Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Hoàn thiện quy chế trả lương tai Công ty TNHH T&T Hưng Yên

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
1.4. Tiền lương tối thiểu
Tiền lương tối thiểu được hiểu là số tiền nhất định trả cho người lao động
tương ứng với trình độ lao động giản đơn nhất, cường độ lao động nhẹ nhàng nhất
diễn ra trong điều kiện lao động bình thường, số tiền đó đảm bảo nhu cầu tiêu dùng
các tư liệu sinh hoạt ở mức tối thiểu cần thiết để tái sản suất sức lao động.
Hệ thống tiền lương tối thiểu có thể được tính theo giờ, ngày hoặc tháng.
Trong thực tế thì tiêu chuẩn để quy định một mức lương tối thiểu là rất phức tạp,
nó có thể dựa vào các mục tiêu của hệ thống và cả những nhân tố về kinh tế và xã
hội.
Mức lương tối thiểu có thể được quy định áp dụng cho từng nghành, từng
nghề, quận, huyện hoặc khu vực riêng lẻ tạo nên một hệ thống thang lương tối
thiểu mang tính phức tạp trong cả nước và có thể được áp dụng cho mọi thành
phần kinh tế.
Mục tiêu căn bản của hệ thống tiền lương tối thiểu nhằm tránh bóc lột sức
lao động và giảm đói nghèo. Do đó, những thỏa thuận liên quan đến việc chống
bóc lột sức lao động thì tiền lương tối thiểu được xem là cơ bản cho những người
lao động, họ sẽ dành được một khoản tiền khi họ bỏ sức lực của mình ra để làm
những công việc mà họ đạt được.
1.5. Tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế
Tiền lương danh nghĩa được hiểu là số tiền mà người sử dụng lao động phải
trả cho người lao động. Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc trực tiếp vào năng suất
lao động và hiệu quả làm việc của người lao động, phụ thuộc vào trình độ, kinh
nghiệm làm việc ngay trong quá trình lao động.
Tiền lương thực tế được hiểu là số lượng các loại hàng hóa tiêu dùng và các
loại dịch vụ cần thiết mà người lao động hưởng lương có thể mua được bằng tiền
lương danh nghĩa của họ sau khi đã nộp các khoản thuế theo quy định của chính
phủ.
Đào Văn Lý – Lao động 45a
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2. Chức năng của tiền lương
2.1. Chức năng thức đo giá trị
Trước đây và hiện nay, chức năng thước đo giá trị vẫn là chức năng cơ bản
và quan trọng nhất của tiền lương. Là chức năng cơ sở để điều chỉnh giá cả cho
phù hợp mỗi khi giá cả (bao gồm cả giá cả sức lao động) biến động. Là thước đo
để xác định mức tiền công của các loại lao động, làm căn cứ để thuê mướn lao
động, là cơ sở để xác định đơn giá sản phẩm.
giá trị của việc làm được biểu hiện bởi các yếu tố sau:
-Tính chất kỹ thuật của việc làm: Các đặc thù về công nghệ và kỹ thuật sử
dụng việc làm.
- Tính chất kinh tế của việc làm: Vị trí của việc làm trong hệ thống quan hệ
lao động (làm quản lý, công nhân, nhân viên)
- Các yêu cầu về năng lực và phẩm chất của người lao động: Trình độ tay
nghề, kinh nghiệm, khả năng thành thạo nghề.
Quan điểm trên không trái với quam điểm của C.Mác: “Tiền lương là biểu
hiện của giá trị sức lao động. Giá trị sức lao động được đo bằng giá trị tư liệu sinh
hoạt cần thiết để bù đắp lại sức lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất, những
giá trị của những chi phí cần thiết nuôi sống con người trước và sau tuổi có khả
năng lao động, những giá trị của những chi phí cần thiết cho việc học hành. Những
chi phí này không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu tự nhiên và sinh lý của mỗi con
người, mà còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của kinh tế, của xã hội và cả các tư
liệu sinh hoạt. Như vậy tiền lương thường xuyên biến động xung quanh giá trị, nó
còn phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu và giá cả tư liệu sinh hoạt”.
2.2. Chức năng tái sản suất sức lao động .
Tái sản suất sức lao động thể hiện ở ba mặt sau :
Một là: Duy trì và phát triể sức lao động của chính bản thân người lao động
Đào Văn Lý – Lao động 45a
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Hai là : Sản suất ra sức lao động là hoàn thiện kỹ năng lao động và nâng cao
trình độ lành nghề, kỹ thuật chuyên môn, và tích lũy kinh nghiệm.
Ba là : Tăng cường chất lượng của sức lao động là hoàn thiện kỹ năng lao
động và nâng cao trình độ lành nghề, kỹ thuật chuyên môn và tích lũy kinh
nghiệm.
Sức lao động là tổng thể năng lực hoạt động của con người bao gồm cả thể
lực và trí lực. C.Mác viết: “Những lao động có ích hay những lao động sản suất, dù
có muôn hình muôn vẻ đến đâu thì sự thật về mặt sinh lý vẫn là : Chức năng cơ thể
của con người và bất cứ chức năng nào giống như vậy, dù có nội dung và hình thức
thế nào đi nữa thì chủ yếu vẫn là sự tiêu hao của bộ óc, của thần kinh, của bắp
thịt ”. Nhưng đó mới chỉ đơn thuần là sự bù đắp về thể chất, tái sản suất lao động
còn nhằm nâng cao trình độ lành nghề, kỹ thuật chuyên môn và tích lũy kinh
nghiệm. C.Mác viết: “ Để cho sức lao động phát triển theo đúng hướng nhất định
phải có sự giáo dục nào đó, mà chính sự giáo dục này lại tốn một lượng hàng hóa
ngang giá”. Đây chính là nhu cầu tai sản suất mở rộng cho người lao động.
Như vậy giá trị sức lao động được đo bằng giá trị tư liệu sinh hoạt và dịch
vụ cần thiết bù đắp lại sức lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất. Tiền lương
chính là một hình thái biểu hiện của giá trị sức lao động. Nó là sản phẩm tất yếu
thông qua trao đổi trên thị trường hàng hóa sức lao động, là sản phẩm tất yếu thông
qua trao đổi trên thị trường hàng hóa sức lao động tạo điều kiện làm chức năng
khôi phục sức lao động đã hao phí.
2.3. Chức năng kích thích lao động.
Tiền lương là bộ phận thu nhập chính của người lao động nhằm thảo mãn
phần lớn các nhu cầu về vật chất và văn hóa của người lao động. Do vậy, các mức
tiền lương là các đòn bẩy kinh tế rất quan trọng để định hướng sự quan tâm và
động cơ trong lao động của người lao động. Chức này đảm bảo khi người lao động
làm việc có năng suất cao, đem lại hiệu quả rõ rệt thì người sử dụng lao động cần
Đào Văn Lý – Lao động 45a
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quan tâm đến việc tăng lương cao hơn so với giá trị sức lao động để kích thích
người lao động. Ngoài việc tăng lương người sử dụng lao động cần áp dụng biện
pháp thưởng. Số tiền này bổ sung cho tiền lương, mang tính chất nhất thời, không
ổn định nhưng lại có tác động mạnh mẽ tới năng suất, chất lượng và hiệu quả lao
động.
2.4. Chức năng tích lũy
Tiền lương trả cho người lao động phải đảm bảo duy trì được cuộc sống
hàng ngày trong thời gian làm việc, và còn dự phòng cho cuộc sống lâu dài khi họ
hết khả năng lao động hoặc gặp rủi ro.
2.5. Chức năng xã hội của tiền lương.
Cùng với kích thích không ngừng nâng cao năng suất lao động, tiền lương là
yếu tố kích thích các mối quan hệ lao động.
Thực tế cho thấy, việc duy trì các mức tiền lương cao và tăng không ngừng
chỉ được thực hiện trên cơ sở hài hòa các mối quan hệ lao động. Việc gắn tiền
lương với kết quả lao động và đơn vị kinh tế sẽ thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác,
giúp đỡ lẫn nhau, nâng cao hiệu quả cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đạt được
mức tiền lương cao hơn. Bên cạnh đó, tạo tiền đề cho sự phát triển toàn diện của
con người và thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng dân chủ và văn minh.
Như vậy, chúng ta có thể kết luận: Tiền lương là một phạm trù kinh tế- xã
hội tổng hợp, là đòn bẩy kinh tế rất quan trọng trong sản suất, đời sống và các mặt
khác của đời sống kinh tế xã hội. Tiền lương được trả đúng có tác dụng tái sản suất
sức lao động; không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao
động; tạo điều kiện hoàn thiện các mối quan hệ lao động; thúc đẩy người lao động
và xã hội cùng phát triển.
3. Ý nghĩa của tiền lương
 Đối với người lao động.
Đào Văn Lý – Lao động 45a
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Tiền lương là phần cơ bản nhất trong thu nhập của người lao động giúp cho
họ và gia đình họ trang trải các chi tiêu, sinh hoạt, dịch vụ cần thiết
Tiền lương kiếm được còn ảnh hưởng đến địa vị của người lao động trong
gia đình, địa vị của họ trong tương quan với các bạn đồng nghiệp cũng như giá trị
tương đối của họ với tổ chức và với xã hội.
Khả năng kiếm được tiền lương cao hơn sẽ tạo ra động lực thúc đẩy người
lao động ra sức học tập để nâng cao giá trị của họ đối với tổ chức thông qua sự
nâng cao trình độ và sự đóng góp cho tổ chức.
 Đối với tổ chức.
Tiền lương là một phần quan trọng của chi phí sản suất. tăng tiền lương sẽ
ảnh hưởng tới chi phí, giá cả và khả năng cạnh tranh của sản phẩm của công ty trên
thị trường.
Tiền lương là công cụ để duy trì, gìn giữ và thu hút những người lao động
giỏi, có khả năng phù với công việc của tổ chức.
Tiền lương cùng với các loại thù lao khác là công cụ để quản lý chiến lược
nguồn nhân lực và có ảnh hưởng đến các chức năng khác của quản lý nguồn nhân
lực.
 Đối với xã hội
Tiền lương đóng một phần đáng kể vào thu nhập quốc dân thông qua con
đường thuế thu nhập và góp phần làm tăng nguồn thu của chính phủ cũng như giúp
cho chính phủ điều tiết được thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội.
Tiền lương có ảnh hưởng quan trọng tới các nhóm xã hội và các tổ chức
khác nhau trong xã hội. Tiền lương cao hơn giúp cho người lao động có sức mua
cao hơn và điều đó làm tăng sự thịnh vượng của cộng đồng nhưng mặt khác có thể
có thể dẫn tới tăng giá cả và làm giảm mức sống của những người có thu nhập
không đuổi kịp mức tăng của giá cả. Giá cả cao lại có thể làm giảm cầu và dịch vụ
và dẫn tới giảm công ăn việc làm.
Đào Văn Lý – Lao động 45a
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
4. Các nguyên tắc cơ bản của tổ chức tiền lương
Để tiền lương và tiền công thực sự là động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh
phát triển đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, cũng như góp phần
thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”, có những
nguyên tắc cơ bản và quan trọng của tiền lương cần phả được quán triệt xuyên xuốt
quá trình xây dựng và thực hiện chế độ tiền lương.
4.1. Trả lương ngang nhau cho lao động như nhau.
Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc phân phối theo lao động, những
người lao động khác nhau về tuổi tác, giới tính, trình độ nhưng có mức hao phí
sức lao động như nhau thì được trả lương như nhau. Ngược lại, theo C.Mác: “Vì
những loại lao động khác nhau đều có giá trị khác nhau, nghĩa là để sản suất ra
những loại lao động đó thì cần đến số lượng lao động khác nhau, nên những loại
lao động do tất yếu phải có những giá cả khác nhau trên thị trường lao động. Đây
là một nguyên tắc rất quan trọng vì nó đảm bảo được sự công bằng, bình đẳng
trong trả lương, sẽ có sức khuyến khích rất lớn với người lao động.
nguyên tắc này được thể hiện trong các thang lương và các hình thức trả
lương, trong cơ chế và phương thức trả lương, trong chính sách về tiền lương tiền
công.
4.2. Đảm bảo năng suất lao động tăng nhanh hơn tiền lương - tiền công bình
quân.
Tiền lương - tiền công tăng là do trình độ tổ chức quản lý lao động ngày
càng hiệu quả hơn. NSLĐ tăng ngoài hai yếu tố đó còn có nguyên nhân khác như
đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ, trang bị kỹ thuật và sử dụng hiệu quả các
nguồn tài nguyên thiên nhiên Như vậy về khách quan NSLĐcó khả năng tăng
nhanh hơn tiền lương –tiền công bình quân.
Quy luật tái sản xuất mở rộng đòi hỏi khu vực sản xuất tư liệu sản xuất( khu
vực một) phải tăng tăng nhanh hơn khu vực sản xuất vật phẩm tiêu dùng( khu vực
Đào Văn Lý – Lao động 45a
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
hai). Vậy tổng sản phẩm xã hội tính theo đầu người của khu vực hai ( cơ sở của
tiền lương- tiền công thực tế). Mặt khác không phải toàn bộ tiền lương của khu vục
hai dược dùng cho tiêu dùng để nâng cao tiền lương- tiền công mà một phần trong
đó dùng để tích lũy.
Trong doanh nghiệp khi tăng tiền lương tiền công dẫn đến tăng chi phí sản
xuất, tăng NSLĐ lại làm giảm chi phí cho từng đơn vị sản phẩm. Một doanh
nghiệp kinh doanh có hiệu quả khi chi phí nói chung cũng như chi phí cho một đơn
vị sản phẩm giảm đi, tức mức giảm do tăng NSLĐ phải lớn hơn mức tăng tiền
lương – tiền công bình quân.
4.3. Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương - tiền công giữa những người lao
động làm các nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc đân.
Yêu cầu này nhằm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong trả lương cho
người lao động dựa trên những cơ sở sau:
 Trình độ lành nghề bình quân ở mỗi nghành.
Do dặc điểm và tính chất phức tạp về kỹ thuật và công nghệ ở các nghề khác
nhau cũng khác nhau nên trình độ lành nghề bình quân của người lao động giữa
các nghành khác nhau cũng khác nhau.Do đó, phải phân biệt trong trả lương nhằm
khuyến khích người lao động nâng cao tay nghề.
 Điều kiện lao động
Những người làm việc trong điều kiện nặng nhọc, độc hại, hao tốn sức lực
phải được trả lương cao hơn so với những người làm việc trong điều kiện bình
thường. Do đó, có các loại phụ cấp về điều kiện lao động để trả cho người lao động
ở những công việc có điều kiện làm việc rất khác nhau.
 Ý nghĩa kinh tế của mỗi nghành trong nền kinh tế quốc dân.
Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn của sự phát triển mỗi nước, một số
nghành được xem là trọng điểm vì nó có tác dụng rất lớn đến sự phát triển của đất
nước. Sự ưu tiên các ngành đó là dùng tiền lương- tiền công để thu hút và khuyến
Đào Văn Lý – Lao động 45a
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khích người lao động trong ngành là dùng tiền lương - tiền công để thu hút và
khuyến khích người lao động trong ngành. Thực tế, sự phân biệt này có thể trong
tiền lương - tiền công( qua thang bảng lương). Hoặc các loại phụ cấp khuyến
khích.
 Phân bổ theo khu vực sản suất.
Để thu hút, khuyến khích lao động làm việc ở vùng xa xôi hẻo lánh vùng có
điều kiện kinh tế -xã hội khó khăn phải có chính sách tiền lương- tiền công thích
hợp với các loại phụ cấp, ưu đãi thỏa đáng. Có như vậy mới sử dụng hợp lý lao
động, khai thác có hiệu quả các nguồn lực, tài nguyên ở mọi miền đất nước.
II. NỘI DUNG CỦA QUY CHẾ TRẢ LƯƠNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
TRONG DOANH NGHIỆP.
1. Những nguyên tắc chung
- Trả lương đầy đủ đúng thời hạn và tại nơi làm việc.
- Trả lương bằng tiền mặt, không được trả bằng hiện vật
- Việc trả lương phải dựa trên cơ sở năng suất, chất lượng hiệu quả công
việc.
2. Nguồn hình thành quỹ lương và sử dụng quỹ lương.
2.1. Nguồn hình thành quỹ tiền lương.
Căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp
xác định nguồn quỹ tiền lương tương ứng để trả lương cho người lao động. nguồn
bao gồm:
 Quỹ tiền lương theo đơn giá tiền lương được giao.
 Quỹ tiền lương bổ sung theo chế độ quy định của nhà nước.
 Quỹ tiền lương từ các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ khác ngoài
đơn giá tiền lương được giao.
 Quỹ tiền lương dự phòng từ năm trước chuyển sang
 Quỹ tiền lương được tính từ lợi nhuận tăng thêm so với lợi nhuận kế hoạch.
Đào Văn Lý – Lao động 45a
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nguồn tiền lương nêu trên được gọi là tổng quỹ lương
2.2. Sử dụng quỹ lương
Để đảm bảo quỹ tiền lương không vượt chi so với quỹ tiền lương được
hưởng , dồn chi quỹ lương vào các tháng cuối năm hoặc để dự phòng quỹ tiền
lương quá lớn cho năm sau , có thể quy định phân chia tổng quỹ tiền lương cho các
quỹ sau :
Quỹ tiền lương trả trực tiếp cho người lao động theo lương khoán , lương
sản phẩm , lương thời gian ( ít nhất bằng 76% tổng quỹ lương ).
Quỹ khen thưởng từ quỹ lương đối với người lao động có năng suất , chất
lượng cao có thành tích trong công tác ( tối đa không vượt quá 10% tổng quỹ tiền
lương ).
Quỹ khuyến khích người lao động có trình độ chuyên môn , kỉ luật cao , tay
nghề giỏi ( tối đa không vượt quá 2% tổng quỹ tiền lương ).
Quỹ dự phòng cho năm sau ( tối đa không quá 12% tổng quỹ lương ).
3. Các hình thức trả lương
3.1. hình thức trả lương theo thời gian
Tiền lương theo thời gian là tiền trả cho người lao động căn cứ vào mức
lương cấp bậc hoặc chức vụ và thời gian làm việc thực tế của công nhân viên chức.
Tiền lương trả theo thời gian chủ yếu được áp dụng đối với những người làm
công tác quản lý, còn đối với công nhân sản xuất chỉ áp dụng đối với nhưng bộ
phận lao động bằng máy móc hoặc những công việc không thể tiến hành định mức
một cách chặt chẽ và chính xác, hoặc vì tính chất của sản xuất mà việc trả công
theo sản phẩm không đảm bảo chất lượng sản phẩm, không đem lại hiệu quả thiết
thực.
Hình thức trả lương theo thời gian rất dễ bị vi phạm nguyên tắc thứ nhất. Vì
theo hình thức này người ta trả lương cho người lao động dựa vào thời gian làm
việc của người lao động và bậc lương của họ mà không xét đến trình độ lao động
Đào Văn Lý – Lao động 45a
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
và kết quả công việc. Do đó tiền lương không gắn trực tiếp với kết quả sản xuất
của người lao động. vì vậy hình thức trả lương này không được áp dụng rộng rãi.
Để đảm bảo ba nguyên tắc của tổ chức tiền lương cần được xác định trình độ
lành nghề để xác định hệ số lương của họ. Từ đó đối chiếu vào thang lương cấp
bậc để tính ra suất lương thời gian theo cấp bậc như sau:
Mi = M1 x Ki
Trong đó:
Mi: Mức lương bậc i (mức lương bậc i của công nhân bậc i)
M1: mức lương tối thiểu
Ki: hệ số lương bậc i và được quy đinh ở thang lương
Lương TGi =Mi * Thời gian làm việc thực tế
3.1.1. Chế độ trả lương theo thời gian giản đơn.
Chế độ trả lương theo thời gian là chế độ trả lương mà tiền lương nhận được
của mỗi người lao động do mức lương thời gian cao hay thấp và thời gian làm việc
thực tế nhiều hay ít quyết định.
Chế độ trả lương này chỉ áp dụng ở những nơi khó xác định mức lao động
chính xác, khó đánh giá công việc chính xác.
Tiền lương được tính như sau:
L
tt
= L
cb
* T
Trong đó:
L
tt
: Là tiền lương thực tế mà người lao động nhận được.
L
cb:
Tiền lương cấp bấc tính theo thời gian .
Có ba loại lương thời gian đơn giản:
- Lương giờ : Tính theo mức lương cấp bậc giờ làm việc.
- Lương ngày : Tính theo mức lương cấp bậc ngày và số ngày làm việc trong
tháng.
- Lương tháng : Tính theo mức lương cấp bậc tháng.
Đào Văn Lý – Lao động 45a

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét