Do nhu cầu về các dịch vụ y tế rất lớn nh vậy và lại mang tính chất đơn
lẻ của các cá nhân nên nhu cầu cần đợc xác định một cách thống nhất, có thể
phân định ra hai loại nhu cầu sau: nhu cầu do cá nhân xác định và nhu cầu do
Chính phủ xác định.
Sự can thiệp của Chính phủ vào việc xác định các nhu cầu về dịch vụ y
tế cũng là một tất yếu trong quá trình quản lý bộ máy Nhà nớc và quản lý nền
kinh tế, đời sống xã hội. Bởi vì việc xác định các nhu cầu về dịch vụ y tế của
các cá nhân chỉ xuất hiện khi họ thực sự cần phải đợc khám chữa bệnh chứ ít
cá nhân lại thấy đợc mình phải đợc phòng bệnh hay cần làm gì để ngăn chặn
các đại dịch xảy ra. Các nhu cầu đợc xác định bởi Chính phủ nhằm góp phần
đẩy lùi các đợt dịch bệnh lây lan hay phòng ngừa những bệnh dễ mắc phải
trong dân c.
Từ việc định hớng xác định nhu cầu về các dịch vụ y tế mà trong quá
trình quản lý, Nhà nớc sẽ có kế hoạch và thực thi các chơng trình mục tiêu để
đảm bảo sức khoẻ cộng đồng và hơn hết là gây dựng đợc sự tin tởng vào bộ
máy Nhà nớc, hệ thống chính trị.
Tìm hiểu về thị trờng dịch vụ y tế
Xuất phát từ nhu cầu các dịch vụ y tế của con ngời và các nhu cầu này
lại có khả năng chi trả từ phía các cá nhân cho nên các mức giá và sản lợng t-
ơng ứng sẽ đợc xác định, theo đó hình thành nên cầu về các dịch vụ y tế. Có
cầu thì có cung đó là điều mà các nhà kinh tế học đã chứng minh: Cung các
dịch vụ y tế là cung hạn chế bởi tính đặc thù và chuyên môn cao vốn có của
ngành y tế. Khi cung và cầu về y tế gặp nhau hình thành nên thị trờng các
dịch vụ y tế.
Điều quan trọng ở đây không phải là chúng ta đi tìm hiểu xem thị tr-
ờng các dịch vụ y tế hoạt động ra sao, mà điểm cốt lõi là đặc trng của thị tr-
ờng này có gì khác biệt với các thị trờng khác, nhằm định hớng cho công tác
triển khai các hoạt động trong sự nghiệp y tế với nền kinh tế thị trờng định h-
ớng XHCN có sự quản lý của Nhà nớc.
5
Trong nền kinh tế thị trờng thì mọi hàng hoá, dịch vụ đợc định giá bởi
thị trờng nhng dịch vụ y tế lại không nên để thị trờng kiểm soát mà phải có
sự quản lý của Chính phủ và đợc trợ cấp bởi Chính phủ theo một số điểm
quan trọng sau:
+ Thị trờng dịch vụ y tế hoạt động phải đem lại mục tiêu công bằng,
nhất là đối với xã hội XHCN tồn tại ở nớc ta. Nếu giá cả và khối lợng dịch vụ
y tế đợc xác định hoàn toàn bởi thị trờng thì gây ra tình trạng mất công bằng,
chỉ có những ngời có đủ tiền mới đợc hởng những dịch vụ y tế có thể với chi
phí cao mà những ngời có thu nhập thấp hơn không thể có đợc.
+ Để đạt đợc công bằng trong thị trờng các dịch vụ y tế thì phải mất đi
tính hiệu quả tơng ứng với công bằng đạt thêm đợc, cho nên đóng vai trò
kiểm soát thị trờng Chính phủ đứng ra trợ cấp để phát triển các dịch
vụ y tế ngày một tốt hơn thông qua những chính sách của mình bằng nguồn
Ngân sách Nhà nớc.
+ Dịch vụ y tế không thể là hàng hoá công cộng thuần tuý mà chỉ gần
gũi với hàng hoá công cộng thuần tuý ( vẫn tồn tại sự cạnh tranh nhng rất hạn
chế ) bởi đây là một yếu tố kích thích và tích luỹ cho thị trờng dịch vụ y tế
phát triển. Hơn nữa, đời sống con ngời ngày một nâng cao nên có thể trang
trải một phần chi phí cho việc sử dụng các dịch vụ y tế, giảm bớt gánh nặng
cho Ngân sách Nhà nớc.
+ Thị trờng y tế phát triển kém hơn các thị trờng khác do thiếu động
cơ lợi nhuận là điều dễ hiểu nhng cần phải duy trì thị trờng này bởi tính đặc
biệt của nó là chăm sóc sức khoẻ và liên quan trực tiếp đến tính mạng con
ngời. Khi thị trờng các dịch vụ y tế bị thu hẹp thì sẽ tạo điều kiện cho kiểm
soát và định hớng theo các mục tiêu của Nhà nớc về quản lý nền kinh tế, xã
hội dễ dàng hơn.
Do có những điểm khác biệt so với các thị trờng khác nên việc quản lý
và định hớng phát triển thị trờng các dịch vụ y tế phải đợc coi là một trong
những chơng trình, chiến lợc quốc gia quan trọng nhất. Ngoài ra, cần phải
hạn chế những tiêu cực do thông tin không tơng xứng đối với ngời sử dụng
6
các dịch vụ y tế đợc cung cấp trên thị trờng, ngời sử dụng dịch vụ y tế không
biết đợc chính xác thông tin về bác sĩ, về thuốc men, về bệnh viện do
không dễ gì có đợc trình độ chuyên môn phù hợp.
Sự nghiệp y tế đặt ra cho nền kinh tế nớc ta
Mục tiêu và bản chất nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN có sự
quản lý của Nhà nớc ở nớc ta, một Nhà nớc của dân, do dân và vì dân, phải
coi y tế là một sự nghiệp chung cũng giống nh sự nghiệp cách mạng, sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta vậy.
Chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân là một trong những công việc hết sức
to lớn, quan trọng mang lợi ích chung và lâu dài cho toàn bộ xã hội. Với ph-
ơng châm xây dựng một xã hội XHCN bền vững và phát triển toàn diện, coi
trọng yếu tố quyết định là con ngời thì không thể đặt các hoạt động y tế
ngoài sự nghiệp chung của toàn xã hội đợc.
Do vậy, sự nghiệp y tế là yêu cầu tất yếu khách quan của chế độ xã hội
ở nớc ta và phải nhằm thực hiện những mục tiêu đem lại những kết quả về
chăm sóc sức khoẻ nhân dân cao nhất. Phấn đấu để mọi ngời dân đều đợc h-
ởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, có điều kiện tiếp cận và sử dụng
các dịch vụ y tế có chất lợng. Mọi ngời đều đợc sống trong cộng đồng an
toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần. Giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao
thể lực, tăng tuổi thọ và phát triển giống nòi.
Trong điều kiện hiện nay, khi chuyển cơ chế mới thì sự nghiệp y tế đ-
ợc xác định là loại hình sự nghiệp có thu tự đảm bảo một phần chi phí hoạt
động thờng xuyên hay là loại hình sự nghiệp có thu tự đảm bảo toàn bộ chi
phí hoạt động thờng xuyên, cụ thể đợc xác định nh sau:
(
1
)
(
1
)
Việc phân chia loại hình sự nghiệp có thu đợc cụ thể hoá trong Nghị định số 10/NĐ-CP ngày
16/01/2002 của Chính phủ và Thông t số 25/2002/TT-BTC ngày 21/03/2002 của Bộ tài chính.
7
Mức tự đảm bảo chi
phí hoạt động thư
ờng xuyên của đơn
vị sự nghiệp
[A](%)
Tổng số nguồn thu sự nghiệp
Tổng số chi hoạt động thường xuyên
X100%
Trong đó:
Tổng số thu sự nghiệp của đơn vị bao gồm:
+ Tiền thu phí, lệ phí thuộc Ngân sách Nhà nớc ( phần đợc để lại đơn
vị thu theo quy định): Mức thu phí, lệ phí, tỷ lệ nguồn thu đợc để lại đơn vị
sử dụng và nội dung chi thực hiện theo quy định của cơ quan Nhà nớc có
thẩm quyền đối với từng loại phí, lệ phí.
+ Thu từ hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ: Mức thu từ các hoạt
động này do Thủ trởng đơn vị quyết định, theo nguyên tắc đảm bảo bù đắp
chi phí và có tích luỹ.
+ Các khoản thu sự nghiệp khác theo quy định của pháp luật (nếu có).
Tổng số chi hoạt động thờng xuyên của đơn vị theo chức năng, nhiệm
vụ đợc cấp có thẩm quyền giao và chi cho các hoạt động có thu sự nghiệp,
bao gồm:
+ Chi cho ngời lao động: chi tiền lơng, tiền công; các khoản phụ cấp l-
ơng; các khoản trích bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn theo
quy định
+ Chi quản lý hành chính: vật t văn phòng, dịch vụ công cộng, thông
tin liên lạc, công tác phí, hội nghị phí
+ Chi các hoạt động nghiệp vụ.
+ Chi hoạt động tổ chức thu phí, lệ phí.
+ Chi hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ ( kể cả chi nộp thuế, trích
khấu hao tài sản cố định).
+ Chi mua sắm tài sản, sửa chữa thờng xuyên cơ sở vật chất: nhà cửa,
máy móc thiết bị
+ Chi khác.
+ Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thờng xuyên:
Là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp đảm bảo đợc toàn bộ chi phí hoạt động th-
8
ờng xuyên, ngân sách không phải cấp kinh phí bảo đảm hoạt động thờng
xuyên cho đơn vị ( đây là những đơn vị có tỷ lệ A lớn hơn hoặc bằng 100%).
+ Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thờng
xuyên: Là đơn vị có nguồn thu sự nghiệp cha tự trang trải toàn bộ chi phí
hoạt động thờng xuyên, Ngân sách Nhà nớc cấp một phần chi phí hoạt động
thờng xuyên cho đơn vị ( đây là những đơn vị có tỷ lệ A nhỏ hơn 100%).
Theo đó, các đơn vị sự nghiệp y tế hiện nay đợc chủ động hơn trong
hoạt động của mình khi áp dụng Nghị định 10/2002/NĐ-CP, phần nào giảm
bớt đi gánh nặng cho Ngân sách Nhà nớc và thể hiện sự đổi mới trong quản
lý các đơn vị sự nghiệp có thu nói chung cũng nh sự nghiệp y tế nói riêng.
9
1.1.2. Nội dung quản lý chi Ngân sách Nhà nớc cho sự nghiệp y tế tuyến
cơ sở
Sự nghiệp y tế đóng vai trò hết sức quan trọng trong khám chữa bệnh
và thực hiện các chiến lợc chăm sóc sức khoẻ ban đầu mà Đảng và Nhà nớc
ta đã đề ra, cho nên phần lớn nguồn tài chính của các đơn vị sự nghiệp y tế
thuộc nguồn Ngân sách Nhà nớc. Nguồn Ngân sách Nhà nớc cấp cho các đơn
vị hoạt động sự nghiệp y tế bao gồm:
(1)
3Đối với cả hai loại đơn vị sự nghiệp có thu, đơn vị sự nghiệp tự bảo
đảm chi phí và đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí, thì nguồn
Ngân sách Nhà nớc cấp ( cả Ngân sách Trung ơng và Ngân sách địa phơng)
là các khoản sau:
+ Chi phí thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nớc, cấp Bộ,
ngành; chơng trình mục tiêu quốc gia và các nhiệm vụ đột xuất khác đợc cấp
có thẩm quyền giao.
+ Kinh phí Nhà nớc thanh toán cho đơn vị sự nghiệp theo chế độ đặt hàng
để thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nớc giao, theo giá hoặc khung giá do
Nhà nớc quy định ( điều tra, quy hoạch, khảo sát ).
+ Kinh phí cấp để thực hiện tinh giảm biên chế theo chế độ do Nhà nớc quy
định đối với số lao động trong biên chế dôi ra.
+ Vốn đầu t xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt
động sự nghiệp theo dự án và kế hoạch hàng năm; vốn đối ứng cho các dự án
đợc cấp có thẩm quyền phê duyệt.
3Riêng đối với đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí, nguồn Ngân sách
Nhà nớc cấp kinh phí hoạt động thờng xuyên. Mức kinh phí Ngân sách Nhà
nớc cấp đợc ổn định theo định kỳ 3 năm và hàng năm đợc tăng thêm theo tỷ
lệ do Thủ tớng Chính phủ quyết định. Hết thời hạn 3 năm, mức Ngân sách
Nhà nớc bảo đảm sẽ đợc xác định lại cho phù hợp.
(1)
Đợc quy định theo Thông t số 25/2002/TT-BTC ngày 21/03/2002 của Bộ tài chính
10
Ngoài nguồn từ Ngân sách Nhà nớc, chi cho các hoạt động sự nghiệp y
tế còn bao gồm các khoản khác nh: nguồn thu sự nghiệp của các đơn vị ( đã
nêu ở phần 1.2.1.) và các nguồn khác theo quy định ( các dự án viện trợ, quà
biếu tặng ).
Nội dung các hoạt động trong sự nghiệp y tế tuyến cơ sở
Sự nghiệp y tế tuyến cơ sở ( gồm y tế thôn, bản, xã, phờng, quận,
huyện, thị xã ) là tuyến y tế trực tiếp gần dân nhất, bảo đảm cho mọi ngời dân
đợc chăm sóc sức khoẻ cơ bản với chi phí thấp, góp phần thực hiện công
bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo, xây dựng nếp sống văn hoá, trật tự an toàn
xã hội, tạo niềm tin của nhân dân với chế độ xã hội chủ nghĩa. Do vậy, các
hoạt động y tế cơ sở phải là toàn diện và nằm trong các hoạt động chủ yếu
sau:
+ Các hoạt động khám chữa bệnh thông thờng, sơ cứu bệnh nhân nặng
và chăm sóc sức khoẻ ban đầu trên địa bàn quận, huyện, xã, phờng là chủ yếu
( những trờng hợp bệnh nhân nặng phải chuyển lớn tuyến trên).
+ Hoạt động trong khuôn khổ các chơng trình quốc gia về y tế: các
đơn vị sự nghiệp y tế tuyến cơ sở là các đơn vị trực tiếp triển khai các chơng
trình dới sự chỉ đạo trực tiếp về nghiệp vụ của các sở y tế, bao gồm các mục
tiêu sau:
+ Mục tiêu phòng chống bệnh sốt rét.
+ Mục tiêu phòng chống bệnh bớu cổ.
+ Mục tiêu tiêm chủng mở rộng.
+ Mục tiêu phòng chống lao.
+ Mục tiêu phòng chống bệnh phong.
+ Mục tiêu phòng chống bệnh sốt xuất huyết.
+ Mục tiêu phòng chống suy dinh dỡng trẻ em.
+ Mục tiêu phòng chống HIV/AIDS.
+ Mục tiêu nâng cấp thiết bị y tế.
11
Ngoài ra, tuyến y tế cơ sở còn đóng góp hoạt động của mình trong các
nghiệp vụ sau:
+ Thờng xuyên tổ chức kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, xử lý và
khắc phục nhanh chóng hậu quả của thảm họa, thiên tai, phòng chống tai nạn
và thơng tích, nhất là tai nạn giao thông, tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp hay xử lý các tác động gây ô nhiễm môi trờng và tác động xấu đến
sức khoẻ nh chất thải bệnh viện, hoá chất bảo vệ thực vật
+ Trực tiếp tiếp tham gia các đợt phòng dịch và ngăn chặn các bệnh
dịch lây lan kịp thời nh: dịch bệnh tiêu chảy, uốn ván, nhiễm khuẩn hô hấp
cấp, thấp tim, giun sán Tham gia triển khai chơng trình sức khoẻ sinh sản
và kế hoạch hoá gia đình nh truyền thông, tuyên truyền sinh đẻ có kế hoạch,
chăm sóc sản khoa
+ Tổ chức cai nghiện ma tuý và tuyên truyền tác hại của ma tuý sâu
rộng trong mọi tầng lớp nhân dân.
+ Các hoạt động y tế khác.
Các hoạt động sự nghiệp y tế ở tuyến cơ sở trực tiếp tác động đến đời
sống nhân dân trên các địa bàn dân c nên việc thực hiện quản lý các hoạt
động này có ý nghĩa quan trọng bậc nhất và tạo cơ sở vững chắc của cả thực
hiện các chủ trơng chính sách về y tế của Nhà nớc cũng nh giảm bớt gánh
nặng cho các tuyến y tế cấp trên.
Công tác quản lý chi Ngân sách Nhà nớc cho sự nghiệp y
tế tuyến cơ sở
Sự nghiệp y tế có tính chất quan trọng trong các chiến lợc phát triển
kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nớc ta đề ra, đặt dới sự lãnh đạo của các
cơ quan Hành chính sự ngiệp và các cơ quan quản lý Nhà nớc nên các đơn vị
sự nghiệp hoạt động trong lĩnh vực y tế đợc xác định lấy nguồn từ Ngân sách
Nhà nớc đảm bảo cho hầu hết các hoạt động của mình. Do vậy, việc quản lý
Ngân sách Nhà nớc chi cho sự nghiệp y tế là yêu cầu không thể thiếu trong
12
điều kiện cần phát huy hơn nữa vai trò và hiệu quả của y tế trong đời sống
kinh tế xã hội.
Để quản lý các khoản chi Ngân sách Nhà nớc cho sự nghiệp y tế cũng
nảy sinh nhiều cách thức phân chia khác nhau nhng một cách tổng quát có
thể chia làm các nhóm chi chủ yếu sau:
- Nhóm một: Các khoản chi thờng xuyên. Chi thờng xuyên là những
khoản chi có tính định kỳ và thờng xuyên trong toàn bộ hoạt động sự nghiệp.
Trong nhóm chi thờng xuyên lại bao gồm một số khoản cụ thể sau:
+ Chi cho con ngời: đây là các khoản chi chủ yếu phục vụ cho đội ngũ
cán bộ công nhân viên hoạt động trong lĩnh vực y tế cũng nh quản lý về y tế
nh: chi tiền lơng, tiền công, tiền thởng, phụ cấp, các khoản đóng góp, phúc
lợi tập thể và các khoản thanh toán khác cho cán bộ công nhân viên.
+ Chi cho các nghiệp vụ chuyên môn: là các khoản chi đặc thù cho
lĩnh vực y tế nh: mua sắm thuốc chữa bệnh, bơm kim tiêm, bông, băng, gạc,
cồn, phim chụp X quang ; vật t, trang thiết bị kỹ thuật chuyên dùng không
phải là tài sản cố định và các khoản chi khác.
+ Chi cho quản lý hành chính: bao gồm các khoản chi phục vụ cho
việc quản lý mọi hoạt động sự nghiệp y tế nh: chi mua vật t văn phòng, điện,
nớc, thuê bao điện thoại, chi hội nghị, tiếp khách, chi thuê mớn và các khoản
chi khác có liên quan.
- Nhóm hai: Chi mua sắm, sửa chữa. Nhóm chi này bao gồm các
khoản chi chủ yếu cho tài sản cố định: các chi phí sửa chữa tài sản cố định;
mua sắm tài sản cố định; vận chuyển, lắp đặt tài sản cố định; chi phí thanh lý,
nhợng bán tài sản cố định Do tài sản cố định sử dụng trong lĩnh vực y tế có
đặc thù riêng và thuộc về sự nghiệp của Nhà nớc nên không đợc khấu hao để
bù đắp tài sản cố định, không tránh khỏi việc sử dụng kém hiệu quả, lãng phí.
- Nhóm ba: Chi khác. Đây là các khoản chi phát sinh không thờng
xuyên, đột xuất và không thuộc các khoản chi trên.
13
Các khoản chi Ngân sách Nhà nớc hiện nay đợc cấp phát theo một số
hình thức sau:
+ Phơng thức cấp phát theo hạn mức kinh phí: định kỳ cơ quan tài
chính cấp phát hạn mức cho các đơn vị sự nghiệp, căn cứ vào hạn mức mà
các đơn vị rút tiền từ Kho bạc để chi tiêu, hết hạn thời hạn của hạn mức mà
hạn mức chi không hết sẽ bị xoá bỏ. Phơng thức này chủ yếu đợc sử dụng
trong cấp phát kinh phí chi thờng xuyên.
+ Phơng thức cấp phát theo lệnh chi: kinh phí sau khi cấp phát theo
lệnh chi qua Kho bạc nhà nớc quận, huyện tài khoản tiền gửi của các đơn vị
sẽ đợc tăng thêm đúng bằng số ghi trong lệnh chi, sau khi hết niên độ kế toán
mà đơn vị không chi hết số kinh phí đó thì số còn lại nằm trong số d của tài
khoản tiền gửi sẽ đợc chuyển sang năm sau. Phơng thức này dùng cho các cơ
quan, đơn vị không có quan hệ thờng xuyên với Ngân sách Nhà nớc hay các
khoản chi đầu t, mua sắm tài sản cố định của đơn vị sự nghiệp.
+ Phơng thức cấp phát ủy quyền: phơng thức này chủ yếu áp dụng cho
quan hệ giữa Ngân sách Nhà nớc Trung ơng và Ngân sách Nhà nớc địa ph-
ơng, áp dụng phơng thức này khi các đơn vị thực hiện các nhiệm vụ chi tiêu
trên địa bàn do Ngân sách Nhà nớc Trung ơng đảm nhận; khi quyết toán
thuộc về Ngân sách Nhà nớc trung ơng.
+ Phơng thức ghi thu- ghi chi: cho phép các đơn vị sự nghiệp sử dụng
các khoản thu sự nghiệp để chi tiêu trực tiếp.
+ Phơng thức cấp phát theo số lợng công trình hoàn thành: Phơng thức
này đợc áp dụng trong cấp phát vốn đầu t xây dựng cơ bản, thờng thì cơ quan
tài chính tạm ứng theo công trình, sau khi công trình hoàn thành thì quyết
toán số còn lại.
Tuy nhiên, để thuận tiện cho việc quản lý và hạch toán Ngân sách Nhà
nớc chi cho sự nghiệp y tế thì các đơn vị sự nghiệp y tế phải quản lý danh
mục các khoản chi theo chi tiết hệ thống Mục lục Ngân sách Nhà nớc hiện
hành.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét