Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

212568

4
chép về Thục Phán và nước Âu Lạc, đoạn viết khẳng định: “Nhà Thục, An
Dương Vương ở ngơi 55. Họ Thục tên Phán là người đất Ba Thục, đóng đơ ở
Phong Khê”
3
. Sách “Đại Việt sử ký” thời Tây Sơn cũng chép gần giống thế: “An
Dương Vương húy Phán, người Ba Thục ở ngơi 50 năm sử cũ cho là khơng
phải”. Thuyết “Thục Phán gốc người Ba Thục” chiếm địa vị độc tơn trong
những tác phẩm sử học thời Lê sơ cho đến đầu thời Nguyễn. Trong “Lịch chiều
Hiến chương loại chí”, Phan Huy Chú viết “An Dương Vương tên là Phán người
Ba Thục”
5
, đến cối triều Nguyễn trong khi biên soan Việt sử thơng giám cương
mục, một số sự kiện trong lịch sử cổ đại nước nhà đã được xem xét phê phán lại,
trong đó có thuyết Thục Phán người ba Thục. Thuyết này đã bị bác bỏ. Trong
“Việt sử thơng giám cương mục” viết “Nước Thục đã bị qn Tần diệt từ năm
thứ 5 đời Thuận Tĩnh Vương, nhà Chu (316 TCN) lúc đó làm gì có vua Thục
nào? huống chi giữa đất Văn Lang với đất Thục còn có các thứ kiện - vi, dạ -
lang, cùng, tạc, nhiễm, bàng cách xa nhau hai ba ngàn dặm. Nước Thục ở xa,
làm thế nào băng qua các nước ấy mà đến lấy được Văn Lang? Sử cũ đã chép:
cháu vua Thục tên là Phán lại bảo An Dương Vương họ Thục tên Phán người ba
Thục hoặc giả ở ngồi cõi Tây Bắc, giáp liền với nước Văn Lang có người họ
Thục, bèn cho là Thục Vương cũng chưa biết chừng. Nếu bảoThục Vương là
người ba Thục là khơng phải”
6
.
Trong việc sử lược, cuốn sử lược được phổ biến rộng rãi thời Pháp thuộc
của Trần Trọng Kim khi bàn đến gốc tích nhà Thục cũng khẳng định “Nhà Thục
chép trong sử nước ta khơng phải nhà Thục bên Tàu.
Năm 1957, Trần Văn Giáp đã đề cập đến vấn đề này trong bài “Một vài ý
kiến về An Dương Vương ngọc giả và vấn đề Thục - An Dương Vương” ơng đã
dẫn sách vở Trung Quốc để đưa ra kết luận sau: “Khoảng trước thế kỷ 13 TCN
vua Thục ở Ba Thục” sai cháu là Phán đánh xuống miền Nam tức vùng Giao
Chỉ đời Hán và tượng Quận đời Tần. Trong thời gian đó thì nước Thục đã bị
Trương Nghi và Tư mã Thố nhà Tân đánh, chiếm lấy cả nước Thục. Trong khi
Phán mang 3 vạn qn ở miền Nam thì nước Thục bị mất và vua bị giết chết.
Đám 3 vạn qn ở miền Nam đó trở về đâu? Phán tất phải đánh Tượng Quận,
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
5
chiếm lấy một khu căn cứ địa nào đó, làm chỗ đứng chân rồi dần da thiết lập
thành nước gọi là Âu Lạc, xưng là An Dương Vương”. Đọc đoạn viết này chúng
ta chỉ thấy một điều là sau khi nước Thục bị Tần diệt người ta có nhắc đến người
Thục, nước Thục cũ mà thơi. Chứ khơng chứng minh gì thêm cho ý kiến Thục -
An Dương Vương là người từ Ba Thục xuống. Bởi khu căn cứ địa nào đó làm
chỗ đứng chân là khu căn cứ nào. Tác giả chưa nói rõ, vả lại theo cách lý giải
của ơng thì Thục Phán là cháu Thục vương tử. Được sai dẫn qn đánh miền
Nam, vậy là ít nhất tại thời điểm đó Phán phải là một tướng tài hoặc có uy tín.
Việc này diễn ra trước khi nước Ba Thục bị diệt tức là trước 316 TCN.
Vậy cần giải thích như thế nào về cuộc kháng chiến chống Tần và Triệu
Đà của Âu Lạc trong khi người chỉ huy lãnh đạo họ cũng là Thục Phán người
cách đây khoảng 100 năm đã “đánh Tượng Quận chiếm lấy một khu căn cứ nào
đó làm chỗ đứng chân rồi dần dà lập thành một nước gọi là Âu Lạc”.
Dựa trên cơ sở đó, chúng ta có thể bác bỏ quan điểm An Dương Vương là
người Ba Thục.
Quan điểm thứ hai, cũng là một quan điểm nghiến cứu đáng quan tâm
“An Dương Vương là người từ Ai Lao di đến”.
Trước tiên về vị trí nước Thục, Hùng Vương - Ngọc phả cho biết “vua
thục phụ đạo xứ Ai Lao cũng là dòng giõi vua Hùng, được tên Hùng Tấn vương
muốn nhường ngơi cho con rể là Sơn Tinh (Tản Viên sơn thánh) lên triêu tập
binh mã sang đánh”. Thần tích đền Mủi xã Thanh Un, huyện Tam Nơng,
Vĩnh Phúc kể: “Đời Hùng Vương thứ 18 có giặc Ai Lao sang đánh nước ta.
Chúng chia qn làm 5 đạo… vua mời Tản Viên sơn thánh đi đánh”. Sự tích
Thiên Thai đại vương một vị tướng của Tản Viên có đoạn viết “đời Hùng
Vương thứ 18… có qn Thục đến đánh giặc cùng Tản Viên sơn thánh chia
thành hai đạo qn đánh tan giặc”. Thần tích về Cao Sơn, Q Minh hai bộ
tướng của Tản Viên được thờ ở xã Cảnh Mỹ cũng chép chuyện hai ơng đi đánh
giặc Thục tức giặc Ai Lao ở Tây Bắc. Sách “Sơn Tây thần tích An sơn huyện,
Lạp Tuyết sơn xã, thơng đạt thần tích” chép về chuyện Nam Hải đại cương cũng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
có đoạn viêt: “… Lúc đó bộ chủ Ai Lao là Thục Phán đem qn sang đánh bị
Tản Viên sơn thánh đánh cho thua”…
Chuyện cơng thần nhị vị đại vương phả lục, trong sách thần tích các xã
thuộc huyện Sơn vi tỉnh Phú Thọ cũng nói: “thời bấy giờ Hùng Duệ Vương gả
cơng chúa Mỵ Nương cho Tản viên sơn thánh tên là Nguyễn Tùng Thi, Thục
phán chúa Ai Lao đem 10 vạn binh 8 nghìn ngựa sang đánh, Duệ vương hỏi kế
Sơn thánh nói: Nên cử anh em Cao Hưng đem binh tuần tiễu các nơi… đến xã
Bản ngun đóng đồn… sau cùng với Sơn thánh đánh giặc tồn thắng trở về
Thục âp”.
Về vị trí các trận đánh, truyền thuyết địa phương nào cũng nói là qn
Thục cũng đi qua vùng ấy, nếu căn cứ vào đó thì thấy cuộc chiến tranh xảy ra ở
một vùng rộng lớn, phía Đơng tới Sóc Sơn, bắc tới Hà Giang, Lai Châu, phía
Tây tới Hòa Bình, phía Nam tới Ninh Bình. Trong khu vực được chỉ định một
cách chung chung ấy thì tuyệt đại đa số truyền thuyết địa phương và thần phả ở
Vĩnh Phúc và Hà Tây lại tập trung chỉ rõ hướng giặc Ai Lao tấn cơng từ phía
Bắc và Tây Bắc trên lưu vực sơng Hồng và sơng Mã.
Có thể kể như thần tích đền gò Chám xã Dị Nậu, huyện Tam Nơng, Vĩnh
Phúc ghi rằng: “Thời Duệ Vương qn Thục sang đánh nước ta. Cao sơn Đại
vương giúp Tản Viên sơn thánh tới thẳng trận tiền ở Mộc Châu là nơi đóng qn
chính của giặc”.
Căn cứ vào việc thờ thần Tản Viên phân bố rộng rãi trong tồn bộ vùng
cư trú của người Việt và một phần người Mường thì thấy cuộc chiến tranh chống
Thục tác động đến tồn bộ vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ. Hiện nay vùng
tập trung chủ yếu của những trận đánh lớn thì đều ở phía Tây và Tây bắc đồng
bằng Bắc bộ.
Đọc qua nhiều truyền thuyết thì dường như giả thuyết về nước Thục có
liên quan tới nước Ai Lao (Lào) nước láng giềng phía Tây của nước ta thời nay.
Nhưng tiếc thay những tài liệu lịch sử thành văn chỉ mới cho phép chúng ta soi
sáng lịch sử nước Lào từ khoảng giữa thế kỷ 14 trở lại đây. Như vậy tương ứng
với giai đoạn lịch sử cuối đời Hùng Vương trong lịch sử nước Lào chưa hề thấy
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
một tổ chức quốc gia hay một nhóm bộ lạc có tên là Ai Lao cả. Mặt khác qua
nhiều cuộc khảo sát trên thung lũng sơng Hồng các nhà nghiến cứu thấy xuất
hiện chữ Lao trong tên đất tên sơng: chân lao ở bờ đầm Chính Cơng, ngòi lao ở
Hạ Hà, ngòi kiên lao ở ngàng Lan Đình…
Chữa A dùng riêng hoặc kết hợp với một số chữ khác đứng trước hoặc
đứng sau như núi A (274m ở sát ngã ba Nhân Mục). Như Sơn A ở sát đơng bắc
cánh đồng Nội… như vậy các nhà nghiến cứu phỏng đốn rất có thể ở khu vực
thung lũng sơng Hồng có thể có thên Việt cổ là A Lao mà sau này đọc nhầm,
viết nhâm thành Ai Lao.
Thường cứ cũng khi “đất Thục đơng giáp ba, nam tiếp với Việt, bắc tiếp
Tần”. ở đây tác giả cho Thục giáp Việt. Sau này khi nhà Tây Han đặt ra hai châu
ích và Dao thì địa bàn hai châu tiếp giáp nhau nhưng cũng khơng có đường ranh
giới cụ thể .Dần dà về sau châu Giao thu hẹp với địa phận là khu vực miền Bắc
nước ta. Trái lại châu ích được mở rộng gồm cả khu vực tỉnh Vân Nam, Q
Châu, Tứ Xun ngày nay đến đời tam quốc .cũng có khi tac giả dùng lối định
vị xưa ma cho bất cư mơt địa điểm nào từ quảng tây đến Tứ Xun đều có thể là
Thục. Thủy kinh chú dẫn Giao Châu ngoại vực ký có ghi là Thục vương tử nước
Âu Lạc người sau dịch Thục vương tử là con vua Thục. Nhưng ta cũng có thể
hiểu theo cách khác. Thủy tinh chú cũng ghi: “Thanh y vương tử hâm mộ chế độ
nhà Hán bèn xin nội thuộc”. Đây là vua Thanh y quyết định việc hàng Hán chứ
khơng phải con của vua Thanh y. Vì vậy cho nên cũng có tài liệu ghi là: “Thục
vương đánh Hùng Vương”.
Trong một bài viết tác giả Nguyễn Huy Hinh từng nhận xét “Giữa Giao
Châu và ích Châu chỉ hạn chế đến điển, khơng vượt qua khỏi điền đến Ai Lao di
bao giờ, Ai Lao di cũng chưa từng trở thành một nước hùng mạnh và có xu thế
phát triển về phía Giao Châu bao giờ.
Ngay nước Điền ở bên cạnh cũng chưa từng có hành động gì vào phía
Giao Châu dù Điền rất phát triển. Những thần tích ghi việc Thục Phán cai trị ở
Ai Lao là những tài liệu do người sau này viết. Từ Ai Lao ở đây phải chăng là
Ai Lao di hay là Lào ngày nay.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
Quan điểm thứ ba cho rằng An Dương Vương là người Lạc Việt theo sự
gợi ý của sử ký. Tây Âu là nước ở trần. Các sử gia thời bấy giờ khi phân biệt các
nhóm tộc thường chú ý đến trang phục của các dân tộc. Mà Tư Mã Thiên cũng
như các sử gia đời sau đã mơ tả, chúng ta khơng thấy nói đến nhóm người ở trần
nào khác. Người Thục, người Điền đều khơng ở trần, nhiều tượng người thổi
kèn được tìm thấy trong quan tải mộ Việt Khê. Những tượng đồng trên thạp
đồng Đào Thịnh v.v… đều đóng khố, đó là một hình thức ở trần.
Đây là một dấu hiệu phân biệt người Âu Lạc với người Nam Việt, người
Thục và họ đi đến khẳng định An Dương Vương là người Lạc Việt.
Sáng đến những năm đầu thế kỷ 20 nhiều người tỏ ý nghi ngờ vua Thục
và thành Cổ Loa tiêu biểu như Ngơ Tất Tố với bài: “Nước Nam khơng có ơng
An Dương Vương nhà Thục” hay một số nhà khảo cổ như ơng Trương, ơng Đỗ
cũng nghi ngại thành Cổ Loa hay một bộ phận của nó là thành nhà Hán… nhiều
học giả còn phủ nhận sự thật về An Dương Vương và cho rằng đó chỉ là nhân
vật trong truyền thuyết. Học giả Pháp Maspéro cũng cho An Dương Vương “ là
một nhân vật chưa chắc chắn đã có trong lịch sử, là một ơng vua huyền thoại vì
sử cũ chỉ chép theo truyền thuyết mà thơi”.
Tuy nhiên tất cả những quan điểm trên còn chứa đựng trong nó q nhiều
mâu thuẫn và nhiều điều chưa hợp lý. Một số cách giải thích mang tính chất giả
định cao chưa có những tài liệu hay bằng chứng nào cụ thể. Bởi vậy, hiện nay
các nhà nghiến cứu vẫn đang trên con đường kiếm tìm sự thật về nguồn gốc
Thục Phán - An Dương Vương.
Một vấn đề còn gây nhiêu tranh cãi giữa các nhà sử học nghiến cứu về
thời đại An Dương Vương đó là thời gian tồn tại nước Âu Lạc. Đây là vấn đề
cũng được nhiều người quan tâm và tìm hiểu. Họ đã đưa ra nhiều ý kiến khác
nhau với những kiến giải riêng. Trong đó nổi bất nhất là ba quan điểm sau:
Âu Lạc ra đời năm 257 TCN, kết thúc năm 208 TCN tồn tại trong khoảng
50 năm.
Âu Lạc ra đời trong khoảng 210 TCN, kết thúc năm 207 TCN, tồn tại
trong khoảng 4-5 năm.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
Âu Lạc ra đời năm 208 TCN và kết thúc 179 TCN tồn tại trong khoảng 30
năm.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
IV. Phạm vi và phương pháp nghiến cứu
1. Phạm vi nghiến cứu
- Nguồn gốc An Dương Vương: thơng qua nghiến cứu nguồn gốc tộc
người Tày cổ.
- Thời gian tồn tại nước Âu lạc: thơng qua việc nghiến cứu thời gian ra
đời và kết thúc nhà nước Âu lạc.
2. Phương pháp nghiến cứu
Bài viết có sử dụng một số phương pháp nghiến cứu cơ bản như:
+ Hệ thống
+ So sánh, đối chiếu
+ Lựa chọn dẫn chứng.
+ Phân tích - tổng hợp.
+ Nhận xét, đánh giá.
+ Một số phương pháp khác.
V. Cấu trúc đề tài
Phần 1: Mở đầu.
I. Lý do chọn đề tài.
II. Mục đích nghiến cứu
III. Lịch sử vấn đề
IV. Phạm vi và phương pháp nghiến cứu.
V. Cấu trúc đề tài.
Phần 2: Nội dung:
I. Nguồn gốc Tày cổ của An Dương Vương.
1. Một vài nét về Cao Bằng và tộc người Tày cổ.
2. Văn hóa Tày Thái và văn hóa Việt cổ.
3. An Dương Vương - nguồn gốc Tày cổ.
II. Thời gian tồn tại nước Âu Lạc.
1. Thời gian ra đời.
2. Thời gian kết thúc.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
PHẦN II. NỘI DUNG
I. NGUỒN GỐC TÀY CỔ CỦA THỤC PHÁN - AN DƯƠNG
VƯƠNG
1. Một vài nét về Cao Bằng và tộc người Tày cổ
Cao Bằng là một trong 6 tỉnh thuộc chiến khu Việt Bắc, là q hương
cách mạng, là nơi ghi dấu bao chiến cơng anh hùng của qn và dân ta trong lịch
sử. đấu tranh dựng nước và giữ nước. Vốn là một vùng cao ngun và bình
ngun đá vơi ở biên giới phía Bắc, là miền núi các cánh cung phía Nam và
miền “lòng máng” Cao Bằng - Thất Khê - xứ Lạng chạy dài ra phía đơng. Phía
Bắc và Đơng Bắc giáp với tỉnh quảng Tây Trung Quốc, sách Dư địa chí -
Nguyễn Trãi 1438 chép “Cao Bằng xa là ngoại địa của bộ Vũ Định, đơng bắc
tiếp giáp Lưỡng Quảng, Tây Nam tiếp giáp Thái ngun Lạng Sơn. Có 01 lộ, 4
châu, 273 làng xã. Đây là nơi phên dậu T4 về phương Bắc vậy” ngày nay vị trí
chiến lược cao bằng vẫn rất quan trọng trong sự nghiệp xây dựng đất nước ……
Cư dân chủ yếu ở Cao Bằng là người Tày. Ngồi ra còn có một số dân tộc
ít người khác như Daqo, H’mơng, Nùng, Lơlơ… Người Tày thực ra xưa kia
cùng chung một nguồn gốc trong đại gia đình bách việt. Cái tên gọi Tày theo
ước đốn của các nhà nghiến cứu có thể xuất hiện vào nửa cuối thiên niên kỷ thứ
I, SCN. Song song với tiến trình phát triển khơng ngừng của lịch sử dân tộc, lịch
sử dân tộc Tày cũng gắn bó chặt chẽ với những thăng trầm trong lịch sử đấu
tranh của tộc người Lạc Việt - Một nền văn hóa Tày được tạo dựng từ nhiều yếu
tố riêng mang màu sắc đặc trưng. Nhưng bên cạnh đó lại là sự gần gũi gắn bó
keo sơn với văn hóa Lạc Việt. Cả hai nền văn hóa này có thể nói đã hỗn dung
chộn hòa vào nhau tạo thành một văn hóa đầy màu sắc Tày - Việt, mà những
yếu tố thể hiện còn dễ dàng tìm thấy trong lối sống, phong tục tập qn của mỗi
người Việt Nam.
Trên mảnh đất Cao Bằng, truyền thống u nước, niềm tự hào tự tơn dân
tộc sớm đã rực sáng ngay từ buổi đầu giữ nước chơng qn Tần xâm lược (cuối
thế kỷ II TCN) xun qua chiều dài lịch sử đã khơng ngừng được củng cố, phát
huy và đóng góp vào cơng cuộc bảo vệ nền độc lập tự chủ của dân tộc …
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
2. Sự gần gũi của văn hóa Tây - Thái và văn hóa Việt cổ
Để hiểu rõ hơn về những đặc điểm tương đồng văn hóa của 2 tộc người
Tày- Thái và Việt cổ chúng ta hãy làm một cuộc hành trình vượt thời gian, từ
thời đại Âu lạc của An Dương Vương trở lại với thời kỳ dựng nước đầu tiên của
các vua Hùng - thời sở sử, nói như cách của PGS.Tài sản Hồng Lương là để “đi
tìm sự lắng đọng của văn hóa thời sơ sử trong các vấn đề văn hóa để từ đó tìm ra
mối liên hệ giữa q khứ và hiện tại, giữa tiềm thức và sự kiện hành qua lớp bụi
thời gian”. Trong sự hòa chộn và ảnh hưởng lẫn nhau, đã hình thành lên văn hóa
Đơng Sơn và sự ra đời quốc gia Văn Lang Âu lạc.
Hội nghị nghiến cứu thời kỳ lịch sử Hùng Vương dựng nước, họp tại Hà
Nội, ngày 16/12/1968 do Viện Khảo cổ học, viện Sử học, viện Bảo tàng lịch sử
trường Đại học Tổng hợp tổ chức đều khẳng định cư dân Văn Lang thời Hùng
Vương “là cư dân làm ruộng nước là chính”. Những di chỉ khảo cổ học thuộc
văn hóa Văn Lang đều là những di chỉ định cư lâu dài; tầng văn hóa ở đó dày,
những đồ gốm lớn rất nhiều, cơng cụ lao động cũng lắm, lại có những khu mộ
táng gần kề những điều này chứng tỏ dcân ta khơng phải sống bằng nghề lương
rẫy”.
Đây quả thực là một đối lập. Tuy nhiên như nhận xét của GS Phạm Đức
Dương “nếu giả thuyết rằng chủ nhân của nền văn hóa Phùng Ngun người nói
ngơn ngữ Việt Mường đã áp dụng văn hóa lúa nước của người Tày Thái cổ thì
rõ ràng dấu vết văn hóa Mơn - Kheme của họ chỉ có thể lưu lại trong ngơn ngữ
và văn hóa của người Việt Mường mà hiện nay người Việt và người Mường còn
bảo lưu. Còn văn hóa vật chất được lưu lại trong lòng đất (văn hóa Khảo cổ học)
lại phản ánh mơ hình văn hóa của người trồng lúa nước cư dân Tày Thái, mà
chủ nhân nền văn hóa Phùng Ngun để lại đây là chưa nói tới khả năng chủ
nhân nền văn hóa Phùng Ngun có thể chính là người Tày Thái cổ”. Vậy là có
thể khẳng định, từ rất lâu trong q khứ tộc người nói ngơn ngữ Tày Thái và
người Việt cổ đã sống với nhau một cách gần gũi thân quen, giữa họ có sự giao
lưu và tiếp xúc văn hóa và rất có thể họ cùng chung sống trên một địa bàn. Sự có
mặt của người Tày Thái cổ trong lớp cư dân Phùng Ngun - Đơng Sơn là một
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
thực tế lịch sử. Do đó quan hệ của họ với các nhóm cư dân khác ở thời kỳ này
đã tạo nên một cộng đồng cư dân thống nhất mà người Tày cổ là một thành viên
có vai trò quan trọng. Đặc biệt những nguồn sử liệu khác nhau đã nhận ra rằng
người Tày Thái cổ khơng chỉ là chủ nhân của nền văn hóa lúa nước mà thực sự
họ còn là cư dân sơng nước. Điều này thể hiện rõ nét trong phong tục tập qn,
trong đời sống sinh hoạt còn lưu lại của người dân Tày. Tuy hiện nay ho là
những tộc người sinh sống trên miền núi cao, song nơi ở của họ ln được chọn
lựa gần nguồn nước, lấy nước làm tiêu chuẩn hàng đầu cho việc lập làng bản.
Cũng giống như người Việt người Mường trong ký ức và tiềm thức của cư dân
nói tiếng Tày Thái, vẫn lưu lại những hình ảnh liên quan đến nước hay cái
thuyền, nó đã trở thành một tín ngưỡng truyền thống của họ. Một trong những
biểu hiện của tín ngưỡng đó là hình ảnh của “tơ ngược” - trong tiếng Việt là
“con thuồng luồng” và câu chuyện hơn nhân giữa nó với người Tày Thái. Có rất
nhiều câu chuyện kể về các chàng trai thuồng luồng lấy cơ gái Tày - Thái tạo ra
dòng giống kết hợp giữa nước và cạn. Rất có thể đay là nguồn cội sinh ra truyền
thuyết Lạc Long Qn - Âu Cơ giải thích nguồn gốc người Việt cổ. Sự gần gũi
về văn hóa còn t/h ở sự lặp lại tương đối như một mơ típ có sẵn của những câu
chuyện kể dân gian. Khi nghiến cứu truyện Tấm Cám ở vùng Bắc Giang - Bắc
Ninh (xứ Hà Bắc) Cao Huy Đỉnh đã nhận xét rằng “Mặc dù hình tượng cơ Tấm
ở Hà Bắc đã được lịch sử hóa bằng nhân vật nhất lan phu nhân, nhưng cốt
truyện dân gian Tấm Cám ở Hà Bắc lại giống những dị bản cổ của người Tày
Thái. (11).
Hình ảnh những chàng trai cơ gái khổng lồ có cơng khai phá tạo lập bản
mường cũng phổ biến nhất văn hóa Tày Thái người Việt cổ. Đó là những ơng
Đùng bà Đà (của người Việt Mường) là Báo Lng Sao cải (Tày), Sơn Tinh,
Thánh Gióng… hơn nữa trong lễ hội Thánh Gióng ở vùng Gia Lâm, nhân dân
vẫn nhắc tới 2 địa danh mang tiếng Tày Thái là Trại Non” nơi sinh ra Thánh
Gióng và nơi thợ rèn áo giáp cho chàng có tên là “Lang Na” (còn gọi là Y-Na)
thuộc Quế Võ - Bắc Ninh.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Xem chi tiết: 212568


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét