đấu tranh giai cấ, nhất là tuyệt đối hoá một trong những hình
thức của đấu tranh giai cấp;
b. Cơ hội hữu khuynh, mơ hồ về đấu tranh giai cấp, mất cảnh giác trớc
âm mu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội.
Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta, xã hội vẫn tồn tại
lâu dài các giai cấp, các mâu thuẫn giai cấp. Đấu tranh giai cấp là thực tế khách
quan không thể tránh danh từ đấu tranh giai cấp, mà là nhận thức cho đúng tính
chất, nội dung, hình thức của cuộc đấu tranh, xử lý đúng đắn các quan hệ xã hội
- giai cấp.
Để thực hiện mục tiêu cách mạng là dâu giàu, nớc mạnh, xã hội công
bằng văn minh, điều cơ bản là phải phát triển mạnh mẽ nền kinh tế nhiều thành
phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, bảo đảm định
hớng xã hội chủ nghĩa; thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc. Xây
dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đôi với bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chính quyền nhân
dân và pháp chế xã hội chủ nghĩa. Toàn bộ sự nghiệp trên đây là lợi ích căn bản
của dân tộc và nhân dân lao động. Tuyệt đại đa số trong cộng đồng dân tộc Việt
Nam bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức, các tầng
lớp lao động khác, tầng lớp t sản dân tộc, các nhân sĩ yêu nớc tán thành mục
tiêu nói trên. Tuy nhiên một bộ phận nhỏ trong xã họi vì quyền lợi ích kỷ, vì
hận thù giai cấp, đã và đang liên kết với các thế lực phản động quốc tế chống lại
sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Vì vậy, đấu tranh giai cấp trong thời kỳ
quá độ ở nớc ta trớc hết là cuộc đấu tranh dới nhiều hình thức giữa một bên là
quần chúng nhân dân lao động, các lực lợng xã hội đi theo con đờng dẫn đến
mục tiêu dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng van minh, đoàn kết trong mặt
trận thống nhất dân tộc do Đảng lãnh đạo, với một bên là các thế lực, các tổ
9
chức, các phần tử chống độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chống Đảng, Nhà
nớc và pháp luật, phá hoại trật tự xã hội va an ninh quốc gia.
Các thế lực phản động trong nớc và quốc tế chống độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội chủ yếu thông qua diễn biến hoà bình nhằm thủ tiêu sự lãnh đạo
của Đảng cộng sản, làm tan rã về hệ t tởng tiến tới lật độ chính quyền nhân dân
bằng hình thức này hay hình thức khác.
Cuộc đấu tranh giữa hai con đờng, con đờng xã hội chủ nghĩa và con đ-
ờng t bản chủ nghĩa cũng là biểu hiện của đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá
độ ở nớc ta. Đây là cuộc đấu tranh giữa các nhân tố thúc đẩy đất nớc phát triển
theo định hớng xã hội chủ nghĩa với các nhân tố thúc đẩy đất nớc dịch chuyển
theo định hớng t bản chủ nghĩa. Các nhân tố tự phát t bản chủ nghĩa này đợc
những thế lực chống độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội lợi dụng phục vụ mục
tiêu của chúng. Cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hớng phát triển trên đây diễn
ra hàng ngày hàng giờ trên tất cả các lĩnh vực, trớc hết là lĩnh vực kinh tế, lĩnh
vực t tởng và lĩnh vực trật tự xã hội.
Trong cơ cấu giai cấp - xã hội ở nớc ta hiện nay, ngoài công nhân, nông
dân, trí thức và các tầng lớp t sản, tầng lớop này có điều kiện phát triển trong
nền kinh tế thị trờng. Đơng nhiên có mâu thuẫn về lợi ích giữa những ngời lao
động làm thuê với tầng lớp t sản và có mâu thuẫn giữa sự phát triển theo con đ-
ờng xã hội chủ nghĩa với khuynh hớng tự phát của thành phần kinh tế t bản t
nhân. Đây là nhân dân lao động với tầng lớp t sản. Mâu thuẫn giữa giai cấp
công nhân, nhân dân lao động với tầng lớp t sản, tuy mang tính chất mâu thuẫn
giữa lao động vdà bóc lột lao động, song trong điều kiện thời kỳ quá độ nớc ta
lại là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dana. Kinh tế nhiều thành phần và tầng lớp t
sản có vai trò tích cực trong sự nghiệp phát triển kinh tế, có khả năng tham gia
tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Trong xã hội ta
hiện nay, lợi ích hợp pháp của các nhà t sản căn bản thống nhất với lợi ích
chung của cộng đồng. Đây là mặt thống nhất giữa giai cấp công nhân, nhân dân
lao động với tầng lớp t sản. Quan hệ giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động
với tầng lớp t sản là quan hệ vừa hợp tác vừa đấu tranh; đấu tranh với những
10
khuynh hớng tiêu cực của tầng lớp t sản cũng để thực hiện hợp tác, đoàn kết xây
dựng xã hội dân giàu, nớc mạnh, công bằng văn minh.
Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
phải nắm vững quan điểm giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là quan điểm
cách mạng và khoa học. Sự tuyệt đối hoá đấu tranh giai cấp, sự cờng điệu đấu
tranh giai cấp cũng nh sự mơ hồ về đấu tranh giai cấp đều trái với quan điểm
giai cấp Mác - Lênin, đều gây tổn hại cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
11
Kết luận
Đấu tranh giai cấp chẳng những có tác dụng cải tạo xã hội, xoá bỏ các
lực lợng xã hội phản động, mà nó còn có tác dụng cải tạo bản thân các giai cấp
cách mạng.
Trong xã hội có giai cấp, sự phát triển của các mặt văn hoía, nghệ thuật
và cdác mặt khác của đời sống xã hội không thể không mang dấu ấn của đấu
tranh giai cấp, và do cuộc đấu tranh đó thúc đẩy.
Đấu tranh giai cấp là quy luật chung của xã hội có giai cấp. Song, quy
luật ấy có những biểu hiện đặc thù trong từng xã hội cụ thể. Điều đó do kết cấu
giai cấp của mỗi xã hội, do địa vị lịch sử của mỗi giai cấp cách mạng trong từng
giai đoạn và trên từng địa bàn quyết định. Muốn hiểu đúng quy luật đấu tranh
giai cấp, còn phải phân tích cụ thể trong những điều kiện lịch sử cụ thể.
12

Xem chi tiết: Đấu tranh giai cấp


Phát triển hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ 5
LỜI MỞ ĐẦU 7
1.1 Hoạt động bao thanh toán tại ngân hàng thương mại 9
1.1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 9
1.2 Phát triển bao thanh toán tại Ngân hàng thương mại 30
1.2.1 Quan niệm về phát triển 30
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển hoạt động bao thanh toán tại NHTM 32
1.3 Các điều kiện phát triển hoạt động bao thanh toán tại ngân hàng thương mại 39
1.3.1 Những điều kiện chủ quan 40
1.3.2 Những điều kiện khách quan 48
2.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt 56
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt 56
2.1.2 Hoạt động chính của Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt 57
Bảng 2.1 Cơ cấu huy động nợ 59
2.1.3 Kết quả đạt được của Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt 65
Biểu đồ 2.3 Tăng trưởng doanh thu từ năm 2006 tới năm 2008 tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Nam Việt 65
Biểu đồ 2.4 Chi phí phát sinh tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt từ năm 2006 tới năm
2008 67
Biểu đồ 2.5 Tổng hợp doanh thu- chi phí- lợi nhuận trước thuế của 68
Biểu đồ 2.6 Sự gia tăng tổng tài sản của Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt từ năm 2006
tới năm 2008 69
Bảng 2.7 Bảng tổng hợp chỉ tiêu tài chính 71
2.2 Sự cần thiết phát triển hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt . 72
2.3 Đánh giá các điều kiện phát triển hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng thương mại cổ phần
Nam Việt 75
2.3.1 Điều kiện thuận lợi để triển khai dịch vụ bao thanh toán tại Ngân hàng thương mại cổ phần
Nam Việt 75
Bảng 2.8 Tỷ lệ nợ xấu 76
Biểu đồ 2.9 diễn biến số dư nợ xấu tại 76
Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt 76
Biểu đồ 2.10 Tình hình huy động nợ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt từ năm 2006
tới năm 2008 79
Biều đồ 2.12 Quá trình gia tăng vốn điều lệ tại 82
Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt từ năm 2006 tới năm 2008 82
Bảng 2.13 Cán bộ nhân viên Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt 84
Bảng 2.14 Bảng chấm điểm các chỉ tiêu tài chính 86
Bảng 2.15 Bảng chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính của Navibank 87
Bảng 2.16 Bảng xếp loại khách hàng của Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt 88
Biểu đồ 2.17 Kim ngạch xuất- nhập khẩu Việt Nam giai đoạn 2006-2008 92
2.3.2. Khó khăn trong triển khai dịch vụ bao thanh toán 95
3.1 Định hướng phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt
3.1.1 Bối cảnh kinh tế xã hội 104
3.1.2 Định hướng phát triển ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt 105
3.2 Giải pháp phát triển hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt 107
3.2.1 Tăng cường hoạt động huy động vốn 107
3.2.2 Tăng cường các biện pháp hạn chế rủi ro 108
3.2.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 110
3.2.4 Nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu và phát triển 113
3.2.5 Phát triển hoạt động marketing ngân hàng 113
3.2.6 Một số giải pháp khác 115
3.3 Kiến nghị 118
3.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 118
3.3.2 Kiến nghị với các cấp chính quyền 121
3.3.3 Kiến nghị với các cơ quan giáo dục 122
LỜI KẾT 123
LỜI MỞ ĐẦU
Xã hội không ngừng vận động, phát triển hàng ngày, hàng giờ, cùng với nó
là sự gia tăng không ngừng của các nhu cầu xã hội. Vòng xoáy của sự phát triển
đã cuốn tất cả các ngành, các lĩnh vực vào guồng quay liên tục và nếu không
thích nghi, không phát triển cùng với sự phát triển đó thì chúng sẽ bị loại bỏ và
biến mất. Không chỉ vậy, sự cạnh tranh khốc liệt ấy diễn ra ngay trong từng
ngành, từng lĩnh vực và ngành ngân hàng không phải là một ngoại lệ. Là một
nhân tố không thể thiếu trong thị trường thị trường tài chính nói riêng và nền kinh
tế nói chung, có ảnh hưởng tới toàn bộ các ngành và lĩnh vực khác, mỗi ngân hàng
cũng phải phát triển không ngừng để theo kịp sự phát triển của xã hội.
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển và đang trong tiến trình hội nhập
ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới kể từ khi chính thức gia nhập WTO
vào ngày 07/01/2007. Trong những năm gần đây, chúng ta chứng kiến sự bùng nổ
mạnh mẽ các hoạt động, dịch vụ mới của các ngân hàng trong nước tuy nhiên số
hoạt động, dịch vụ ngân hàng Việt Nam còn quá ít so với các ngân hàng trên thế
giới. Việc đa dạng hóa hoạt động, các loại hình dịch vụ để giữ được vị thế cạnh
tranh là vấn đề sống còn của các NHTM Việt Nam hiện nay khi sự cạnh tranh
ngày càng trở nên khốc liệt với sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài.
Bao thanh toán là một hoạt động mới tại Việt Nam và được một số
ngân hàng triển khai từ năm 2005 song thực tế nó đã ra đời từ thế kỷ XVII ở Anh
và được thế giới công nhận rộng rãi từ năm 1974. Đây là hoạt động hứa hẹn
mang lại thêm doanh thu cho ngân hàng, nâng cao vị thế cạnh tranh cho
ngân hàng trong tiến trình hội nhập. Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt
tuy chưa có hoạt động này song xét tổng thể các điều kiện Navibank đã có, việc
phát triển hoạt động bao thanh toán là một quyết định phù hợp và hứa hẹn mang
lại nhiều lợi thế cho ngân hàng. Đề tài “Phát triển hoạt động bao thanh toán tại
Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt” hướng sâu vào việc nghiên cứu các
vấn đề lý luận và thực tiễn để phát triển thành công hoạt động hoàn toàn mới này
tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt. Nội dung của chuyên đề bao gồm
ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động bao thanh toán tại ngân
hàng thương mại
Chương 2: Sự cần thiết phát triển hoạt động bao thanh toán tại Ngân
hàng thương mại cổ phần Nam Việt
Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động bao thanh toán tại Ngân
hàng thương mại cổ phần Nam Việt
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động bao thanh toán
tại ngân hàng thương mại
1.1 Hoạt động bao thanh toán tại ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế, ngân hàng tập trung các nguồn tiền trong nền kinh tế và cung ứng vốn
cho các tổ chức kinh tế, các cá nhân có nhu cầu về vốn. Nếu coi toàn bộ nền
kinh tế là một cơ thể hoàn chỉnh thì dòng chảy của vốn như là những mạch máu
chảy khắp cơ thể và các ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa
dòng chảy đó thông suốt, giữ cho cơ thể khỏe mạnh. Có rất nhiều khái niệm về
ngân hàng đã được đưa ra và chưa có một khái niệm thống nhất giữa các nước do
hoạt động của các ngân hàng vô cùng đa dạng phức tạp và do sự khác nhau về
tập quán mỗi quốc gia. Nếu xem xét trên phương diện những loại hình dịch vụ mà
ngân hàng cung cấp có quan điểm cho rằng “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài
chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là
tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính
nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”, quan điểm này
mang tính chất mở và phù hợp với sự phát triển ngày càng đa dạng các dịch vụ
ngân hàng.
Tại Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng, “Hoạt động ngân hàng là
hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là
nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh
toán” và “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất
và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại,
ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác
và các loại hình ngân hàng khác” . Cách tiếp cận hạn chế này chưa bao quát hết
được toàn bộ chân dung ngân hàng hiện đại với các hoạt động ngày càng đa dạng
và phong phú.
Trong các loại hình ngân hàng hoạt động trong nền kinh tế, NHTM chiếm
đa số và có hoạt động đa dạng, phong phú nhất. Khác với các loại hình
ngân hàng khác, NHTM hoạt động mang tính chất thương mại với mục tiêu
lợi nhuận được ưu tiên hàng đầu. Do tính chất đặc biệt trong hoạt động, có tầm
ảnh hưởng rộng lớn, các NHTM được đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của
Nhà nước. NHNN thông qua các ngân hàng thương mại để thực thi chính sách
tiền tệ, điều tiết kinh tế vĩ mô. Như vậy có thể quan niệm NHTM là TCTD
thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ, cung cấp các dịch vụ tài chính đặc biệt là
nhận tiền gửi, cấp tín dụng, dịch vụ thanh toán và các dịch vụ tài chính đa dạng
khác nhằm mục tiêu lợi nhuận.
1.1.1.2 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Quá trình phát triển kinh tế tạo điều kiện cho sự phát triển của các ngân
hàng và đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở thành động lực
thúc đẩy phát triển kinh tế. Sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, nhu cầu
xã hội, nhu cầu sản xuất, kinh doanh đòi hỏi các NHTM phải đa dạng hóa hoạt
động, đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu đó. Hoạt động của ngân hàng vô
cùng đa dạng song tựu chung lại NHTM có các hoạt động chính sau: hoạt động
huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và các hoạt động khác.
a.Hoạt động huy động vốn
Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và
quan trọng nhất của NHTM. Kết quả của hoạt động này sẽ trực tiếp chi phối tới
kết quả của các hoạt động khác vậy nên ngân hàng luôn nỗ lực để mở rộng
hoạt động này. Hoạt động huy động vốn của NHTM bao gồm: huy động vốn chủ
sở hữu và huy động nợ song số vốn huy động từ nợ thường chiếm tỷ trọng lớn
hơn nhiều so với vốn chủ sở hữu.
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn chủ theo nhiều
phương thức khác nhau tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể. Ngân hàng có thể
huy động vốn chủ từ nguồn lợi nhuận thu được, ngân hàng khi làm ăn có lãi
thường trích một phần lợi nhuận để lại bổ sung vốn chủ sở hữu. Tỷ lệ tích lũy
tùy thuộc vào quyết định của mỗi ngân hàng. Những ngân hàng lớn, hoạt động
lâu năm, có thu nhập sau thuế lớn thường có phần lợi nhuận giữ lại cao hơn.
Ngoài ra ngân hàng có thể huy động thêm vốn chủ bằng việc phát hành thêm
cổ phần, góp thêm, cấp thêm để mở rộng quy mô hoạt động, hoặc đổi mới
trang thiết bị hoặc để đáp ứng yêu cầu gia tăng vốn chủ sở hữu do NHNN
quy định. Đặc điểm của hình thức huy động này là không thường xuyên song
giúp cho ngân hàng có được lượng vốn chủ sở hữu lớn vào lúc cần thiết.
Hoạt động huy động vốn mang tính chất thường xuyên hơn là huy động nợ,
ngân hàng huy động nợ từ nguồn tiền gửi của dân cư, các doanh nghiệp,các
TCTD khác hoặc đi vay từ NHNN, các TCTD hoặc vay trên thị trường vốn.
Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM.
Quy mô của tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác. Thông thường, nguồn này
thường chiếm hơn 50% tổng nợ và vốn chủ sở hữu của ngân hàng và là mục tiêu
tăng trưởng hàng năm của các ngân hàng. Để gia tăng tiền gửi trong môi trường
cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, bên cạnh sự
cạnh tranh về lãi suất, các ngân hàng đã phát triển đa dạng hình thức huy động tiền
gửi: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi là đối
tượng phải dự trữ bắt buộc do vậy chi phí tiền gửi thường cao hơn lãi trả cho tiền
gửi.
Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM tuy nhiên khi cần NHTM
thường vay mượn thêm, đây là một nguồn huy động khá quan trọng. NHTM có
thể đi vay NHNN, các tổ chức tín dụng hoặc vay trên thị trường vốn. NHTM vay
NHNN nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách như trường hợp thiếu hụt dự trữ. Hình
thức cho vay chủ yếu của NHNN là tái chiết khấu (hoặc tái cấp vốn). Để bù đắp
thiếu hụt dự trữ, các NHTM có thể vay mượn các TCTD khác trên thị trường
liên ngân hàng. Trong trường hợp thiếu nguồn tiền gửi trung và dài hạn dẫn đến
không đáp ứng được nhu cầu cho vay, đầu tư trung và dài hạn, NHTM cũng có
thể vay mượn bằng cách phát hành các giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu)
trên thị trường vốn. Những ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ vay mượn
được nhiều hơn. Các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng cách
này. Họ thường phải vay thông qua các ngân hàng đại lý hoặc được bảo lãnh của
Ngân hàng đầu tư. Khả năng vay mượn còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của
thị trường tài chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của
ngân hàng.
b. Hoạt động sử dụng vốn
Ngân hàng tích tụ và tập trung vốn nhằm sử dụng cho các mục đích khác nhau
và việc sử dụng vốn như thế nào sẽ quyết định tới doanh thu của NHTM. NHTM
sử dụng vốn vào nhiều mục đích khác nhau trong đó cho vay và đầu tư là
hai hoạt động chủ yếu mang lại doanh thu cho ngân hàng. NHTM sử dụng vốn
để cho các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu về vốn vay để sử dụng vào
một mục đích nhất định trong một khoảng thời gian xác định theo thoả thuận với
nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. NHTM có thể cho vay nhằm các mục đích
tiêu dùng như cho vay xây nhà, sửa nhà, mua trang thiết bị vật dụng trong gia
đình, phương tiện đi lại, cho vay du học… Đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh, NHTM có thể cho vay bổ sung vốn lưu động, cho vay đầu tư tài sản cố
định, cho vay tài trợ dự án… Tùy theo thỏa thuận, ngân hàng có thể cung cấp
cho khách hàng các khoản vay từ ngắn hạn cho tới trung và dài hạn trên cơ sở có
tài sản bảo đảm hoặc không. Tuy nhiên đây cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi
ro nên các ngân hàng thường phải trích lập dự phòng nhằm đảm bảo an toàn
trong hoạt động của ngân hàng.
Tuy hoạt động cho vay là hoạt động hứa hẹn mang lại nhiều doanh thu cho
ngân hàng tuy nhiên ngân hàng không sử dụng toàn bộ vốn huy động để cho vay
do hầu hết các khoản cho vay có tính thanh khoản thấp, ngân hàng không thể
bán chúng trên thị trường một cách dễ dàng để đáp ứng nhu cầu tiền mặt và
hơn nữa đó là những khoản có mức độ rủi ro cao nhất. Các NHTM sử dụng một
phần vốn huy động dành cho hoạt động đầu tư, góp vốn, mua cổ phần. NHTM
thường đầu tư vào các chứng khoán nhằm mục tiêu thanh khoản, đa dạng hóa tài
sản. Các loại chứng khoán được ngân hàng đầu tư bao gồm: các chứng khoán
của Chính Phủ (Trung ương hoặc địa phương) như tín phiếu kho bạc, trái phiếu
Chính phủ; chứng khoán của các ngân hàng khác, các công ty tài chính như cổ
phiếu, các giấy nợ khác do các ngân hàng, các công ty tài chính phát hành hoặc
chấp nhận thanh toán; chứng khoán của các công ty khác. Việc nắm giữ các loại
chứng khoán này mang lại thu nhập cho ngân hàng và có thể bán đi để gia tăng
ngân quỹ khi cần thiết.
Ngoài hai hoạt động chính trên, NHTM còn đa dạng hóa hoạt động sử
dụng vốn như cung cấp hoạt động chiết khấu, cho thuê tài sản trung và dài hạn,
bảo lãnh. Ngân hàng cho phép chiết khấu thương phiếu, thực chất là việc người
bán hàng bán các khoản phải thu của khách hàng cho ngân hàng để có vốn mua
hàng dự trữ hoặc để mở rộng sản xuất kinh doanh. Ngoài cách tài trợ trên,
NHTM có thể tài trợ trực tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp bằng cách cho thuê tài sản trung và dài hạn. Ngân hàng cho khách hàng
quyền lựa chọn thuê các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê
mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Hợp đồng cho
thuê thường phải đảm bảo yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3 giá trị của tài
sản cho thuê và khách hàng được ưu tiên mua lại tài sản sau khi hết thời hạn
thuê. Theo một cách khác, NHTM có thể sử dụng uy tín của mình để bảo lãnh
cho khách hàng mua chịu hàng hóa, trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay
vốn của tổ chức tín dụng khác… Doanh thu từ các hoạt động này chiếm tỷ trọng
tương đối nhỏ trong tổng doanh thu của ngân hàng.
c. Hoạt động khác
Ngoài các hoạt động trên, NHTM còn cung cấp một loạt các dịch vụ cho
khách hàng như: dịch vụ thanh toán, dịch vụ bảo quản vật có giá, dịch vụ tư vấn
và ủy thác, dịch vụ môi giới, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ đại lý và các dịch vụ
ngân hàng hiện đại khác. Đối với các dịch vụ này ngân hàng sẽ thu phí và nó sẽ
mang lại các khoản doanh thu ngoài lãi cho ngân hàng.

Thực trạng thu hút và sử dụng vốn fdi trong việc phát triển khu du lịch ở việt nam

* Phân loại theo môi trường tài nguyên: ta có thể liệt kê ra như loại hình : du lịch
biển, du lịch núi, du lịch nông thôn… Theo cách tiếp cận này du lịch thiên nhiên
được coi là loại hình hoạt động đưa du khách về những nơi có điều kiện môi trường
tự nhiên trong lành cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn…nhằm thỏa mãn nhu cầu đặc
trưng của họ
*Phân loại theo mục đích chuyến đi:Chuyến đi của con người có thể có mục
đích thuần túy du lịch tức là chỉ nhằm nghỉ ngơi,giải trí,nâng cao nhận thức tại chỗ
về thế giới xung quanh. Ngoài các chuyến đi như vậy có nhiều cuộc hành trình vì
các lí do khác nhau như học tập công tác,hội nghị…Trong những chuyến đi này
không ít người đã sử dụng các dịch vụ như lưu trú,ăn uống ở khách sạn,nhà nghỉ…
Những lúc đó có thể coi họ đang thực hiện một chuyến du lịch kết hợp trong chuyến
đi của mình.
*Phân loại theo mục đích tham quan : Tham quan là hành vi quan trọng của con
người để nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh .Đố tượng tham quan có thể là
một tài nguyên du lịch tự nhiên như một phong cảnh kì thú cũng có thể là một tài
nguyên du lịch nhân văn như khu di tích…Về mặt ý nghĩa hoạt động tham quan là
một trong những hoạt động để chuyến đi đựoc coi là chuyến du lịch.
*Du lịch giải trí: Mục đích của chuyến đi là thư giãn xả hơi bứt ra khỏi công
việc thường nhật căng thẳng để hồi phục sức khỏe. Với mục đích này du khách chủ
yếu muốn tìm đến những nơi yên tĩnh có không khí trong lành. Có thể có nhu cầu
tham quan hoặc các nhu cầu khác song mục tiêu đó không phải là cơ bản.
*Du lịch nghỉ dưỡng: Một trong những chức năng xã hội quan trọng của du lịch
là phục hồi sức khỏe công đồng.Địa chỉ của các chuyến đi nghỉ dưỡng là những nơi
có không khí trong lành ,khí hậu dễ chịu,phong cảnh ngoạn mục như các bãi biễn
các vùng ven bờ nước,vùng núi,nông thôn… cho đến nay du lịch du Việt Nam vẫn
chủ yếu kinh doanh loại hình này.
*Du lịch lễ hội: ngày nay lễ hội là một yếu tố rất hấp dẫn du khách. Chính vì vậy
việc khôi phục các lễ hội truyền thống,việc tổ chức các lễ hội mới không chỉ là mối
5
quan tâm của các cơ quan đoàn thể quầchúng xã hội mà còn là một hướng qụan
trọng của ngành du lịch
Ngoài ra du lịch còn có thể được phân thành du lịch quốc tê- du lịch nội địa hay
là du lịch miền biển- du lịch miền núi…
*Phân loại khu du lịch:
• Khu du lịch có thể phân thành 4 nhóm chính : khu du lịch thiên
nhiên,khu du lịch văn hóa,khu du lịch đô thị và điểm đầu mối giao
thông.
• Khu du lịch thiên nhiên gồm những khu du lịch mà hoạt động của
nó chủ yếu dựa vào việc khai thác các tài nguyên du lịch tự nhiên .
Đối với những vùng có nguồn tài nguyên này người ta thường xây
dựng các trung tâm điều dưỡng và thể thao.
• Khu du lịch dựa trên các sinh hoạt văn hóa là các địa phương có lối
sống truyền thống ,phong tục tập quán đặc sắc.
Theo cách phân loại trên khu du lịch được phân loại trên cơ sở tính chất của tài
nguyên du lịch. Trong thực tế các nhân tố này có ảnh hưởng đồng thời không tách
rời nhau do vậy ít gặp các cơ sở trung tâm nào mà đơn thuần một điểm du lịch.
1.1 Đặc điểm đầu tư vào khu du lịch
Du lịch là một ngành kinh tế có nhiều đặc thù riêng,sản phẩm cũng rất đa dạng
và phong phú cũng như đây là một ngành công nghiệp còn non trẻ và rất hấp dẫn.
Vì vậy đầu tư vào du lịch có những đặc điểm riêng biệt sau:
a) Các tiêu chuẩn về đầu tư: Việc quyết định đầu tư vào một xí nghiệp hay một
dự án du lịch phụ thuộc vào sự lượng tính giá trị của các tiêu chuẩn đầu tư liên quan
đến nước hay vùng mà ở nơi đó dự án sẽ được phát triển cũng như vào sự lượng
tính giá trị bản thân doanh nghiệp hay dự án Quyết định đó thông thường phải luôn
luôn có trước việc thu nhặt những thông tin hữu ích và việc phân tích các thông tin
đó. Một khái niêm quan trọng trong lĩnh vực quyết định là khái niệm về sự hữu ích:
mỗi hành động theo sau quyết định sẽ có một sự tác động trở lại
6
* Những thông tin về môi trường: Tính có thể chắc chắn hiện tại và tương lai
của một tình hình chính trị ổn định. Việc ban cấp đảm bảo cho đầu tư, khuôn khổ
pháp lí không được làm nản long các nhà đầu tư,những thông tin về những thiết chế
tài chính
* Sự phân tích về rủi ro: Mặc dù có những thông tin đó vẫn cần thiết căn cứ vào
những giả thiết và những dự kiến có thể thực hiện được hay không . Sự phân tích
về tính nhạy cảm và sự phân tích về rủi ro nhằm mục đích xác định những biến đổi
có thể xảy ra trong các dự kiến hay giả thiết đó . Phương pháp này thường được
dung để xác định tính nhạy cảm của các kết quả là ở chỗ tăng lên hay giảm đi giá
trị của các biến thiên khác nhau theo một tỉ lệ nhất định để xem xét với những tỉ lệ
nào thì các kết quả đã dự kiến là thích hợp . Những biến thiên nào có thể ảnh hưởng
đến đầu tư du lịch ? Đối với một công ty du lịch người ta có thể kể đến các tỉ xuất
chiếm giữ ,cơ cấu của giá cả ,chi phí về nhân công,mặt bằng ,năng lượng ,kiểu loại
lợi tức và chiết khấu xã hội …
* Việc đánh giá các đầu tư: Hai yếu tố khoản tiền vay và vốn –đối với tiền vay
cần biết tỉ suất lợi tức của sự tài trợ và phải biết quyết định một kế hoạch về sự hoàn
trả và đảm bảo đối với vốn cũng có thể được cấu thành bằng tự cấp vốn …
b) Những chi phí đầu tư . Đối với một đầu tư về Khu du lịch cần lưu ý: Kết quả
ròng thu được bằng cách khấu trừ đi kết quả gộp những khấu hao những chi phí tài
chính những điểm phụ cố định khác như tiền thuê nhà,tiền bảo hiểm,tiêng thuế địa
phương… những tiền lỗ và những lợi nhuận bất thường và thuế đánh vào lợi nhuận.
Do đó xác định số lãi ròng đòi hỏi ngay từ lúc đầu việc phân tích ngân sách đầu tư.
Ngân sách đó sẽ phụ thuộc vào kiểu loại xí nghiệp được cân nhắc. Nó sẽ không như
ngân sách cho một khách sạn,một hãng du lịch hay một công ty vận tải,đối với một
cơ sở chứa trọ gồm: mặt hàng và việc chuẩn bị để xây dựng,việc xây dựng,các động
sản và các trang bị vật liệu để kinh doanh khai thác,chi phí khai trương quảng cáo…
Nhưng ngoài số đầu tư ban đầu không được coi thường những đầu tư đổi mới theo
quản điểm của chính sách bão dưỡng một khu du lịch.
7
c) Những tiêu chuẩn về khả năng sinh lời của một đầu tư du lịch: Có thể được
phân thành 2 nhóm như sau:Những tiêu chuẩn quyết định khả năng sinh lời đối với
những gía trị hiện hành hàng năm, những tiêu chuẩn sử dụng kĩ thuật của giá trị
hiện thời.
d) Du lịch là ngành mà đòi hỏi sự kết hợp giữa các yếu tố xã hội là rất lớn, một
khu du lịch được hình thành sẽ ảnh hưởng đến không chỉ ở tại địa phương đó mà
còn có tính lan tỏa đến xã hội . Vì vậy đầu tư vào khu du lịch bắt buộc phải nằm
trong những quy hoạch cụ thể,tính đến các tác động tới con người địa phương cũng
như môi trường –đặc biệt là môi trường-một nhân tố quyết định sự thành bại cũng
như sự tồn tại lâu dài của một khu du lịch. Môi trường mà đuợc bảo vệ ngay từ khi
dự án được hình thành không những giúp chúng ta tận dụng được cách hiệu quả
nhất lợi thế tự nhiên mà còn giúp chúng ta có hiệu quả về lâu dài không những về
kinh tế mà còn về cả uy tín cũng như hình ảnh của khu du lịch.
Trên đây là những đặc điểm khi đầu tư vào khu du lịch nói chung,vậy trong
đầu tư nước ngoài vào khu du lịch có những đặc điểm gì mới.Theo tác giả cái mới
thứ nhất là Đầu tư gắn liền với chuyển giao công nghệ. Cái đó có nghĩa là gì? Là
trong quá trình đầu tư các nhà đầu tư nước ngoài có thể góp vốn bằng các máy móc
thiết bị, quy trình công nghệ(kĩ năng quản lí),tiền…Vì thế khi thu hút đầu tư vào
các khu du lịch chúng ta cần chú trọng đến vấn đề này,bởi vì so với thế giới khoảng
cách về công nghệ của Việt Nam là khá lớn. Trong việc thu hút FDI vào khu du lịch
công nghệ được quan tâm chính là kĩ năng quản lí,kỉ luật lao động mà các doanh
nghiệp nước ngoài đưa vào Việt Nam. Bởi chúng ta họat động trong lĩnh vực này là
chưa lâu,kinh nghiệp còn rất ít,bên cạnh đó công việc đặc thù của du lịch đòi hỏi
phải có cả một quy trình khoa học và thích ứng nhanh mới có quản lí đươc.Đặc
điểm thứ hai là
Nói tóm lại,trong những đặc điểm chung của lĩnh vực đầu tư phát triển thì đầu
tư vào du lịch còn thể hiện những nét riêng biệt do đặc thù ngành du lịch mang lại.
Vì vậy khi đầu tư vào các khu du lịch chúng ta phải dựa vào các đặc điểm đó để làm
sao có được hiệu quả cao nhất.
8
2. Vai trò của FDI đối với ngành du lịch nói chung và khu du lịch nói riêng
Bất cứ một ngành nào đầu tư luôn đóng một vai trò rất quan trọng không những
giúp cho quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục mà còn thúc đẩy nền kinh tế tăng
trưởng và hội nhập thế giới nhanh chóng và hiệu quả. Việt Nam với xuất phát điểm
là một nước nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu vì thế nguồn vốn để đầu tư trong xã hội
là rất thấp,chúng ta cần có một cú hích từ bên ngoài- Đó chính là nguồn vốn đầu tư
nước ngoài .Không một ai có thể phủ nhận vai trò của đầu tư nước ngoài đối với
nền kinh tế-đặc biệt là những nước đang phát triển như ở Việt Nam . Từ khi Đảng
và nhà nước tiến hành cải cách,ban hành luật đầu tư nước ngoài thì bộ mặt kinh tế
xã hội của chúng ta dã thay da đổi thịt-và vai trò của đầu tư nước ngoài là không
nhỏ,nó không chỉ mang lại một số vốn đầu tư mà chúng ta đang thiếu mà còn tác
động đến tất cả các lĩnh vực củ nền kinh tế,góp phần vào GDP,giải quyết một khối
lượng công ăn việc làm, có tính liên ngành cao.Cùng với thời gian bộ phận kinh tế
có vốn đầu tư nước đã trở thành bộ phận hữu cơ của nền kinh tế. Năm 2005 khu
vực đầu tư nước ngoài tạo ra 14.5% GDP,chiếm 17.4% vốn đầu tư toàn xã hội,54%
kim ngạch xuất khẩu,tạo ra 1,2 vạn lao động trực tiếp và hàng chục vạn lao động
gián tiếp.
Với chủ trương phát triển ngành du lịch là ngành mũi nhọn của đất nước, thời
gian qua du lịch luôn luôn được sự quan tâm của Đảng và Chính phủ. Chính đầu tư
nước ngoài đã giúp cho chúng ta thay đổi bộ mặt về ngành du lịch,với những khách
sạn cao cấp,những khu du lịch nổi tiếng được khai thác với số vốn chủ yếu từ bên
ngoài hoặc do liên doanh. Nếu trước đây (trước1986) ngành du lịch chủ yếu là thu
hút khách nội địa với doanh thu rất ít,thì từ khi có đầu tư nước ngoài nhảy vào
chúng ta đã có cơ sở vật chất cũng như giao thông vận tải,cùng với các địa điểm du
lịch nổi tiếng để thu hút khách du lịch nước ngoài và thực sự Việt Nam đã để lại
trong con mắt bạn bè quốc tế một ấn tượng tốt về con người cũng như cảnh quan
thiên nhiên. Cũng như các ngành khác, đầu tư nước ngoài đã tạo ra công ăn việc
làm gián tiếp và trực tiếp,giúp chúng ta khai thác tốt những tiềm năng du lịch đòi
hỏi số vốn lớn, đóng góp vào sự phát triển chung,chúng ta có thể có một khả năng
9
tổ chức tốt các hội nghị cấp cao với những khách sạn 5 sao, có thể tự hào với Vịnh
Hạ Long,Hội An,Phong Nha Kẽ Bàng….với các tour du lịch sự kiện thành công.
Cùng với ngành du lịch thì đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tác động mạnh mẽ tới
việc phát triển khu du lịch ở Việt Nam. Như đã nói ở trên chúng ta có một tiềm năng
du lịch rất lớn,trước khi đổi mới do điều kiện chủ quan chúng ta không thể thúc đẩy
xây dựng các khu du lịch. Thế nhưng từ khi FDI được vào Việt Nam thì bộ mặt các
khu du lịch đã đổi thay hẳn. Chúng ta đã có vốn để xây dựng cơ sở hạ tầng cũng
làm thay đổi phong cách kinh doanh du lịch,chúng ta đã biết tận dụng vai trò của
FDI giúp nó trở thành một công cụ thúc đẩy sự phát triển các Khu du lịch. Hàng
trăm dự án được thông qua,với số vốn lên đến hàng tỉ USA,chúng ta không chỉ có
khách sạn,khu du lịch sinh thái,vui chơi giải trí…mà còn có những khu nghỉ mát
cao cấp có thể đáp ứng mọi thành phần du lịch.Do tính liên ngành trong du lịch việc
phát triển các khu du lịch không những tác động đến ngành du lịch mà còn tạo một
cơ sở vật chất rât tốt cho các địa phương, tạo công ăn việc làm và xuất khẩu tại chỗ
cho nền kinh tế. Chúng ta luôn cần vốn cho việc phát triển các khu du lịch vì tiềm
năng của chúng ta là rất lớn,rất nhiều điểm du lịch đang cần vốn để khai thác đáp
ứng nhu cầu du lịch của khách nội địa cũng như khách nước ngoài. Việc phát triển
các khu du lịch khách sạn luôn luôn cần trong giai đoạn như hiện nay-vì một nền
kinh tế phát triển chúng ta phải luôn thu hút được FDI. Có thể nói không một ai có
thể phủ nhận vai trò của FDI và với các khu du lịch cũng thể- và thực tế hiện nay
chúng ta đang tích cực thu hút FDI với nhiều hoạt động xúc tiến,nhiều khách sạn
cao cấp đang được triển khai ,hàng chục khu du lịch lớn nhỏ đang tiến hành đầu tư
giai đoạn đầu.
Như vậy FDI có một vai trò cực kì quan trọng trong việc phát triển các khu du
lịch nói riêng và cho ngành du lịch nói chung trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế
giới như hiện nay.Là cú hích từ bên ngoài,là động lực phát triển,là cơ sở cho các
ngành liên đới…
3 Tính tất yếu phải thu hút FDI vào phát triển khu du lịch
10
Với một vai trò quan trọng như đã đề cập ở trên cho thấy hiện nay thu hút FDI là
vấn đề cần thiết cho phát triển các Khu du lịch,chúng ta phải biết tận dụng xu thế
quốc tế hóa cao và những dòng chảy của đầu tư quốc tế để thu hút FDI. Thực tế cho
thấy rằng ,mặc dù trong mấy năm gần đây nền kinh tế chúng ta liên tục phát triển
với tốc độ cao nhưng vốn đầu tư trong nước vẫn không thể tự mình tạo một tiềm lực
phát triển cho ngành du lịch,điều đó bắt buộc chúng ta phải tranh thủ nguồn lực từ
bên ngoài.Hơn nữa trong xu thế hội nhập hiện nay một đất nước phải biết tranh thủ
nguồn lực từ bên ngoài bởi vì có như thế mới không lạc hậu với khoa học kĩ thuật
tiên tiến, thu hút đầu tư nước ngòai chúng ta không chỉ thu hút được vốn mà cúnh ta
có thể tiếp thu được trình độ khoa học tiên tiến ,kĩ năng quản lí ,kỉ cuơng và tinh
thần làm việc. Trong lĩnh vực du lịch nói chung và khu du lịch nói riêng thì học hỏi
được kĩ năng quản lí là cực kì quan trọng.Như chúng ta đã biết đây là một lĩnh vực
còn rất mới mẻ của chúng ta, kinh nghiệm mà chúng ta co đựơc là rất khiêm tốn vì
vậy thu hút FDI và đặc biệt là sự có mặt của các tập đoàn và lữ đoàn du lịch có kinh
nghiệp lâu năm trên thế giới thì việc học hỏi kinh nghiệm cũng như tác phong công
việc đối với chúng ta sẽ dề dàng hơn.Thực tế đã chứng minh các khách sạn cao cấp
của chúng ta đang có hiện nay đều là đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới hình thức là
100% vốn nước ngoài hay là liên doanh,các khu vui chơi giải trí đều có mặt của các
nhà đầu tư nước ngoài hoặc các Việt kiều.
Như vậy không chỉ trong toàn bộ nền kinh tế thu hút FDI là một tất yếu hiện nay
mà trong việc phát triển các khu du lịch nó trở nên cần thiết và cấp bách .Có vẻ như
hiện nay các khu du lịch cũng đang trông chờ vào nguồn vốn từ nước ngoài để phát
triển,nhiều nơi đã có sự đầu tư của các địa phương nhưng nều như số vốn đủ thì quá
trình quản lí lại lỏng lẻo,thiếu khoa học nên dẫn đến tình trạng im hơi lặng tiếng và
kém hấp dẫn của các khu du lịch ,còn thì hầu hết đều thiếu vốn đầu tư và có đầu tư
thì chỉ mang tính nhỏ giọt và thiếu đồng bộ làm cho các khu du lịch không thể phát
triển nhanh và toàn diện được. Vì vậy chúng ta phải tích cực hơn nữa trong công
tác xúc tiến đâu tư vào các khu du lịch. Chỉ có thu hút đầu tư nước ngoài các Khu
11
du lịch ở Việt Nam mới có thể phát huy tối đa tiềm năng của mình và đáp ứng tốt
yêu cầu của nền kinh tế quốc dân
5. Nội dung đầu tư phát triển khu du lịch.
Bởi vì khu du lịch là một trong những khía cạnh của ngành du lịch,vì thế khi
đề cập đến vấn đề nội dung đầu tư vào khu du lịch tác giả muốn nói qua về nội dung
đầu tư trong du lịch
5.1 Đầu tư vào du lịch
Ngành du lịch là một ngành có tính xã hội cao và nó tác động bởi nhiều ngành
trong nền kinh tế vì vậy đầu tư vào du lịch đòi hỏi cũng phải có tính toàn diện mới
có thể phát huy được hiệu quả . Một số nội dung cần quan tâm khi đầu tư vào du
lịch như sau:
a) Đầu tư vào cơ sở hạ tầng và trang bị:
Khởi đầu phân biệt lần thứ nhất giữa đầu tư cho cơ sở hạ tầng và trang thiết bị là
lô gic bằng cách lập hệ số vốn sản xuất người ta đã có một sự đánh giá rất đơn giản
và có thể có được một tài liệu để so sánh giữa những lĩnh vực sản xuất khác
nhau.Còn về đầu tư cho du lịch điều quan trọng là biết phần của những khoản đầu
tư cho trang bị so với những khoản đầu tư cho cơ sở hạ tầng (được coi là cơ sở hạ
tầng việc quy hoạch đất đai ,dẫn nước và điện,cơ sở hạ tầng về vận tải và giao thông
,việc lọc lại nước thải…). Không có cơ sở hạ tầng không thể phát triển du lịch
nhưng ta phải làm cho lợi ích phát triển các cộng đồng địa phương trùng hợp với lợi
ích phát triển du lịch. Chẳng hạn một sân bay là nhằm mục đích phục vụ du lịch
nhưng có rất nhiều sử dụng khác kể cả sử dụng cho quốc phòng.
Phải nhận rằng hệ số đầu tư giữa cơ sở hạ tầng và trang bị(với một biến số ,một
hệ số giới hạn ) sẽ không ổn khi so sánh các lĩnh vực với nhau, nếu ta không xét
trước rằng (i) có những giai đoạn khác nhau về hoàn chỉnh các trang bị thực hiện
tương ứng (giai đoạn phát triển cung ứng trong buổi đầu tung nó ra ,đòi hỏi đầu tư
nhiều hơn để đi vào thi trường ,để đặt hệ thống vào hoàn cảnh phù hợp cho việc vận
hành và để sử dụng một nhân lực và trang bị kĩ thuật cần thiết). (ii) Có những mức
khác khau về sử dụng cung ứng
12
b) Đầu tư vào nguồn nhân lực du lịch
Một đất nước muốn phát triển bền vững phải luôn quan tâm đến sự nghiệp đào
tạo nguồn nhân lực, bởi chính những con người sẽ quyết định vận mệnh tương lai
của một quốc gia. Trong phát triển kinh tế đào tạo con người là nhân tố hết sức
quan trọng đặc biệt là lĩnh vực du lịch bởi vì ngành du lịch phát triển hay không là
do những người làm du lịch quyết định. Đây là ngành mà mối quan hệ với lực
lượng lao động rất rõ nét, hầu như bất cứ một công ty du lịch nào cũng đều coi
trọng khâu tuyển nhân viên và đào tạo nhân viên.Có một bài toán sau: Có thể xét
chất lượng dịch vụ là phụ thuộc vào chất lượng nhân tố lao động(EP)và đầu tư cho
mỗi khách hàng (I) công thức sẽ là: I=EP.logI
k
ở đó k là một thông số sẵn với những điều kiện riêng của khách sạn. Tích phân
lần đầu tiên của công thức này người ta chỉ ra rằng những cải tiến các chỉ tiêu chất
lượng dích vụ phụ thuộc vào hệ số EP/I nó diễn đạt sự đóng góp về số lượng của
nhân tố lao động theo đơn vị đầu tư cố định.
Ví dụ trên cho thấy lao động và đầu tư vào du lịch.Bên cạnh đó có một nhân tố
rất đặc biệt trong du lịch là tính thời vụ vì vây sử dụng lao động trong du lịch cũng
mang tính thời vụ rất nhiều. Vì vậy nhiều khi người ta có thể sử dụng lao động như
một lực lựợng làm thêm và ít khi chú trọng đến công tác đào tạo. Chúng ta có thể
tham khảo bảng sau:
Bảng 1:Thang bậc công việc du lịch
13
(Nguồn: Sách Nhập môn khoa học du lịch-NXB ĐH Quốc gia HN)
Như vậy trong ngành du lịch thì ngoài việc cần một số lượng lao động nhiều
thì thang bậc trong nguồn nhân lực cũng rất phức tạp và đa dạng,nó cần nhiều cấp
học cũng như chuyên môn khác nhau,mỗi cấp phù hợp với mỗi thang bậc. Điều đó
đòi hỏit trong việc đào tạo cần chú trọng sự đa dạng trong cấp học tránh tình trạng
cử nhân thì nhiều mà trung cấp thì ít,nó không những tạo ra sự lãng phí mà còn cản
trợ sự phát triển toàn diện của du lịch.
c) Đầu tư cho xúc tiến quảng bá du lịch
Có thể nói đây là một nội dung rất mới so với các lĩnh vực khác mà chỉ riêng
có ở ngành du lịch. Bởi vì để có doanh thu thì ngành du lịch phải quảng bá hình ảnh
14
Trình
độ
KV tổ chức
DL
KV dịch vụ đón
tiếp
KV công cộng KV du lịch
có trọ ở
CV quản lí
cho cả 4 KV
I.Cán
bộ lãnh
đạo
GĐ hãng
Phó GĐ
GĐ hãng
Phó GĐ
GĐ dịch vụ
Thanh tra Du lịch
GĐ làng nghỉ
ngơi
II.Kỹ
thuật
viên
cao cấp
GĐ KV
dịch vụ đi
du lịch
GĐ KV dịch vụ
tiếp đón
Chuyên gia nghiên
cứu kế hoạch hóa
và khai thác du
lịch
Chuyên gia
DL xã hội
III.Kỹ
thuật
viên
trung
cấp
Người chịu
trách nhiệm
vận
tải,trưởng
các hợp
đồng khoán
việc,CĐV
bán hàng,tổ
chức HN
tuyên truyền
Người đựoc tin
và đi tháp
tùng.Phiên dịch
hướngdẫn,người
cổ động,chiêu
đãi viên hàng
không sân
bay…
Người hướng dẫn
của quốc gia,người
cổ động,tổ chức
hội nghị chủ nhà
địa phương
Cổ động
,huấn luyện
viên ,người
trông nhà,cô
nưôi dạy trẻ
Kế toán
trưởng,thư kí
cho lãnh
đạo,thư kí về
tư liệu
IV.
Nhân
vien
Trợ lí cán
bộ lãnh
đạo,trợ lí
trưởng các
hđ,nv quầy
hàng
Người hướng
dẫn tại địa
phương,bà chủ
đón tiếp
Bà chủ đón
tiếp,thư kí
Trực điện
thoại,kế
toán,thư kí
đánh máy

Công ty cơ khí ô tô 3/2

Tài sản là yếu tố quan trọng hàng đầu của các doanh nghiệp, nó là cơ sở để
các doanh nghiệp có thể hoạt động sản xuất tồn tại và phát triển, giá trị tài sản là
một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá qui mô, năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
Tài sản của doanh nghiệp đợc hình thành từ nhiều nguồn khác nhau để tạo điều kiện
thuận lợi cho công tác quản lí, ta xem xét tài sản của doanh nghiệp theo hình thức biểu
hiện là giá trị và nguồn hình thành tài sản:
Biểu 1: Tình hình tài sản và vốn của Công ty
TS Tiền NV Tiền
A. TSCĐ và đầu t XDCB
B. TSLĐ
C. TSTT
14.698.086.055
9.297.614.552
4.857.332.729
A. Nguồn vốn
B. NV Tín dụng
C. NVTT
21.375.836.397
4.856.623.432
2.260.873.000

28.853.332.729 28.853.332.729
Nguồn: Bảng tổng kết TS năm 2001
- Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty: kết quả sản xuất kinh doanh của
công ty luôn là mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp. Bởi vì,mọi chính sách
phát triển kinh tế đều nhằm mục đích cuối cùng là lợi nhuận. Lợi nhuận càng cao
thì doanh nghiệp càng có điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, đời sống ngời lao
động ngày càng đợc cải thiện và nâng cao. Trong 2 năm gần đây, với sự mạnh dạn
của lãnhân dân dạo và sự hăng say lao động của tập thể cán bộ CNV mà kết quả
sản xuất kinh doanh của công ty đã đạt:
Chỉ tiêu 2000 2001
1. Tổng doanh thu 6.280.491.484 7.414.936.284
2. Vốn kinh doanh 3.104.360.706 3.104.360.706
3. Doanh thu tiêu thụ 3.726.633.738 4.455.095.169
4. Lợi nhuận tiêu thụ 1.326.520 181.145.000
5. Nộp ngân sách 86.415.000 130.002.151
Nguồn: báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh năm 2000 - 2001
II. Nhiệm vụ hiện nay của Công ty cơ khí ôtô 3 - 2
Công ty cơ khí ôtô 3 -2 là một doanh nghiệp có t cách pháp nhân cơ con dấu
riêng, là thành viên của liên hiệp xí nghiệp cơ khí giao thông vận tải thuộc Bộ giao
5
thông vận tải. Hoạt động của Công ty theo điều lệ xí nghiệp công nghiệp. Những
năm đầu mới thành lập nhà máy có nhiệm vụ quyền hạn cụ thể:
* Nhiệm vụ cơ bản của công ty:
- Xây dựng thực hiện kế hoạch không ngừng nâng cao hiệu quả và mở rọng
sản xuất kinh doanh, đáp ứng ngày càng nhiều hàng hoá và dịch vụ cho xã hội, tự
bù đắp chi phí, tự trang trải vốn và làm tròn nghĩa vụ với ngân sách Nhà nớc trên
cơ sở tận dụng năng lực, sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật.
- Thực hiện phân phối theo lao động và công bằng xã hội, tổ chức đời sống
và hoạt động xã hội, không ngừng nâng cao trình độ văn hoá và nghề nghiệp công
nhân viên chức.
- Mở rộng liên kết kinh tế với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc các
thành phần kinh tế, tăng cờng hợp tác kinh tế nớc ngoài. Phát huy vai trò chủ đạo
của kinh tế quốc doanh, góp phần tích cực vào việc tổ chức nền sản xuất xã hội và
cải tạo XHCN.
- Bảo vệ nhà máy, bảo vệ sản xuất, bảo vệ môi trờng, giữ gìn trật tự an ninh
xã hội, làm tròn nghĩa vụ quốc phòng, tuân thủ pháp luật, hạch toán và báo cáo
trung thực theo chế độ Nhà nớc qui định. Công ty cơ khí 3-2 đã a ra những nhiệm
vụ cụ thể và kế hoạch sản xuất sau:
- Nhiệm vụ cụ thể:
+ Sửa chữa các cấp, tân trang đóng mới các loại xe du lịch, xe công tác, xe
ca, xe buýt và mua bán các loại xe.
+ Sản xuất kinh doanh mua bán phụ tùng ôtô và xe máy các loại.
+ Sản xuất và phục hồi một số mặt hàng phục vụ ngành và các ngành kinh
tế khác.
Với những nhiệm vụ cụ thể trên ban lãnh đạo Công ty đã đa ra một chơng
trình sản xuất kinh doanh đầy đủ:
- Chơng trình cải tạo xe tải, xe ôtô thành các loại xe chuyên dùng.
+ Đóng thùng kín, thùng hở các loại.
+ Đóng thùng lắp cẩu các loại.
+ Lắp ráp xe tải chở ngời t rên cao.
- Chơng trình củng cố bộ phận bảo dỡng sửa chữa ôtô.
+ Đầu năm 2002 Công ty đã khánh thành nhà bảo dỡng ôtô mới, có vị trí
tiếp cận mặt tiền, rất thuận lợi cho việc giao tiếp và nhận xe phục vụ khách hàng.
Ngoài ra công ty sẽ đầu t thêm cho phân xởng các trang thiết bị bảo dỡng khác,
6
tuyển chọn bổ sung một số công nhân có tay nghề giỏi, để đủ sức cạnh tranh với
bên ngoài.
- Chơng trình sản xuất kết cấu thép:
Năm 2001, Công ty cần mở rộng quan hệ với khách hàng để ký đợc các hợp
đồng sản xuất kết cấu thép, bỏ qua khâu trung gian để giảm phiền hà và phát huy
hiệu quả kinh tế.
- Chơng trình sản xuất phụ tùng xe:
Năm 2000, Công ty đã đầu t trang thiết bị mới, đầu t lao động kỹ thuật để
tạo dựng dây chuyền sản xuất khung xe Wave, chân chống và giàn để chân các
loại, nhng số lợng đạt còn thấp so với nhu cầu thị trờng.
+ Năm 2001, Công ty cần hoàn thiện hơn nữa hệ thống công nghệ, cải tiến
kỹ thuật, để nâng cao năng suất và chất lợng, phấn đấu sản xuất và tiêu thụ 30.000
bộ phụ kiện và khung. Đi sâu vào chơng trình nội địa hoá chúng ta cần nghiên cứu
sản xuất các sản phẩm mới nh: phanh, cần khởi động, cần sang số, giảm sóc để
tăng thêm tỷ lệ nội địa hoá mặt hàng xe máy.
- Công ty cơ khí 3-2 có những quyền hạn sau:
+ Có quyền chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, tổ chức kinh
doanh, liên kết liên doanh phát triển sản xuất trên cơ sở phơng hớng mục tiêu kế
hoạch nhà nớc, nhu cầu thị trờng và thông qua đại hội công nhân viên quyết định.
+ Có quyền thực hiện quyền tự chủ về tài chính của Nhà máy và sử dụng
các loạivốn đợc nhà nớc giao để kinh doanh có lãi, có quyền lập và sử dụng các
quỹ theo đúng qui định của nhà nớc.
+ Có quyền chủ động tổ chức giải thể các bộ phận sản xuất chính, phụ trợ,
dịch vụ, các bộ phận quản lí để thực hiện phơng án sản xuất kinh doanh có hiệu
quả nhất, có quyền tuyển dụng lao động và sử dụng lao động theo yêu cầu của sản
xuất kinh doanh, có quyền bổ nhiệm cán bộ từ cấp trởng phòng ban trở xuống, có
quyền nâng cấp bậc lơng cho công nhân viên chức.
+ Có quyền chủ động xây dựng chơng trình nghiên cứu ứng dụng tiến
bộkhh kỹ thuật vào sản xuất, mở rộng mọi hình thức liên kết với các cơ sở nghiên
cứu các tập thể và cá nhân nhà khoa học trong và ngoài nớc.
III. bộ máy quản lí sản xuất ở Công ty cơ khí 3-2
7
Đối với một doanh nghiệp sản xuất, việc sản xuất kinh doanh có đạt năng
suất cao, chất lợng tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tổ chứ sản xuất,
tổ chức quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm khoa học và đặc biệt là yếu tố
quản lí. Để thực hiện tốt việc này phải phụ thuộc vào từng điều kiện về cơ sở vật
chất và trình độ quản lí của từng doanh nghiệp.
Công ty cơ khí ôtô 3-2 hiện có 233 cán bộ công nhân viên, trong đó bộ phận
công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm: 164 ngời, bộ phận quản lí chiếm 59 ngời.
Việc tổ chức quản lí sản xuất của Công ty đợc thống nhất từ trên xuống dới:
- Giám đốc Nhà máy ôtô 3 - 2 là ngời đợc Bộ trởng Bộ giao thông vận tải bổ
nhiệm, có nhiệm vụ và quyền hạn đợc qui định trong điều lệ xí nghiệp quốc
doanh. Giám đốc là ngời có quyền cao nhất, chịu mọi trách nhiệm với Nhà nớc và
tập thể cán bộ công nhân viên trong công ty, từ việc huyd dộng vốn, đảm bảo sản
xuất kinh doanh có lãi, đảm bảo công ăn việc làm cho ngời lao động đến việc phân
phối thu nhập và thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nớc.
Giúp việc cho giám đốc là phó giám đốc và các phòng ban.
- Phó giám đốc: là ngời cộng sự đắc lực của giám đốc chịu trách nhiệm trớc
nhà nớc, trớc giám đốc về những phần việc đợc phân công.
- Phòng nhân chính: nhiệm vụ của phòng là tổ chức lao động, bố trí sắp
xếp lao động trong công ty về số lợng, trình độ, nghiệp vụ tay nghề phù hợp với
từng phòng ban, từng phân xởng. Xây dựng và ban hành mọi quy chế trên mọi lĩnh
vực sản xuất kinh doanh phù hợp với từng thời kỳ và chế độ của nhà nớc. Quản lí
tiền lơng, tiền thởng, quản lí lao động kỹ thuật hàng ngày, hàng quý.
- Phòng kế toán: Có chức năng giúp giám đốc tổ chức, chỉ đạo thực hiện
toàn bộ công tác kế toán, thống kê, thông tin kinh tế, hạch toán kinh tế ở nhà máy
theo cơ chế quản lí mới, đồng thời làm nhiệm vụ kiểm soát viên về kinh tế tài
chính. Kế toán thực hiện hạch toán sản xuất kinh doanh, thanh toán quyết toán với
nhà nớc.
- Phòng sản xuất kinh doanh: Thammu về xây dựng kế hoạch sản xuất
hàng năm, về hớng phát triển sản xuất kinh doanh, chuyển hớng sản xuất kinh
doanh, tham mu công tác tiêu thụ sản phẩm, mua sắm vật t, phụ tùng phục vụ sản
xuất kinh doanh. Quản lí kho vật t phụ tùng, kho bán thành phẩm, sử dụng và khai
thác sử dụng kho tàng thuộc phòng đợc giao quản lí.
8
- Các phân xởng sản xuất đều chịu sự quản lí trực tiếp của các quản đốc
phân xởng, các quản đốc phân xởng chịu sự quản lí của phòng sản xuất kinh
doanh, giám đốc và phó giám đốc.
Dới đây là sơ đồ bộ máy quản lí sản xuất của Công ty sản xuất và sửa chữa
ôtô 3 - 2.
Sơ đồ: Bộ máy quản lí sản xuất của công ty sản xuất và sửa chữa ôtô 3-2.
9
Giám đốc
Phó Giám đốc
Phòng SXKD
Phòng Kế toán Phòng Nhân chính
PX ôtô 1 PX ôtô 2 PX cơ khí
PX cơ khí
2
PX cơ khí
3
Sơ đồ: Phòng kế toán
Tại phòng kế toán tài chính gồm có:
- Kế toán trởng kiêm kế toán tổng hợp: Trởng phòng chịu trách nhiệm trớc
giám đốc về toàn bộ công tác của phòng.
Trởng phòng có nhiệm vụ tổ chức bộ áy kế toán thực hiện và kiểm tra thực
hiện toàn bộ công tác kế toán trong phạm vi toàn nhà máy. Hớng dẫn chỉ đạo và
kiểm tra các bộ phận trong nhà máy thực hiện đầy đủ chế độ ghi chép ban đầu chế
độ hạch toán, chế độ quản lí kinh tế tài chính.
- Một kế toán thanh toán bộ nội và thanh toán với khách hàng:
Phụ trách công việc: Hàng tháng thanh toán lơng sản phẩm cho các công
nhân viên, phân xởng, hạch toán BHXH cho công nhân viên chức và theo dõi các
khoản khấu trừ qua lơng.
Viết phiếu thu, chi hàng ngày.
Theo dõi chi tiết các khảon tiền gửi, tiền vay ngân hàng. Hàng ngày viết
séc, uỷ nhiệm chi thanh toán với khách hàng, với ngân sách, với khách hàng mua
bán hàng.
- Một kế toán theo dõi vật liệu, CCDC, TSCĐ, tiêu thụ:
Phụ trách công việc: Ghi chép, phản ánh tình hình nhập, xuất vật liệu,
CCDC, xác định số lợng và giá trị vật liệu, tiêu hao thực tế của CCDC, phân bổ vật
liệu cho các đối tợng sử dụng.
Ghi chép theo dõi, phản ánh tổng hợp về số lợng và giá trị TSCĐ hiện có, tình
hình tăng giảm TSCĐ, tính và phân bổ khấu hao hàng tháng theo chế độ qui định.
Lên hoá đơn thanh toán với khách hàng
Ghi chép, phản ánh tổng hợp số liệu nhập, xuất thành phẩm, hàng hoá gửi đi
bán, tổng hợp hoá đơn tiêu thụ sản phẩm, xác định lỗ, lãi về tiêu thụ sản phẩm.
- Một thủ quĩ:
Phụ trách công việc:
10
PX ôtô 1 PX ôtô 2 PX cơ khí
PX cơ khí
2
PX cơ khí
3
PX ôtô 2
Lĩnh tiền mặt tại ngân hàng về nhập quĩ, thu tiền mặt bán hàngvà thu các
khoản thanh toán khác, chi tiền mặt, theo dõi thu, chi quĩ tiền mặt hàng ngày.
Phòng kế toán tài chính đợc đặt dới sự chỉ đạo của giám đốc công ty.
Bộ máy kế toán của công ty có trách nhiệm tổ chức việc thực hiện kiểm tra
toàn bộ công tác kế toán trong phạm vị công ty, tổ chức các thông tin kinh tế, phân
tích hoạt động kinh tế, hớng dẫn chỉ đạo kiểm tra các bộ phận trong công ty. Thực hiện
đầy đủ việc ghi chép và chế độ hạch toán, chế độ quản lí kinh tế tài chính.
IV. Cơ cấu sản xuất sản phẩm chủ yếu của doanh nghiệp
- Căn cứ vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật, kế hoạch sản xuất phơng án sản
phẩm dùng phơng hớng phát triển sản xuất kinh doanh, nhà máy ôtô 3 - 2tổ chức
sản xuất thành năm phân xởng:
- Phân xởng ôtô 1: chuyên đóng mới và sản xuất các phụ tùng ôtô
- Phân xởng ôtô 2: chuyên bảo dỡng và sữa chữa
- Phân xởng cơ khí 1: chuyên gia công cơ khí
- Phân xởng cơ khí 2: chuyên sản xuất hàn khung xe máy
- Phân xởng cơ khí 3: chuyên dập, ráp khung xe
Dới đây là sơ đồ về cơ cấu sản xuất của doanh nghiệp
11
Quản đốc
Phó giám đốc Tổ sản xuất
Thống

Thủ kho
PX ôtô
1
PX ôtô
2
PX cơ
khí 1
PX cơ
khí 2
PX cơ
khí 3
Quy trình công nghệ gia công khung TM 3/2 - 01W
12
Kiểm tra mác thép
Sản xuất chi tiết rời
Kiểm tra chi tiết
Lắp cụm B
Kiểm tra
Lắp cụm D (tổng
thành)
Sửa nguội tẩy via
Kiểm tra
Sơn
Kiểm tra sơn - ren
lai
Làm sạch, bao gói
xuất xưởng
Lắp cụm CLắp cụm A
Kiểm traKiểm tra
Phần II:
Thực trạng công tác hạch toán kế toán tại công ty
cơ khí ôtô 3 - 2
Chơng I: Kế toán tài sản cố định và chi phí khấu hao tài sản cố định
I. Kế toán TSCĐ và chi phí khấu hao TSCĐ
1. TSCĐ là những t liệu lao động có giá trị lớn ( 5triệu) thời gian sử dụng
dài (1 năm). Đặc biệt của TSCĐ là khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh
doanh, TSCĐ bị hao mòn dần và giá trị của nó đợc chuyển dịch từng phần vào chi
phí kinh doanh. Khác với đối tợng lao động, tài sản cố định tham gia nhiều chu kỳ
kinh doanh và giữa nguyên hình thái vật chất ban đầu cho đến lúc h hỏng.
2. Phân loại TSCĐ
TSCĐ đợc chia làm hai loại tài sản cố định hữu hạn và tài sản cố định vô
hạn chuẩn giá trị và thời gian sử dụng theo chế độ quy định.
- Tài sản cố định hữu hạn là những tài sản cố định không có hình thái vật
chất, không sờ, không thấy đợc, không nhìn thấy đợc nh quyền sử dụng đất, chi
phí thành lập doanh nghiệp, bằng phát minh sáng chế
3. Đánh giá TSCĐ
Để có thể đánh giá hạch toán TSCĐ, tính khấu hao và tính hiệu quả sử dụng
TSCĐ thì cần phải tiến hành đánh giá lại TSCĐ. Hiện nay công ty ôtô 3-2 đã tiến
hành đánh giá lại TSCĐ theo nguyên giá và giá trị còn lại:
Giá trị còn lại
Giá trị còn lại
TSCĐ
=
Nguyên giá
TSCĐ
-
Giá trị hao mòn
TSCĐ
- Kế toán giảm TSCĐ
TSCĐ giảm đợc biểu hiện dới nhiều nguyên nhân khác nhau chủ yếu là do
nhợng bán, thanh lý nhng vì do TSCĐ của công ty thời kỳ trớc còn cũ, lạc hậu.
Đơn vị
Công ty cơ khí ôtô 3 - 2
Biên bản giao nhận TSCĐ
Ngày Tháng 05 năm 2001
Số: 06
13
Nợ TK 211
Có TK 111
Căn cứ vào quyết định số 03 ngày tháng năm của giám đốc về
việc bàn giao TSCĐ.
Biên bản giao nhận có:
Ông (bà) Nguyễn Thị Phơng Đại diện bên nhận
Ông (Bà) Nguyễn Văn Cờng Đại diện bên giao
Địa điểm giao nhận: Tại công ty cơ khí ôtô 3 - 2: số 18 phờng Phơng Mai -
quận Đống Đa - Hà Nội.
Xác nhận giao nhận nh sau:
T
T
Tên, ký hiệu qui
cách cấp bảng
TSCĐ
Số hiệu
TSCĐ
Nớc
sản
xuất
Năm
đa vào
sản
xuất
Công
xuất
thiế
kế
Tính ngzyên giá TSCĐ
Giá mua
Giá
vận
chuyển
Nguyên
giá
tỷ lệ
hao
mòn
Tài
liệu
KI
01 Máy biến tần véctơ
0,75kw
1/2001 7.800.000 88.000 7.888.000 10%

Cộng 7.800.000 88.000 7.888.000
Thủ trởng đơn vị
(Ký, họ tên)
Kế toán trởng
(Ký, họ tên)
Ngời nhận
(Ký, họ tên)
Ngời giao
(Ký, họ tên)
14

Nâng cao chất lượng dịch vụ cho thuê tài chính tại Công ty cho thuê tài chính II.pdf

Trang 5
xuất kinh doanh nhưng doanh nghiệp vẫn phải khấu hao đưa vào giá
thành sản phẩm.
Hơn nữa, các tài sản cho thuê tài chính đều được bảo hiểm mọi rủi ro tại
các Công ty bảo hiểm trong suốt thời gian thuê. Do vậy, trong trường hợp gặp rủi
do bất khả kháng, tài sản bò hư hỏng, mất mát thì được giải quyết bồi thường từ
các Công ty bảo hiểm.
Thứ hai: Doanh nghiệp khi vay trung và dài hạn ở các tổ chức tín dụng bắt
buộc phải có ít nhất 20% vốn tự có tham gia vào tổng giá trò dự án. Đây là một
vấn đề khá nan giải cho cả phía doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng.
Trên thực tế, các tổ chức tín dụng thường gặp khó khăn trong việc xác đònh
cụ thể và quản lý được phần vốn tự có tham gia của doanh nghiệp. Còn các
doanh nghiệp cũng gặp không ít khó khăn trong việc huy động vốn tự có tham
gia nhất là đối với các dự án có mức đầu tư vốn lớn. Bởi vì vốn tự có của các
doanh nghiệp thường không nhiều, hơn nữa tại thời điểm triển khai thực hiện dự
án, nguồn vốn này có thể đang nằm cấu thành trong tài sản hoặc chi phí sản xuất
kinh doanh khác.
Trong cho thuê tài chính, qui đònh về phần vốn tự có tham gia dự án có
tính chất mềm dẻo và linh hoạt hơn. Bên thuê được quyền tự do lựa chọn loại
máy móc, thiết bò, phương tiện vận chuyển và các động sản khác; tự thoả thuận
với nhà sản xuất, nhà cung ứng về đặc tính kỹ thuật; giá cả tài sản; cách thức và
thời gian giao nhận; lắp đặt và bảo hành tài sản thuê. Bên cho thuê phải trực
tiếp mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê để cho thuê, do đó bên cho thuê phải
thanh toán 100% giá trò tài sản. Như vậy, bên cho thuê có thể tài trợ 100% giá trò
tài sản mà bên thuê có nhu cầu trang bò.
Trường hợp bên cho thuê thấy cần phải ràng buộc nghóa vụ của bên thuê
đối với tài sản cho thuê, bên cho thuê có thể thỏa thuận với bên thuê đặt cọc
một số tiền để thực hiện hợp đồng mua tài sản thuê hoặc ký cược một số tiền để
đảm bảo thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính.
Trang 6
Tiền đặt cọc sẽ được trừ vào nợ gốc tiền thuê ngay sau khi bên thuê nhận
nợ, còn tiền ký cược sẽ được duy trì suốt trong thời gian thuê. Tiền đặt cọc và ký
cược phải được bên thuê chuyển tới tài khoản bên cho thuê trước khi nhận tài
sản thuê, để làm cơ sở cho bên cho thuê ký và thực hiện hợp đồng mua bán và
hợp đồng cho thuê tài chính.
Thứ ba: Khi các tổ chức tín dụng cho doanh nghiệp vay vốn bằng tiền, sau
khi phát tiền vay thì việc kiểm soát sử dụng vốn cho vay đúng mục đích thực sự
là khó khăn bởi vì cán bộ tín dụng không thể lúc nào cũng thực hiện và kiểm
soát được việc này. Các doanh nghiệp thường sử dụng vốn vay sai mục đích:
dùng tiền vay trả nợ cũ, mua tài sản không đúng như trong dự án xin vay, sử
dụng vào mục đích khác …
Bên cạnh đó, khi doanh nghiệp sử dụng vốn vay mua tài sản thì tài sản đó
đứng tên doanh nghiệp, doanh nghiệp là chủ sở hữu tài sản đó. Do vậy, trường
hợp doanh nghiệp không trả được nợ, các tổ chức tín dụng cũng không trực tiếp
xử lý, thu hồi được mặc dù tài sản đó hình thành từ vốn cho vay của mình. Và
đây là những lý do để các tổ chức tín dụng nói chung và cán bộ tín dụng nói
riêng muốn hạn chế cho vay trung và dài hạn đối với các doanh nghiệp.
Trong cho thuê tài chính, bên cho thuê nắm giữ quyền sở hữu và chỉ giao
cho bên thuê quyền sử dụng tài sản theo đúng mục đích ban đầu chứ không phải
bằng tiền, cho nên những vướng mắc trên được loại bỏ.
Thứ tư: Doanh nghiệp có thể được thuê tài chính tất cả các loại động sản
liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, dòch vụ.
Trong đó có một số loại tài sản phục vụ cho sản xuất, kinh doanh nhưng không
thuộc đối tượng cho vay của các tổ chức tín dụng như: phương tiện phục vụ công
tác (ôtô, xe máy), phương tiện văn phòng (vi tính, máy photocopy, máy lạnh),
dụng cụ y tế….
Thứ năm: Doanh nghiệp được dùng phương pháp khấu hao nhanh đối với
tài sản đi thuê. Theo qui đònh hiện nay thời gian khấu hao nhanh của tài sản thuê
tài chính có thể rút ngắn bằng 60% thời gian khấu hao theo qui đònh của Bộ tài
Trang 7
chính đối với tài sản cố đònh mua về tại các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp
(nhất là các doanh nghiệp đang kinh doanh có hiệu quả) có cơ hội để điều tiết
linh hoạt lợi nhuận và thuế lợi tức của doanh nghiệp khi còn đang nợ thuê. Sau
khi trả hết tiền thuê tài sản, tài sản đó được chuyển quyền sở hữu hoặc bán với
giá tượng trưng cho doanh nghiệp. Trên sổ sách thì giá trò tài sản rất thấp hoặc
đã khấu hao hết, nhưng thực tế giá trò và giá trò sử dụng của tài sản vẫn còn cao.
Lúc này doanh nghiệp và nhà nước cùng có thu nhập thực thụ do chi phí khấu
hao tài sản đó không đáng kể, giá thành sản phẩm hạ. Doanh nghiệp vừa có điều
kiện cạnh tranh vừa có lợi nhuận trước thuế tăng lên so với trước.
Thứ sáu: Trường hợp doanh nghiệp đã dùng vốn tự có hoặc nguồn vốn ngắn
hạn khác để đầu tư mua sắm máy móc thiết bò sản xuất, dẫn tới thiếu vốn lưu
động để mua nguyên nhiên vật liệu, hàng hóa phục vụ cho sản xuất kinh doanh,
doanh nghiệp có thể dùng phương thức bán và thuê lại tài sản hiện có. Như vậy
doanh nghiệp vừa có tài sản để sử dụng lại vừa có vốn lưu động để kinh doanh.
1.1.3. Phân loại cho thuê tài chính
Căn cứ vào các mối quan hệ cụ thể mà người ta có thể phân chia một cách
tương đối các hình thức hoạt động cho thuê tài chính trong nền kinh tế thò trường.
Việc phân loại hoạt động cho thuê tài chính có ý nghóa đối với việc áp dụng các
quy chế hạch toán – kế toán theo sự quản lý chung của Nhà nước và được hưởng
các ưu đãi (nếu có). Tùy vào các hình thức tiếp cận cụ thể người ta có những
cách phân loại cho thuê thành các hình thức khác nhau. Chẳng hạn, căn cứ vào
quyền hủy ngang hợp đồng, chi phí bảo trì, dòch vụ và mua bảo hiểm hay ưu đãi
về thuế … người ta chia thành cho thuê tài chính và cho thuê vận hành. Tuy
nhiên, trong khuôn khổ mục đích, phạm vi, giới hạn nghiên cứu của đề tài luận
văn chúng tôi chỉ tập trung trình bày đối với cho thuê tài chính.
Ở giác độ chung nhất và thông dụng nhất, thì hoạt động cho thuê tài chính
có các loại như sau: Cho thuê thuần, cho thuê hợp tác, cho thuê trực tiếp, cho
thuê liên kết, cho thuê giáp lưng, cho thuê trả góp, bán và tái thuê.
Trang 8
Nội dung hoạt động của các hình thức cho thuê tài chính được thể hiện
thông qua các loại hình công ty cho thuê tài chính, theo Nghò đònh 16/2001/NĐ-
CP của Chính phủ " Về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính"
ban hành ngày 02/05/2001, hiện nay có 5 loại hình Công ty cho thuê tài chính
được phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam, cụ thể là:
- Công ty cho thuê tài chính Nhà nước
- Công ty cho thuê tài chính cổ phần
- Công ty cho thuê tài chính trực thuộc các tổ chức tín dụng (TCTD)
- Công ty cho thuê tài chính liên doanh
- Công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài
Với sự phong phú và đa dạng của hoạt động cho thuê tài chính cho thấy
trong nền kinh tế thò trường mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế nghiệp vụ cho
thuê tài chính đã ngày càng mở rộng mạng lưới hoạt động trên toàn lãnh thổ và
hướng đến đáp ứng nhu cầu công chúng toàn cầu.
Cả 5 loại hình Công ty cho thuê tài chính trên đều có nội dung hoạt động
bình đẳng như nhau, đó là:
Ø Nguồn vốn hoạt động:
- Vốn tự có: Gồm vốn điều lệ và quỹ bổ sung vốn điều lệ;
- Vốn huy động: Nhận tiền gửi (thời hạn từ một năm trở lên), vay vốn các
tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước, phát hành trái phiếu,
chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có giá khác;
- Được nhận các nguồn vốn khác theo qui đònh của Ngân hàng Nhà nước
(NHNN).
Ø Hoạt động cho thuê tài chính:
- Cho thuê tài chính;
- Mua và cho thuê lại;
Trang 9
- Đồng tài trợ cho thuê tài chính (Cho thuê hợp vốn).
Ø Các hoạt động khác:
- Các nghiệp vụ được phép thực hiện theo qui đònh của pháp luật hiện
hành:
+ Tư vấn khách hàng về những vấn đề liện quan đến nghiệp vụ cho
thuê tài chính;
+ Thực hiện dòch vụ ủy thác, quản lý tài sản và bảo lãnh liên quan đến
hoạt động cho thuê tài chính;
- Các nghiệp vụ được NHNN cho phép – Hoạt động ngoại hối: tùy theo
tính chất hoạt động của công ty cho thuê tài chính mà trong giấy phép
hoạt động ngoại hối, NHNN sẽ cho phép công ty cho thuê tài chính được
thực hiện từng nghiệp vụ cụ thể.
1.2. LÝ THUYẾT CHẤT LƯNG DỊCH VỤ VÀ CHẤT LƯNG DỊCH VỤ
CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1.2.1. Khái niệm chất lượng dòch vụ và sự thỏa mãn khách hàng
1.2.1.1. Khái niệm chất lượng dòch vụ
Dòch vụ là bao gồm toàn bộ các hoạt động trong suốt quá trình mà khách
hàng và nhà cung cấp dòch vụ tiếp xúc nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách
hàng mong đợi có được trước đó cũng như tạo ra được giá trò cho khách hàng.
Theo lý thuyết về tiếp thò dòch vụ thì dòch vụ có 3 đặc điểm cơ bản là: vô
hình, không đồng nhất, không thể tách ly. Chính vì vậy mà dòch vụ có những đặc
trưng riêng so với các ngành khác (xem Phụ lục 01).
Những đặc trưng của dòch vụ đã tạo rất nhiều khác biệt trong việc đònh
nghóa chất lượng sản phẩm với chất lượng dòch vụ. Trong khi người tiêu dùng có
thể đánh giá chất lượng của sản phẩm hữu hình một cách dễ dàng thông qua
Trang 10
hình thức kiểu dáng của sản phẩm, màu sắc bao bì hay độ bền chắc… vì họ có
thể sờ, nắm, ngửi, nhìn… trực tiếp sản phẩm thì điều này lại không thể thực hiện
đối với những sản phẩm dòch vụ vô hình vì chúng không đồng nhất với nhau
nhưng lại không thể tách ly ra được. Chất lượng của dòch vụ sẽ được thể hiện
trong suốt quá trình tiêu dùng dòch vụ, quá trình tương tác giữa khách hàng và
nhân viên của Doanh nghiệp cung cấp dòch vụ đó [II.9].
Vì vậy khi đònh nghóa về chất lượng dòch vụ, Parasuraman & ctg. [II.7] đã
cho rằng chất lượng dòch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng về
những tiện ích mà dòch vụ sẽ mang lại cho họ và nhận thức, cảm nhận của họ về
kết quả họ có được sau khi đã sử dụng qua dòch vụ đó. Đây có thể được xem là
một khái niệm tổng quát nhất bao hàm đầy đủ ý nghóa của dòch vụ, đồng thời
cũng chính xác nhất khi xem xét chất lượng dòch vụ đứng trên quan điểm khách
hàng, xem khách hàng là trọng tâm.
1.2.1.1. Sự thỏa mãn của khách hàng
Nói đến chất lượng dòch vụ, thường nhiều người cho rằng đó cũng chính là
mức độ thỏa mãn của khách hàng. Tuy nhiên cũng có nhiều quan điểm khác
đánh giá về sự thỏa mãn của khách hàng. Bechelet [II.2] đònh nghóa sự thỏa mãn
của khách hàng là một phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng đáp lại với
kinh nghiệm của họ với một sản phẩm hay dòch vụ. Còn Philip Kotler [I.18] cũng
cho rằng sự thỏa mãn là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt
nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm với những kỳ vọng của
người đó. Theo đó, sự thỏa mãn có 3 cấp độ như sau:
- Nếu mức độ nhận được của khách hàng nhỏ hơn kỳ vọng thì khách hàng
cảm nhận không hài lòng.
- Nếu mức độ nhận được của khách hàng bằng kỳ vọng thì khách hàng
hài lòng.
- Nếu mức độ nhận được của khách hàng lớn hơn kỳ vọng thì khách hàng
sẽ thích thú.
Trang 11
Có thể thấy rằng sự thỏa mãn của khách hàng và chất lượng dòch vụ là hai
khái niệm tách rời nhau. Sự thỏa mãn của khách hàng là một khái niệm tổng
quát nói lên sự hài lòng của họ khi tiêu dùng một dòch vụ, còn nói đến chất
lïng dòch vụ là quan tâm đến các thành phần cụ thể của dòch vụ [II.11].
1.2.2. Khái niệm chất lượng dòch vụ cho thuê tài chính
Chất lượng của dòch vụ cho thuê tài chính là khả năng đáp ứng của dòch vụ
cho thuê tài chính đối với sự mong đợi của khách hàng đi thuê tài chính, hay nói
cách khác thì đó chính là khoảng cách giữa sự kỳ vọng của khách hàng thuê tài
chính với cảm nhận của họ về những kết quả mà họ nhận được sau khi giao dòch
thuê tài chính với Công ty cho thuê tài chính.
1.3. CÁC LÝ THUYẾT ĐÁNH GIÁ VỀ CHẤT LƯNG DỊCH VỤ VÀ SỰ
THỎA MÃN CỦA KHÁCH HÀNG
1.3.1. Các lý thuyết đánh giá chất lượng dòch vụ
Có nhiều nghiên cứu khác nhau trên thế giới nhằm đưa được đònh nghóa và
đo lường chất lượng dòch vụ, trong đó:
- Lehtinen & Lehtinen [II.6]: chất lượng dòch vụ được đánh giá trên 2
mặt:
+ Quá trình cung cấp dòch vụ
+ Kết quả của dòch vụ
- Gronroos [II.4] đưa ra hai lónh vực của chất lượng dòch vụ:
+ Chất lượng kỹ thuật: nói đến những gì được phục vụ
+ Chất lượng chức năng: chúng được phục vụ như thế nào
- Parasuraman & ctg. [II.7, II.8] đã có những nghiên cứu về chất lượng
dòch vụ trong ngành tiếp thò rất chi tiết và cụ thể. Họ đã đưa ra mô hình
5 khoảng cách chất lượng dòch vụ (xem hình 1.1). Trong 5 khoảng cách
này, khoảng cách 5 chính là mục tiêu cần nghiên cứu vì nó xác đònh
được mức độ thỏa mãn của khách hàng khi họ nhận biết được mức độ
Trang 12
khác biệt giữa dòch vụ kỳ vọng và dòch vụ nhận được. Và sự khác biệt
này chính là do 4 khoảng cách từ 1 đến 4 tạo nên (xem Phụ lục 2).
Hình 1.1: Sơ đồ Mô hình chất lượng dòch vụ
Nguồn: Nguyễn Đình Thọ & ctg. 2003, trích từ Parasuraman & ctg.
[1985:44]
Mô hình nêu trên đã mô tả khá tổng quát về chất lượng dòch vụ. Tuy nhiên
để có thể đánh giá chất lượng dòch vụ được cảm nhận bởi khách hàng một cách
Dòch vụ kỳ vọng
Dòch vụ chuyển giao
Dòch vụ cảm nhận
Nhận thức của Công
ty về kỳ vọng của
khách hàng
Chuyển đổi cảm nhận
của Công ty thành
tiêu chí chất lượng
Thông tin đến
khách hàng
Khoảng cách 5
Khoảng cách 2
Khoảng cách 3
Khoảng cách 4
Khoảng cách 1
NHÀ TIẾP THỊ KHÁCH HÀNG
Trang 13
cụ thể, các nhà nghiên cứu sau nhiều lần nghiên cứu và kiểm đònh đã đưa ra một
thang do chất lượng dòch vụ gồm 5 thành phần sau:
1. Tin cậy (reliability): liên quan đến khả năng chắc chắn thực hiện dòch
vụ theo đúng cam kết với khách hàng.
2. Đáp ứng (responsiveness): khả năng sẵn sàng đáp ứng, cung cấp dòch vụ
tốt nhất cho khách hàng.
3. Năng lực phục vụ (assurance): thể hiện khả năng phục vụ khách hàng.
4. Đồng cảm (empathy): thể hiện sự quan tâm thấu hiểu những ước muốn,
mối quan tâm của từng khách hàng.
5. Phương tiện hữu hình (tangibles): liên quan đến cơ sở vật chất, trang
thiết bò cũng như trang phục, ngoại hình của nhân viên phục vụ.
1.3.2. Các lý thuyết đánh giá sự thỏa mãn của khách hàng
Như đã trình bày ở phần trên, mặc dù chất lượng dòch vụ và sự thỏa mãn
khách hàng là hai khái niệm phân biệt nhưng nhiều nghiên cứu cũng chứng minh
rằng giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau (xem hình1.2).
Hình 1.2: Sơ đồ mô hình chất lượng dòch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng
Đáp ứng
Phương tiện
hữu hình
Năng lực
phục vụ
Tin cậy
Đồng cảm
Thỏa mãn
H1a
H1b
H1c
H1d
H2a
H2b
H2c
H2d
H2e
H1f
H1g
H1h
H1i
H1j
Trang 14
Nguồn: Nguyễn Đình Thọ & ctg. [2003:12]
Mô hình trên thể hiện có 2 nhóm giả thuyết là nhóm giả thuyết về mối
quan hệ giữa các thành phần của chất lượng dòch vụ (từ H1a đến H1j) và nhóm
giả thuyết về mối quan hệ giữa các thành phần chất lượng dòch vụ với mức độ
thỏa mãn của khách hàng (từ H2a đến H2e), nội dung của từng giả thuyết được
trình bày tại Phụ lục 03.
1.4. CÁC YẾU TỐ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯNG DỊCH VỤ CHO THUÊ TÀI
CHÍNH VÀ SỰ THỎA MÃN KHÁCH HÀNG
1.4.1. Thiết kế nghiên cứu chất lượng dòch vụ cho thuê tài chính
Để đánh giá chất lượng dòch vụ cho thuê tài chính và sự thỏa mãn của
khách hàng, tác giả đã sử dụng mô hình lý thuyết về chất lượng dòch vụ đã được
trình bày trên đây với thang đo SERVQUAL về chất lượng dòch vụ [II.8]. Tác
giả đã thực hiện nghiên cứu thông qua hai bước là nghiên cứu sơ bộ và nghiên
cứu chính thức.
Bảng 1.1: Tiến độ thực hiện các nghiên cứu
Bước
Dạng
nghiên cứu
Phương
pháp
Kỹ thuật sử dụng Thời gian Đòa điểm
1 Sơ bộ Đònh tính
- Đóng vai
- Thảo luận nhóm
và tay đôi
10/2007 TP.HCM
2 Chính thức Đònh lượng Phỏng vấn trực tiếp 11/2007 TP.HCM
Nguồn: Tác giả tự thực hiện
Trên cơ sở thang đo SERVQUAL về chất lượng dòch vụ, nghiên cứu sơ bộ
với kỹ thuật đóng vai để điều chỉnh thành thang đo 1, kỹ thuật thảo luận nhóm