=> Để xây dựng một công trình thì hợp đồng phải được kí kết giữa
các biên là bên chủ đầu tư (Bên A) và bên thi công (bên B) vậy cần hiểu rõ
hợp đồng xây dựng là gì?
Điều 3:
1. Hợp đồng trong hoạt động xây dựng được xác lập cho các công
việc lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo
sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, giám sát, thi công xây dựng
công trình và các công việc khác trong hoạt động xây dựng.
2. Hợp đồng trong hoạt động xây dựng được xác lập bằng văn bản
phù hợp với quy định của pháp luật.
3. Tuỳ theo quy mô, tính chất của công trình, loại công việc các mối
quan hệ của các bên hợp đồng trong hoạt động xây dựng các thể có nhiều
loại với nội dung khác nhau.
Điều 4: Nội dung chủ yếu của hợp đồng trong hoạt động xây dựng
Hợp đồng trong hoạt động xây dựng bao gồm các nội dung:
1. Nội dung công việc phải thực hiện
2. Chất lượng và các yêu cầu kỹ thuật khác của công việc
3. Thời gian và tiến độ thực hiện
4. Điều kiện nghiệm thu, bàn giao
5.Giá cả, phương thức thanh toán
6. Thời hạn bảo hành
7. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
8. Các thoả thuận khác theo từng loại hợp đồng
9. Ngôn ngữ sử dụng trong hợp đồng
Việc tổ chức đấu thầu lựa chọn nhà thầu đáp ứng đủ các tiêu chuẩn
để đi tới kí kết hợp đồng ngày một phổ biến và mang tính khách quan, cạnh
tranh cao cho các bên dự thầu đảm bảo sự hợp lý trong sử dụng vốn công
trình. Đấu thầu bao gồm nhiều giai đoạn và rất nhiều lý luận xung quanh.
Ta cần làm rõ đấu thầu và bản chất của nó:
5
Điều 5: Đấu thầu
1. Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của
bên mời thầu.
2. Đấu thầu trong nước là cuộc đấu thầu chỉ có các nhà thầu trong
nước tham dự.
3. Đấu thầu quốc tế là cuộc đấu thầu có các nhà thầu trong và ngoài
nước tham dự.
4. Xét thầu là quá trình bên mời thầu xem xét, phân tích, đánh giá
xếp hạng các hồ sơ dự thầu để lựa chọn nhà thầu trúng thầu.
5. Bên mời thầu là chủ dự án chủ đầu tư hoặc pháp nhân đại diện hợp
pháp của chủ dự án, chủ đầu tư được giao trách nhiệm thực hiện công việc
đấu thầu.
Điều 6:
1. Nhà thầu là tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài có năng
lực pháp luật dân sự, đối với cá nhân còn phải có năng lực hành vi dân dự
để ký kết và thực hiện hợp đồng. Năng lực pháp luật dân sự và năng lực
hành vi dân sự của nhà thầu trong nước được xét theo pháp luật Việt Nam,
đối với nhà thầu nước ngoài được xét theo pháp luật của nước nơi nhà thầu
mang quốc tịch. Nhà thầu phải đảm bảo sự độc lập về tài chính của mình.
2. Nhà thầu là nhà xây dựng trong đấu thầu xây lắp nhà cung cấp
trong đấu thầu mua sắm hàng hoá: là nhà tư vấn trong đấu thầu tuyển chọn
tư vấn, là nhà đầu tư trong đấu thầu lựa chọn đối tác đầu tư.
3. Nhà thầu có thể tham gia dự thầu độc lập hoặc liên doanh với các
nhà thầu khác. Trường hợp liên doanh phải có văn bản thoả thuận giữa các
thành viên tham gia liên danh về trách nhiệm chung và riêng đối với công
việc thuộc gói thầu và phải có người đứng đầu liên danh.
Điều 7: Gói thầu
Là toàn bộ dự án hoặc một phần công việc của dự án được phân chia
theo tính chất kỹ thuật hoặc trình tự thực hiện dự án. Trong trường hợp
6
mua sắm, gói thầu có thể là một hoặc một loại đồ dùng, trang thiết bị hoặc
phương tiện. Gói thầu được thực hiện theo một hoặc nhiều hợp đồng.
Điều 8: Hồ sơ mời thầu
1. Là toàn bộ tài liệu do bên mời thầu lập, bao gồm các yêu cầu cho
một gói thầu được dùng làm căn cứ để nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu và
bên mời thầu đánh giá hồ sơ dự thầu.
Hồ sơ mời thầu được người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền
phê duyệt trước khi phát hành.
2. Đóng thầu: là thời điểm kết thúc việc nộp hồ sơ dự thầu được quy
định trong hồ sơ mời thầu.
3. Mở thầu: là thời điểm tổ chức mở các hồ sơ dự thầu được quy định
trong hồ sơ mời thầu.
Điều 9: Giá gói thầu
1. Là giá được xác định cho từng gói thầu trong kế hoạch đấu thầu
của dự án trên cơ sở tổng mức đầu tư hoặc tổng dự toán được duyệt.
2. Giá dự thầu là giá do nhà thầu ghi trong hồ sơ dự thầu sau khi trừ
phần giảm giá nếu có, bao gồm toàn bộ các chi phí cần thiết để thực hiện
gói thầu.
3. Giá đề nghị trúng thầu là giá được người có thẩm quyền hoặc cấp
có thẩm quyền phê duyệt kết quả đấu thầu để làm căn cứ do bên mời thầu
thương thảo hoàn thiện và ký hợp đồng với nhà thầu trúng thầu.
Và như vậy giá trúng thầu không được lớn hơn giá gói thầu trong kế
hoạch đấu thầu được duyệt.
Điều 10: Giá ký hợp đồng
Là giá được bên mời thầu và nhà thầu trúng thầu thoả thuận sau khi
thương thảo hoàn thiện hợp đồng phải phù hợp với giá trúng thầu, hồ sơ
mời thầu và hồ sơ dự thầu. Giá ký hợp đồng cùng các điều khoản cụ thể về
7
thanh toán được ghi trong hợp đồng là cơ sở để thanh toán vốn cho gói
thầu.
Điều 11: Kết quả đấu thầu
Là nội dung phê duyệt của người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm
quyền về tên nhà thầu trúng thầu và loại hợp đồng.
Điều 12: Thương thảo hoàn thiện hợp đồng
Là việc nhà đầu tư đặt một khoản tiền (tiền mặt, séc, bảo lãnh của
ngân hàng hoặc hình thức tương đương) vào một địa chỉ với một thời gian
xác định theo quy định trong hồ sơ mời thầu để đảm bảo trách nhiệm của
nhà thầu đối với hồ sơ dự thầu.
Điều 13: Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Là việc Nhà thầu trúng thầu đặt một khoản tiền (tiền mặt, séc, bảo
lãnh của ngân hàng hoặc hình thức tương đương) vào một địa chỉ với một
thời gian xác định theo quy định trong hồ sơ mời thầu và kết quả đấu thầu
để bảo đảm trách nhiệm thực hiện hợp đồng đã ký.
2. Phân loại đấu thầu
a. Trên phương diện chủ đầu tư: Đấu thầu là một phương thức cạnh
tranh trong xây dựng nhằm lựa chọn người nhận thầu (khảo sát thiết kế, thi
công xây lắp, đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật kinh tế đặt ra cho việc xây
dựng công trình.
b.Trên phương diện của nhà thầu: Đấu thầu là một hình thức kinh
doanh mà thông qua đó nhà thầu giành cơ hội được nhận thầu, khảo sát,
thiết kế, mua sắm máy móc thiết bị.
c. Trên phương diện quản lý của nhà nước
Đấu thầu là một phương thức quản lý thực hiện dự án đầu tư mà
thông qua đó lựa chọn được nhà thầu đáp ứng được các yêu cầu của bên
mời thầu đáp ứng được các yêu cầu bên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh
giữa các nhà thầu.
8
3. Sự ra đời và quá trình phát triển của đấu thầu xây dựng ở Việt
Nam.
a. Sự ra đời của hoạt động đấu thầu xây dựng
Trong những năm trước 1998 quá trình thực hiện đầu tư xây dựng cơ
bản ở Việt Nam hầu hết chỉ được tiến hành theo phương thức giao thầu. Mà
trong quy chế giao thầu. mà trong quy chế giao thầu và nhận thầu xây dựng
được ban hành theo quyết định số 217 HĐBT ngày 8/8/1985 có một số điều
quy định về đấu thầu xây dựng nhưng lại không ban hành văn bản hướng
dẫn cụ thể nên chỉ có một số ít các công trình đấu thầu được thực hiện.
Đến ngày 9/5/1988 HĐBT về chính sách đổi mới cơ chế quản lý xây
dựng cơ bản. Trong đó điều 7 quyết định đã quy định từng bước thực hiện
đấu thầu trong xây dựng cơ bản đối với công tác khảo sát thiết kế công
trình, và tham gia đấu thầu là một cách thành thạo công việc, có cơ sở vật
chất kỹ thuật hiện đại để thực hiện, khuyến khích việc thi tuyển phương án
thiết kế xây dựng.
Để thực hiện các nội dung được quy định trong các văn bản vào ngày
10/11/1989 bộ xây dựng đã ban hành thông tư hướng dẫn tạm thời về việc
thực hiện đấu thầu trong hoạt động xây dựng. Trên cơ sở đó một số tỉnh,
thành phố đã ban hành các thông tư hoặc quy chế về đấu thầu cụ thể đổi
mới các công trình của cơ sở, địa phương đó.
Nhằm làm tăng hiệu quả quản lý Nhà nước trong xây dựng cơ bản và
rút kinh nghiệm từ hoạt động thực tiễn việc triển khai, tiến hành thực hiện
thông tư hướng dẫn ngày 10/11/1989 bộ xây dựng đã ban hành quy chế
thần kèm theo quyết định số 620/BXD – VKT ngày 30/3/1994 của bộ
trưởng bộ xây dựng
- Điều chỉnh và sửa đổi một số điều lệ, chính phủ đã ban hành nghị
định số 43CP ngày 16/7/1996 về quy chế đấu thầu trong xây dựng ở nước
ta được sử dụng phổ biến từ năm 1994 trở đi.
9
b. Tình hình hoạt động và phát triển của phương thức đấu thầu của
nước ta:
- Kể từ khi có các văn bản của Nhà nước về đấu thầu xây dựng, số
lượng các công trình được tổ chức đấu thầu còn ít và mới chỉ tập trung ở
một số thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Hồ Chí Minh…
- Đến nay hầu hết các công trình xây dựng đều tham gia đấu thầu
tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà thầu. Nhưng có vẻ như công
tác đấu thầu còn nhiều hạn chế và bị động không nêu cao được tính khách
quan dân chủ.
4. Hình thức đấu thầu
a. Đấu thầu rộng rãi
Hình thức đấu thầu này không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia.
Bên mời thầu phải thông báo công khai các điều kiện và thời gian dự thầu
trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc thông báo trên tờ thông tin
về đấu thầu và trang Web về đấu thầu của nhà nước và của bộ, ngành địa
phương tối thiểu 10 ngày trước khi phát hành hồ sơ mời thầu.
Qua đó ta có thể thấy rằng đấu thầu rộng rãi là hình thức chủ yếu áp
dụng trong hoạt động đấu thầu. Các hình thức khác nhau chỉ áp dụng khi
đủ căn cứ và được người có thẩm quyền chấp nhận trong khoa học đấu
thầu.
b. Đấu thầu hạn chế
Hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một số nhà thầu (tối thiểu
là 5) có đủ kinh nghiệm và năng lực tham dự trong trường hợp thực tế chỉ
có ít hơn 5. Bên mời thầu phải báo cáo chủ dự án trình người có thẩm
quyền xem xét quyết định. Chủ dự án quyết định danh sách nhà thầu tham
dự trên cơ sở đánh giá của bên mời thầu về kinh nghiệm và năng lực các
nhà thầu, song phải đảm bảo khách quan và công bằng đúng đối tượng.
Hình thức này chỉ được xem xét khi áp dụng các điều kiện sau:
10
- Chỉ có một nhà thầu có khả năng đáp ứng được yêu cầu của gói
thầu.
- Do nguồn vốn sử dụng yêu cầu phải tiến hành đấu thầu hạn chế.
- Do tình hình cụ thể của gói thầu mà việc đấu thầu hạn chế có lợi
thế.
5. Phương thức đấu thầu
- Đấu thầu một túi hồ sơ là phương thức mà nhà thầu nộp hồ sơ dự
thầu trong một túi hồ sơ, phương thức này được áp dụng đối với đấu thầu
mua sắm hàng hoá và xây lắp.
- Đấu tranh hai túi hồ sơ: là phương thức mà nhà thầu để nộp xuất về
kỹ thuật và đề xuất về giá trong từng túi hồ sơ riêng vào cùng một thời
điểm, túi hồ sơ đề xuất kỹ thuật sẽ được xem xét trước để đánh giá.
Các nhà thầu đạt số điểm kỹ thuật từ 70% trở lên sẽ được mở tiếp túi
hồ sơ đề xuất về giá để đánh giá, áp dụng với đấu thầu chọn tư vấn.
6. Hợp đồng
Sau khi công tác đấu thầu đã hoàn tất, đã lựa chọn được nhà thầu thì
bên mời thầu và bên trúng thầu phải ký kết hợp đồng bằng văn bản và hợp
đồng đó phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Tuân thủ các quy định hiện hành của luật pháp nước cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam về hợp đồng. Trong trường hợp luật pháp Việt
Nam chưa có quy định thì phải xin phép thủ tướng chính phủ trước khi ký
kết hợp đồng.
- Nội dung của hợp đồng phải được người có thẩm quyền hoặc cấp
có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền phê duyệt (chỉ bắt buộc với hợp
đồng sẽ ký với nhà thầu nước ngoài).
+ Căn cứ thời hạn và tính chất của gói thầu được quy định trong kế
hoạch đấu thầu, hợp đồng được thực hiện theo một trong các giai đoạn sau:
- Hợp đồng trọn gói là hợp đồng theo giá khoán gọn được áp dụng
cho những gói thầu được xác định rõ về số lượng, yêu cầu về chất lượng và
11
thời gian. Trong nhà thầu gây ra thì được người có thẩm quyền hoặc cấp có
thẩm quyền xem xét, quyết định.
- Hợp đồng chìa khoá trao tay là hợp đồng bao gồm toàn bộ các công
việc thiết kế, cung cấp thiết bị, vật tư và xây lắp của một gói thầu được
thực hiện thông qua một nhà thầu (viết tắt là EPC).
- Việc lự chọn nhà thầu thực hiện gói thầu EPC thông qua hợp đồng
EPC phải tuân thủ như theo quy định tại điều 4 nghị định 88/CP và trên kế
hoạch đấu thầu được duyệt.
- Hồ sơ mời thầu phải bao gòm cả ba phần thiết kế (E) cung cấp thiết
bị vật tư (P). Xây lắp (C) và tiêu chuẩn đánh giá cho gói thầu EPC phải bao
gồm đủ 3 công việc này, trong đó phải quy định mức điểm yêu cầu tối thiểu
về mặt kỹ thuật đối với từng công việc, nhà thầu có hồ sơ dự thầu đạt yêu
cầu cao về mặt kỹ thuật theo tiêu chuẩn đánh giá được duyệt không dưới
90% tổng số điểm về mặt kỹ thuật và có giá đánh giá thấp nhất sẽ được
xem xét trúng thầu.
- Bộ kế hoạch và đấu tư hướng dẫn quy trình tổ chức đấu thầu để lựa
chọn nhà thầu được thực hiện gói thầu EPC.
- Nội dung hợp đồng EPC được hướng dẫn và quy định tại khoản 21
điều 1 Nghị định 27/2003/NĐ – CP ngày 30/1/2003 của Chính phủ.
- Chủ dự án trách nhiệm giám sát quá trình thực hiện và nghiệm thu
bàn giao khi nhà thầu hoàn thành toàn bộ công trình theo hợp đồng đã ký.
+ Hợp đồng có điều chỉnh giá là hợp đồng áp dụng cho những gói
thầu mà ngay tại thời điểm ký kết hợp đồng không đủ điều kiện xác định
chính xác về số lượng và khối lượng hoặc xảy ra biến động lớn về giá cả
do chính sách của nhà nước thay đổi và hợp đồng đó có thời gian thực hiện
trên 12 tháng.
B. MỤC ĐÍCH VÀ BẢN CHẤT Ý NGHĨA CỦA ĐẤU THẦU
1. Mục đích
12
Hoạt động đấu thầu ngày một hoàn thiện hoá và tổ chức tốt hoạt
động đấu thầu giúp cho các nhà thầu đạt được nhiều mục đích và giúp cho
nền kinh tế có những hướng đi đúng tránh được một số tiêu cực.
- Tránh lãng phí tài chính và nguồn vốn
- Hoàn thiện hơn công tác quản lý về xây dựng cơ bản, chặt chẽ hơn
trong khâu quản lý, sử dụng.
- Hạn chế ở mức thấp nhất các rủi ro cho chủ đầu tư và cho nhà thầu.
- Nâng cao khả năng cạnh tranh và nâng cao hiệu quả sản xuất của
các doanh nghiệp.
- Giảm thời gian thi công so với các phương thức khác
- Nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật ở công ty.
2. Ý nghĩa, bản chất của đấu thầu:
Phương thức đấu thầu là một phương thức quản lý một phạm trù
kinh tế gắn với sự ra đời của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Trong ngành
xây dựng thì phương thức đấu thầu là một bước phát triển cao hơn phương
thức giao thầu. Đấu thầu lại là điều kiện ban đầu của giao thầu.
+ Đặc điểm cơ bản của phương thức đấu thầu xây dựng là trong nó
chứa đựng nhiều yếu tố cạnh tranh trong nhận thầu, cơ quan các cấp không
chỉ định nhận thầu các tổ chức xây dựng muốn có việc làm để tồn tại và
phát triển phải tự tìm hiểu nhu cầu xây dựng thông qua sự mời thầu và phải
cạnh tranh với các doanh nghiệp xây dựng khác về tất cả các mặt như vốn,
cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng, thời gian thi công, chất lượng xây dựng, giá
cả…để trúng thầu. Và các chủ đầu tư muốn thực hiện các dự án đầu tư phải
chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tổ chức đấu thầu xây dựng.
+ Đấu thầu xây dựng có tác dụng không nhỏ, nó tác động tới bản
thân các doanh nghiệp mà thông qua hoạt động đấu thầu, chủ đầu tư và các
nhà thầu đều phải tính toán hiệu quả kinh tế cho việc xây dựng công trình
trước và thời gian xây dựng ngắn, nhanh chóng sản xuất và thực hiện hợp
đồng.
13
+ Thông qua hoạt động đấu thầu, chủ đầu tư lựa chọn được nhà thầu
có đầy đủ năng lực đáp ứng được nhiều yêu cầu của chủ đầu tư về kỹ thuật,
trình độ thi công, bảo đảm tiến độ và giá cả hợp lý. Sử dụng có hiệu quả
vốn xây dựng, tạo ra sự cạnh tranh giữa các nhà thầu.
Vì thế trên một phương diện nào đó đấu thầu có tác dụng thúc đẩy
lực lượng sản xuất phát triển. Hoạt động đấu thầu mang lại nhiều lợi ích
quan trọng, nó đảm bảo tính công bằng đối với các thành phần kinh tế và
không phân biệt đối với các nhà dự thầu. Do phải cạnh tranh nên mỗi nhà
thầu phải xúc tiến nhiều hoạt động tìm tòi kỹ thuật và công nghệ, tìm các
biện pháp và giải pháp tốt nhất để thắng thầu và phải chịu trách nhiệm hoàn
toàn với công việc nhân thầu.
+ Hoạt động đấu thầu chỉ được chính thức bắt đầu từ năm 1990
thông qua việc ban hành quy chế đấu thầu và tổ chức đấu thầu theo quy chế
đó (Quy chế 24/BXD – KT ngày 12/12/1990. Quy chế số 60/BXD – VKT
ngày 30/3/1994. Xuất phát từ nhu cầu quản lý đầu tư và xây dựng của đất
nước và trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm áp dụng các quy chế đấu thầu
ngày 4/9/1999 Chính phủ đã ra Nghị định số 88/1999/ NĐ – CP ban hành
quy chế đấu thầu nhằm thống nhất quản lý đấu thầu trong cả nước đảm bảo
tính đúng đắn, tính khách quan và công bằng. Có thể coi đây là cơ sở pháp
lý cao nhất để áp dụng phương thức đấu thầu ở Việt Nam.
II. CƠ SỞ PHÁP LÝ
Để đảm bảo các quan hệ kinh tế được thiết lập và thực hiện trên cơ
sở tôn trọng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế nhằm
đẩy mạnh sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Để căn cứ cho các bên tham gia đúng pháp luật vào quan hệ kinh tế.
Chính phủ và bộ đưa ra những dự thảo dư luật nghị định liên quan đến đấu
thầu và hợp đồng xây dựng đó là:
- Luật xây dựng số 16/2003/ QH ngày 26/11/2003 của quốc hội khoá
XI.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét