Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
+ Lệ phí thay đổi theo số lợng, nồng độ và loai chất gây ô nhiễm đ-
ợc thải ra
+ Lệ phí ô nhiễm áp dụng cho việc xả thải nớc thải công nghiệp đối
với chất gây ô nhiễm nhất định nào đó đợc tính bằng cách nhân với lợng nồng
độ chất gây ô nhiễm vợt quá tiêu chuẩn.
Malaysia một nớc trong khu vực, vào giữa những năm 1979, chính phủ
Malaysia đã tiến hành áp dụng hệ thu phí đối với ngành chế biến dầu cọ thô,
chế biến cao su tự nhiên và các hoạt động khai hoang. Hệ thống này đợc thiết
lập trên cơ sở các tiêu chuẩn về nồng độ cho phép trong nớc thải cảu các chất
gây ô nhiễm. Các lệ phí ấn định cho việc xả thải các chất gây ô nhiễm ở dới
mức tiêu chuẩn. Vợt quá mức tiêu chuẩn phải bị sử phạt mức nộp lệ phí.
Còn với các quốc gia phat triển OECD áp dụng phí đánh vào nguồn gây ô
nhiễm nớc, loại phí này đợc áp dụng riêng không liên quan gì đến hệ thống xử
lí nớc thải từ các nhà máy xí nghiệp. ở hầu hết các nớc OECD phí sử dụng hệ
thống thoát nớc thải là công trình công cộng, chịu sự quản lí và giám sát của
chính quyền địa phơng. Do đó, các hộ gia đình và cơ sở sản xuất thờng phải trả
lệ phí do sử dụng hệ thống công cộng này.
Từ kinh nghiệm, cũng nh thực tế của các quốc gia đã làm trớc chúng ta có
thể thấy rằng, phí bảo vệ ô nhiễm môi trờng nói chung và phí nớc thải nói riêng
đợc áp dụng là một thực tế khách quan và cũng là xu hớng chung và tất yếu của
thế giới
Còn với nớc ta phí bảo vệ môi trờng có mục đích khuyến khích các nhà
sản xuất, kinh doanh đầu t giảm thiểu ô nhiễm, thay đổi hành vi ô nhiễm theo h-
ớng tích cực cho môi trờng, có lợi cho môi trờng. Ngoài ra phí bảo vệ môi trờng
còn có mục đích khác là tạo thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nớc để đầu t
khắc phục và cai thiện môi trờng. Với mục đích này, phí bảo vệ môi trờng là
công cụ kinh tế đợc xây dựng trên nguyên tắc ngời gây ô nhiễm phải trả tiền
đóng góp tài chính để khắc phục ô nhiễm môi trờng và cải thiện môi trờng và
ai hởng lợi từ việc môi trờng trong lành phải đóng phí khắc phục ô nhiễm.
II.1. Nguyên tắc ngời gây ô nhiễm phải trả tiền (PPP).
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nguyên tắc này bắt nguồn từ sáng kiến do tổ chức hợp tác kinh tế và phat
triển (OECD) đề ra vào các năm 1972 và 1974. PPP qui định năm 1972 có quan
điểm những tác nhân gây ô nhiễm phải trả mọi chi phí cho hoạt động kiểm soát
và phòng chống ô nhiễm. PPP năm 1974 chủ trơng rằng, các tác nhân gây ô
nhiễm thi ngoài việc tuân thủ theo các chỉ tiêu đối với việc gây ô nhiễm thì còn
phải bồi thờng thiệt hại cho những ngời bị thiệt hại do ô nhiễm này gây ra. Nói
tóm lại, theo nguyên tắc PPP thì ngời gây ô nhiễm phải chịu mọi khoản chi
phíđể thực hiện các biện pháp làm giảm ô nhiễm do chính quyền thục hiện,
nhằm đảm bảo môi trơng ở mức chấp nhận đợc.
II.2. Nguyên tắc ngời hởng lợi phải trả tiền(BPP)
Nguyên tắc BPP chủ trơng rằng việc phòng ngừa ô nhiễm và cải thiện môi
trờng cần đợc bảo trợ bởi những ngời muốn thay đổi hoặc những ngời không
phải trả giá cho việc gây ô nhiễm. Nguyên tắc BPP cũng tạo ra một khoản thu
cho nhà nớc, mức phí tính theo đầu ngời càng cao và càng nhiều ngời nộp thì số
tiền thu đợc càng nhiều. Số tiền thu đợc từ BPP đợc thu theo nguyên tắc các cá
nhân muốn bảo vệ môi trờng và những cá nhân không phải trả cho việc gây ô
nhiễm nhng khi môi trờng đợc cải thiện họ là những ngời đợc hởng lợi cần đóng
góp. Tuy nhiên số tiền này không trực tiếp do ngời hởng lợi tự giác trả mà phải
một chính sách do nhà nớc ban hành qua thuế hoặc phí buộc những ngời hởng
lời phải đóng góp, nên ngyên tắc BPP chỉ khuyến khích việc bảo vệ môi trờng
một cách gián tiếp.
Đây là nguyên tắc có thể đợc sử dụng nh một định hớng hỗ trợ nhằm đạt
đợc mục tieu môi trờng, dù đó là bảo vệ hay phục hồi môi trờng. Tuy nhiên hiệu
quả môi trờng có thể đạt đợc hay không, trên thực tế phụ thuộc vào mức lệ phí,
số ngời đóng góp và khả năng sủ dụng tiền hợp lí.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
III. Nguyên tắc xác định phí nớc thải.
Theo nghị định 67/2003/NĐ-CP của chính phủ ban hành việc thu phí nớc
thải và thông t 125/2003/TTLT-BTC-BTNMT hớng dẫn thi hành nghị định 67.
Nghị định 67 quy định về phí bảo vệ môi trờng đối với nớc thải; chế độ thu,
nộp, quản lí và sử dụng phí bảo vệ môi trờng đối với nớc thải. Còn thông t 125
hớng dẫn thi hành nghị định 67. trong đó quy định rõ đối tợng phải chịu phí bảo
vệ môi trờng với nớc thải và cách tính phí.
Đối với nớc thải công nghiệp cách tính phí đợc tính:
Số phí = tổng lợng nớc thải * hàm lợng chất gây ô nhiễm trong nớc
thải(mg/l)*10
-3
* mức thu đối với chât gây ô nhiễm ra MT(đồng/kg)
Đối với sinh hoạt:
Số phí = lợng nớc sử dụng * giá bán(đồng/m
3
) * tỉ lệ thu phí(%)
Qua các văn bản pháp luật có thể thấy phí nớc thải nớc ta đợc tính dựa
vào các tiêu chí:
+ Tổng lợng thải
+ hàm lợng các chất gây ô nhiễm có trong nớc tính bằng mg/l
+ Đặc tính các chất gây ô nhiễm. Mỗi chất gây ô nhiễm khác nhau có
một mức thu phí tối đa và tối thiểu khác nhau, tuỳ theo mức độ độc hại của mỗi
loại chất và đợc quy đinh tại nghị định 67. Các chất gây ô nhiễm chủ yếu đợc
qui đinh trong luật là: BOD, COD, TSS, Hg, Pb, As, Cd.
Stt
Chất gây ô nhiễm có trong nớc thải
Mức thu
(đồng/kg chất gây ô nhiễm có trong
nớc thải)
Tên hoá chất Kí hiệu Tối thiểu Tối đa
1 Nhu cầu ô xy sinh hoá A
BOD
100 300
2 Nhu cầu ô xy hoá học A
COD
100 300
3 Chất rắn lơ lửng A
TSS
200 400
4 Thuỷ ngân A
Hg
10.000.000 20.000.000
5 Chì A
Pb
300.000 500.000
6 Arsenic A
As
600.000 1.000.000
7 Cadmium A
Cd
600.000 1.000.000
Việc thực thi phí nớc thải ở nhiều nớc trên thế giới đã thu đợc nhiều
thành tựu đáng khích lệ. Do đó việc thực thi phí nớc thải với nớc ta cũng có
nhiều ảnh hởng tác động đến môi trờng nớc mặt. Mà cụ thể ở đây là nớc mặt và
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
môi trờng sông Tô Lịch. Nó có thể giúp mọi ngời nâng cao ý thức bảo vệ môi
trờng. Nhà nớc và địa phơng có thêm nguồn thu từ đó đầu t trở lại vào môi trờng
nhằm bảo vệ môi trờng. Kích thích các doanh nghiệp đầu t vào hệ thống sử lí n-
ớc thải hoặc đổi mới công nghệ nhằm làm giảm lợng ô nhiễm, từ đó nâng cao
chất lợng môi trờng.
Hiện nay tổng lợng nơc thải sinh hoạt của khu vực nội thành Hà Nội
khoảng 500.000m
3
/ngày đểm trong đó có khoảng 100.000m
3
ngày đêm là nớc
thải của các cơ sở công nghiệp, dịch vụ, bệnh viên. toàn bộ lợng nớc thải này đ-
ợc tiêu thoát chủ yếu qua 4 con sông chính cẩu thành phố là: sông Tô Lịch,
sông Sét, sông Kim Ngu và sông Lừ. Nớc thải sinh hoạt phần lớn qua sử lí sơ bộ
tại các bể tự hoại trớc khi thải vào tuyến cống chung, kênh, mơng, ao, hồ. Tuy
nhiên các bể tự hoại này làm việc kém hiệu quả do xây dựng không đúng quy
cách, không hút phân cặn thờng xuyên nên hàm lợng chất bẩn trong nớc cao,
gây ảnh hởng xấu trong chất lợng nớc trong các kênh mơng.
Sông Tô lịch là con sông lớn nhất trong bốn con sông tiêu thoát nớc
chính của thành phố Hà Nội. Qua đánh giá thực tế ban đầu bằng việc quan sát
trực tiếp sông, có thể nói sông đang bị ô nhiễm nặng dù mùa khô hay mùa ma.
vào những ngày nóng bức mùi từ sông bốc lên gây ảnh hởng nghiêm trọng tới
đời sống, sức khoẻ, cũng nh sản xuất của ngòi dân hai bên bờ sông. Không
những thế nó còn gây mất mĩ quan đô thị làm giảm hình ảnh thủ đô cũng nh
môi trờng của thành phố.
Tuy nhiên với việc áp dụng phí nớc thải với các cơ sở sản xuất và các hộ
gia đình, sẽ có những tác động tích cực tới môi trờng. Phí nớc thải có thể buộc
các doanh nghiệp phải làm giảm lợng gây ô nhiễm, từ đó nâng cao chất lợng
môi trờng. Với nguồn thu từ phí nớc thải, chinh phủ có thể đầu t trở lại môi tr-
ờng thực hiện các công việc khảo sát đo đạc, lập báo cáo, thực hiện các công
việc quản lí cũng nh các công trình về môi trờng. Khuyến khích các doanh
nghiệp thực hiện các biện pháp cũng nh xây dựng hệ thống sử lí nớc thải, đổi
mới công nghệ.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Song vấn đề đặt trong giai đoạn đầu của chơng trình thu phí ô nhiễm đối
với nớc thải là có thể xác định phí nói trên với tất cả các cơ sở sản xuất gây ô
nhiễm ở Hà Nội hay không?
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Phần II. HIệN TRạNG Ô NHIễM
I. Khái quát chung
I.1. Đặc điểm tự nhiên của thành phố Hà Nội
Hà nội nằm ở 20 độ 57 phút vĩ bắc và 105 độ 35 phút 106 độ 25 phút
độ kinh đông. Từ bắc xuống nam dài nhất khoảng 93 km, từ đông sang tây rộng
nhất khoảng 30 km.
Hà Nội nằm trong vùng nhiệt đới gío mùa, độ ẩm trung bình trong năm là
81-82% tháng cao nhất vào khoảng 85-86%. Nhiệt độ trung bình có chiều hớng
tăng, năm 1985 là 23,5 độ C, từ năm 1990-1995 nhiệt độ trung binh là 24 độ C (
có năm lên tới 24,1 độ C ) hàng năm bình quân có từ 8-10 cơn bão và áp thấp
nhiệt đới đi qua. Tổng lợng ma trong năm, theo thống kê thì trong những năm
gần đây có nhiều biến động, tuy nhiên trung bình hàng năm khoảng 1500 mm.
Số ngày ma từ 140-160 ngày trong năm.
Sông Tô Lịch thuộc nội thành Hà Nội, nó dài 13.5 km rộng từ 30-40m sâu
khoảng từ 3-4 m. Đầu nguồn bắt đầu từ kênh đào cũ Thụy Khê thuộc khu vực
Phan Đình Phùng. Nó qua Từ Liêm và dịa hạt quận Thanh Trì rồi cùng ba con
sông khác chảy đổ vào sông Nhuệ qua Đầm Thanh Liệt. Sông đợc cải tạo bằng
nguồn vốn vay ODA, hai bên bờ sông đợc thành phố cải tạo có xây kè đá và các
hệ thống thoát nớc thải trực tiếp vào trong lòng sông qua rất nhiều các ống cống
lớn nhỏ của các hộ dân c và các doanh nghiệp trên địa bàn.
Tình trạng ô nhiễm do nớc thải của thành Phố Hà Nội. Nớc thải của thành
phố Hà Nội thải ra hệ thống thoát nớc hàng ngày khoảng 500.00m
3
ngày/đêm
trong đó có khoảng 100.000 m
3
ngày/đêm là nớc thải công nghiệp, của các cơ sở
dịch vụ và bệnh viện
Thực trạng ô nhiễm tại sông Tô Lịch
Sông Tô Lịch là con sông lớn nhất trong bốn con sông và cũng là con
song bị ô nhiễm nặng nhất, điều này đợc thể hiện thông qua nớc thải đổ vào
sông Tô Lịch mỗi ngày là 242.506m
3
ngày/đêm. Trong đó nớc thải công nghiệp
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
của các nhà máy trên địa bàn Hà Nội là 68.206m
3
ngày/đêm, ttổng lợng nớc
thải của khu cục công cộng và bệnh viện là 43.300 m
3
ngày/dêm.
Do Hà Nội cha có hệ thống xử lí nớc thải, nên nớc thải đợc đổ trực tiếp
qua các con sông và qua các hồ. Mặc dù hệ thống này có khả ngăng tự làm sạch
rất lớn, nhng do mức độ ô nhiễm quá cao đẫn tới khả năng này hầu nh không
còn đợc phát huy đợc nữa mà một phần do tốc độ đô thị hoá quá nhanh. Năm
1996 sông Tô Lịch tiếp nhận chỉ khoảng 3000m
3
nớc thải từ 30.000 hộ gia đình
và 22000m
3
từ 33 nhà máy.
Nhìn vào bảng 1 về nồng độ một số chất ô nhiễm có trong nớc thải
Bảng 1. Tình trạng ô nhiễm sông Tô Lịch
Các chỉ tiêu Vị trí Cầu Mới Vị trí Nghĩa đô
Ph 7.7-8.2 7.5
Chất rắn lơ lửng (mg/l) 230-570 211
CDO (mg/l) 183-325 149
BOD (mg/l) 21-120 40.2
NO
3
(mg/l) 0.39 0.61
NH
4
(mg/l) 5.3-17.1 9.6
H
2
S (mg/l) 3.2
Nguồn: Đinh Văn Sâm năm 1996
Sông Tô lịch có độ ô nhiễm cao nh vậy có thể kể ra đây một số nguồn thải
chính là:
Bệnh viện Lao.
Bệnh viện nhi Thuỵ Điển.
Bệnh viện phụ sản.
Bệnh biện giao thông.
Nhà máy giầy Thợng Đình.
Nhà máy cao su Sao Vàng
Nhà máy lever Haso
Nhà máy bóng đèn.
Nhà máy bia Hà Nội.
Nhà máy Trung Kính
Nhà máy nhựa Đại kim
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Nhà máy Sơn tổng hợp.
Ngoài những bệnh viện đã thống kê ở trên sông còn tiếp nhận những
nguồn nớc thả từ sinh hoạt với khối lợng nớc lớn và không kém phần độc hại.
Phần lớn nớc thải ra sông đều không qua sử lí và đợc thải trực tiếp hoặc gián
tiếp gây làm tăng nồng độ các chất dinh dỡng, nghiêm trọng nhất là nớc thải
của các bệnh viện, nhà máy. Đây là nguồn gây ra ô nhiễm chínhchô nơớc sông,
làm cho quá trình xử lí sinh học bị giới hạn hoặc bị quá tải và có thể bị huỷ hoại
hoàn toàn do các chất hữu cơ và các chất thải công nghiệp độc hại. Các chất hữu
cơ nh phốtpho và nitơ là lí do chủ yếu là cho nớc sông phì dinh dỡng.
Sự quá tải của rác thải là nguyên nhân chính gây ra ngăn cản dòng sông,
làm cho lòng sông bị thu hẹp đáng kể, tăng khả năng ngập úng, tăng lơợng bùn
đáy sông. Mặc dù sông đã đợc cải tạo bằng việc xây dựng kè đá hai bên bờ sông
nhằm làm giảm lợng rác thải xuống sông cũng nh các loại đất đá và tạo một
cảnh quan mới cho phù hợp với sự phát triển của thành phố. Thành phố sử dụng
nguồn vốn vay ODA của Nhật Bản song vẫn cha thấy có dấu hiệu khả quan nào
đối với môi trờng tại sông Tô Lịch, đặc biệt khi sông nằm trong lòng thủ Đô Hà
Nội và nó sẽ gây ảnh hởng đến hình ảnh một thủ đô tơi đẹp của nớc ta, hớng tới
văn minh hiện đại. Việc ô nhiễm của sông Tô Lịch gây ảnh hởng nghiêm trọng
không chỉ tới dân c sống hai bên bờ sông mà con gây ảnh hởng tới các khu vực
xung quanh, khi mà ỏ hai bên bờ sông có nhều tròng học và một số bệnh viện
và đây cũng là một điểm có giao thông đi lại với cờng độ lớn của thành phố.
Bảng 2: Tình trạng ô nhiễm sông tô lịch năm 1999-2000 tại Cầu Mới
Chỉ tiêu đơn vị 1999 2000
TCVN5942-
1995B
DO mg/l 1.78 0.4 >=2
BOD
5
mg/l 18.5 27 <25
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
COD mg/l 36.8 89 <35
SS mg/l 47 36.8 80
NH
4
+
mg/l - 27 1
Coli-form PC/100ml - 49.10
5
10000
Do đặc điểm khí hậu miền Bắc là nhiệt đới gió mùa một năm chia làm hai
mùa rõ rệt mùa khô và mùa ma. vào mùa ma lợng ma tuơng đối lớn, trong khi
đó mùa khô hạn chế hơn. Do đó lợng nớc sông Tô Lịch thay đổi theo mùa. Vì
vậy có sự chênh lệch nồng độ các chất ô nhiễm có trong nớc.
Bảng 2. Chất lợng nớc sông Tô Lịch theo hai mùa.
Chất lợng nớc sông Tô Lịch tại cống Bởi
Các chỉ tiêu (mg/l) Mùa ma Mùa khô
PH 8.5 8.8
BOD 15.5 18.88
COD 31.2 34
SS 28 38
NO
3
-
0.25 0.45
NH
4
2.33 6.7
Nguồn: Công ty t vấn xây dựng Hà Nội.
Qua số liệu của bảng trên ta có thể nhận thấy:
a) Về mùa khô, nớc sông bị ô nhiễm nặng. Hàm lợng BOD và COD đều
vợt quá chỉ tiêu cho phép, BOD đo dợc khoảng 25 mg/ldến 30 mg/l. hàm lợng
các chất hữu cơ NO
3
-
đều vợt quá tiêu chuẩn cho phép, sông luôn ở tình trạng
thừa dinh dỡng. Do tập tính lâu đời mà c dân hai bên dòng sông thờng vất rác
xuống lòng sông, nớc sông có màu đen, mùi hơi đặc biệt vào những ngày nắng
nóng, rác và rau bèo hai bên bờ sông ngăn cản dòng sông chảy.
b) về mùa ma nớc sông chảy mạnh hơn, lu tốc độ dòng chảy tăng do ảnh
hởng của nớc ma đã pha loãng. Song có một thực tế qua phân tích và nghiên cứu
nguồn nớc của sông cho thấy nớc sông Tô Lịch chủ yếu là nớc thải do tốc độ
dòng chảy chậm và tại đầu nguồn của sông tại khu vực đờng Hoàng Quốc Việt
cho thấy đầu nguồn của sông không hề bắt nguồn từ bất cứ nguồn nớc nào của
thành phố, mà nguồn nớc của sông chủ yếu từ các nguồn nớc thải cha qua sử lí
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
đổ trực tiếp vào sông tạo thành một hệ thống hình thành nguồn nớc cho sông Tô
Lịch.
II.2. Nguyên nhân gây ô nhiễm.
Thành phố Hà Nội trong nhiều năm qua không chỉ là một địa phơng có
tốc độ phát triển kinh tế cao của đất nớc và con là thành phố trong điểm của
miền Bắc trong việc phát triển kinh tế. Chính vì vậy trong nhiều năm qua đã có
rất nhiều nhà máy, các công ty, các khu công nghiệp đã mọc lên ở trong thành
phố và đi cùng với sự phát triển ấy là kèm theo các vấn đề về môi trờng.
Dân số của Hà Nội mấy năm vừa qua tăng khá nhanh chủ yếu là tăng cơ
học do những ngời ngoại tỉnh đổ xô về đây tìm việc làm đặc biệt là những lúc
nông nhàn. vì vậy mà thành phố đã đầu t nhiều cho hệ thống cấp thoát nớc của
thành phố mà vẫn không sao đáp ủng nổi nhu cầu về nớc sạch của ngời đân đặc
biệt trong những tháng hè. Thành phố hàng ngày tiêu thụ một lợng nớc khá lớn
khoảng 500.000m
3
ngày/đêm và cũng sẽ có khoảng gần ngần ấy nớc đợc thải ra
môi trờng. Sông Tô Lịch là con sông chứa nớc thải lớn nhất của thành phố,
chính vì vậy mà lợng nớc thải đổ vào sông hàng ngày là rất lớn, ngoài ra đây
cũng là nơi tập trung dân c khá đông đúc của thành phố Hà Nội. Tại hai quận
Thanh Xuân và quận Cầu Giấy nơi đây tập trung khá nhiều cơ sở sản xuất của
quốc doanh lãn ngoài quốc doanh. Đặc biệt ở quận cầu Giấy có khu công
nghiệp Thợng Đình đây là một nguồn gây ô nhiễm lớn khi mà khu công nghiệp
này hàng ngày thải một lợng lớn nớc thải vào sông. Không những thế bệnh viện
cũng là một nguồn gây ô nhiễm chính và khá nguy hiểm đến môi trờng.
Một nguyên nhân khác là hiện nay thành phố Hà Nội cha có hệ thống sử
lí nớc thải trớc khi đổ ra môi trờng, con các doanh nghiệp hiện nay thì cha có
nhiều doanh nghiệp có các hệ thống sử lí nớc thải, việc đánh giá tác động môi
trờng đối với các dự án ở nớc ta vẫn cha đợc thực hiện một cách nghiêm túc khi
mà các nhà đầu t chỉ coi nó là nghĩa vụ chứ cha coi đây là một vấn đề cần thiết
và quan trọng với môi trờng và doanh nghiệp. Dẫn tới khi một nhà máy đợc xây
dụng xong thì bao nhiêu nớc thải cha qua sử lí đều đổ vào sông hồ. Theo báo
cáo hiên trạng môi trờng Hà Nội năm 2003 lợng nớc thải trong tổng số 500.000
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét