Bằng việc sử dụng một số thuật toán, phần mềm tin học; nhóm
phương pháp này nhằm mục đích xử lý các kết quả điều tra, phân tích kết
quả nghiên cứu, , ).
8. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được
cấu trúc trong 3 chương sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu; 30 trang, từ trang 6
đến trang 35.
- Chương 2: Thực trạng quản lý của Hiệu trưởng đối với hoạt động bồi
dưỡng đội ngũ giáo viên các trường tiểu học tỉnh KonTum; 37 trang, từ
trang 36 đến trang 72.
- Chương 3: Những biện pháp quản lý của Hiệu trưởng đối với hoạt động
bồi dưỡng đội ngũ giáo viên các trường tiểu học tỉnh KonTum; trang, từ
trang đến trang
Cuối cùng là tài liệu tham khảo và phụ lục;
Chương 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
1.1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
1.1.1. Tình hình bồi dưỡng giáo viên ở một số nước trong khu vực và
trên thế giới.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều coi hoạt động bồi dưỡng giáo
viên là vấn đề phát triển cơ bản trong phát triển giáo dục. Việc tạo mọi điều
kiện thuận lợi để mọi người có cơ hội học tập suốt đời, học tập thường
xuyên để kịp thời bổ sung kiến thức và đổi mới phương pháp hoạt động
5
phù hợp với sự phát triển KT-XH là phương châm hành động của các cấp
quản lý giáo dục.
Tại Pakistan, có chương trình bồi dưỡng về sư phạm do nhà nước quy
định trong thời gian 3 tháng, gồm các nội dung như giáo dục nghiệp vụ dạy
học, cơ sở tâm lý giáo dục, phương pháp nghiên cứu, đánh giá và nhận xét
học sinh, , đối với đội ngũ giáo viên mới vào nghề chưa quá 3 năm.
Ở Philippin, công tác bồi dưỡng cho giáo viên không tổ chức trong
năm học mà tổ chức bồi dưỡng vào các khoá học trong thời gian học sinh
nghỉ hè. Hè thứ nhất bao gồm các nội dung môn học, nguyên tắc dạy học,
tâm lý học và đánh giá trong giáo dục; hè thứ hai gồm các môn về quan hệ
con người, triết học giáo dục, nội dung và phương pháp giáo dục; hè thứ ba
gồm nghiên cứu giáo dục, viết tài liệu trong giáo dục và hè thứ tư gồm kiến
thức nâng cao, kĩ năng nhận xét, vấn đề lập kế hoạch giảng dạy, viết tài liệu
giảng dạy sách giáo khoa, sách tham khảo, …
Tại Nhật Bản, việc bồi dưỡng và đào tạo lại cho giáo viên và cán bộ
quản lý giáo dục là nhiệm vụ bắt buộc đối với người lao động sư phạm.
Tùy theo thực tế của từng đơn vị cá nhân mà các cấp quản lý giáo dục đề ra
các phương thức bồi dưỡng khác nhau trong một phạm vi theo yêu cầu nhất
định. Cụ thể là mỗi trường cử từ 3 đến 5 giáo viên được đào tạo lại một lần
theo chuyên môn mới và tập trung nhiều vào đổi mới phương pháp dạy
học.
Tại Thái Lan, từ 1998 việc bồi dưỡng giáo viên được tiến hành ở các
trung tâm học tập cộng đồng nhằm thực hiện giáo dục cơ bản, huấn luyện
kĩ năng nghề nghiệp và thông tin tư vấn cho mọi người dân trong xã hội.
Triều Tiên là một trong những nước có chính sách rất thiết thực về bồi
dưỡng và đào tạo lại đội ngũ giáo viên. Tất cả đội ngũ giáo viên đều phải
tham gia học tập đầy đủ các nội dung chương trình về nâng cao trình độ và
nghiệp vụ chuyên môn theo quy định. Nhà nước đã đưa ra hai chương trình
lớn được thực thi hiệu quả trong thập kỉ vừa qua; đó là: “Chương trình bồi
dưỡng giáo viên mới” để bồi dưỡng giáo viên thực hiện trong 10 năm và
“Chương trình trao đổi” để đưa giáo viên đi tập huấn tại nước ngoài.
1.1.2. Khái quát hoạt động bồi dưỡng giáo viên ở Việt Nam.
6
Ngay sau năm 1975, việc đào tạo và bồi dưỡng giáo viên nói chung
được thực hiện trong bối cảnh cả nước phải khắc phục hậu quả khốc liệt
của cuộc chiến tranh chống Mỹ, nên gặp rất nhiều khó khăn. Chương trình
đào tạo giáo viên ở các vùng miền được tổ chức theo các hình thức khác
nhau, nội dung đào tạo khác nhau dẫn tới trình độ chuyên môn nghiệp vụ
của đội ngũ giáo viên cũng khác nhau. Để đáp ứng yêu cầu của cải cách
giáo dục, Đảng và Nhà nước ta có những chủ trương cấp bách để đào tạo và
bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo nhiều loại hình khác nhau đặc biệt là đội
ngũ GVTH như: đào tạo chính quy, tại chức, ngắn hạn và cấp tốc theo các
hệ khác nhau 4 + 3, 7 + 2, 7 + 3, 9+3, 10 + 2, dẫn đến trình độ của
GVTH không đồng đều.
Từ năm 1986, cả nước ta bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện để thực
hiện mục tiêu CNH-HĐH, Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng phát triển
giáo dục nhằm tạo động lực phát triển KT-XH. Bắt đầu từ đây, việc đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đã có những chuyển biến tích cực nhằm
dần dần chuấn hoá đội ngũ này, mặc dù nguồn ngân sách giáo dục còn rất
hạn hẹp. Hai chu kì bồi dưỡng thường xuyên 1992-1996 và 1997-2000 đã
cho phép đúc rút được những kinh nghiệm bổ ích về hoạt động bồi dưỡng
nâng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên phổ thông nói chung và
GVTH nói riêng; đồng thời cũng bộc lộ nhiều điều bất cập về nội dung,
chương trình, hình thức tổ chức, cơ sở vật chất, tài liệu, thời gian, và đặc
biệt cho thấy những hạn chế trong các công tác quản lý của các cấp, dẫn
đến hiệu quả bồi dưỡng thường xuyên chưa cao, chưa đáp ứng kịp với sự
phát triển giáo dục. Do đó vấn đề quản lý hoạt động bồi dưỡng nâng cao
chất lượng của đội ngũ giáo viên nói chung và GVTH nói riêng còn cần
phải tiếp tục nghiên cứu để đề ra những biện pháp hữu hiệu và có tính khả
thi đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới.
1.2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN.
1.2.1. Quản lý.
Thuật ngữ "Quản lý" lột tả bản chất hoạt động điều khiển các hoạt
động của một tổ chức nhằm đạt tới mục tiêu. Theo Từ điển Tiếng Việt:
“Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” hoặc “Quản lý
là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định.” [52,
tr. 800].
7
Trong thực tiễn, đã có nhiều cách hiểu và biểu đạt về khái niệm quản
lý, tuỳ theo mục đích tiếp cận khác nhau của mỗi tác giả.
- Frederich Wiliam Taylor (1856-1915) người Mỹ cho là: “Quản lý là
nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng
phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất ”; còn theo Paul Hersey và Ken Blanc
Hard: “Quản lý là quá trình cùng làm việc và thông qua các cá nhân, các
nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích tổ chức”.
[32,tr.12].
- Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì:
"Quản lý là hoạt động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý đến
khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt
được mục đích của tổ chức". [5, tr.11].
Xem xét nội hàm của một số khái niệm quản lý trên, chúng tôi cho là:
Quản lý chính là sự tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách
thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành có hiệu quả như mong muốn.
Hoạt động quản lý thể hiện qua sơ đồ đơn giản sau:
Sơ đồ 1.1. Mô hình về quản lý
8
Chủ thể
Quản lý
Công cụ
Quản lý
Phương
pháp
Quản lý
Khách thể
Quản lý
Mục tiêu
Quản lý
Môi trường quản
lý
Theo mô hình trên, hiệu quả quản lý phụ thuộc và các yếu tố: chủ
thể, khách thể, mục tiêu, phương pháp và công cụ quản lý. Chủ thể quản lý
có thể là một cá nhân, một nhóm, hay một tổ chức; còn khách thể quản lý là
một người hay một nhóm người bị quản lý; công cụ quản lý là phương tiện
tác động của CTQL tới khách thể quản lý; phương pháp quản lý là cách
thức tác động của chủ thể đến khách thể. Mục tiêu quản lý là trạng thái
tương lai của tổ chức sau khi có các tác động quản lý của CTQL.
1.2.2. Chức năng quản lý.
Có nhiều cách diễn đạt khác nhau về chức năng của quản lý. Thí dụ:
“Chức năng quản lý là dạng hoạt động quản lý, thông qua đó chủ thể quản
lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất
định” [34,tr 58]; hoặc “chức năng quản lý là tập hợp các nhiệm vụ mà chủ
thể quản lý phải thực hiện để đạt mục đích và mục tiêu quản lý đã đề
ra”[47, tr 141],
Theo chúng tôi chức năng quản lý là khái niệm mô tả về phương thức,
nội dung và quy trình tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý
trong quá trình quản lý.
Quản lý có các chức năng cơ bản như sau:
- Kế hoạch hoá là việc dựa trên những thông tin thực trạng bộ máy tổ
chức, nhân lực, cơ sở vật chất và các điều kiện khác để vạch ra mục tiêu,
dự kiến nguồn lực (nhân lực, tài lực và vật lực), phân bổ thời gian, huy
động các phương tiện và đề xuất các biện pháp thực hiện mục tiêu.
- Tổ chức là việc thiết lập cấu trúc bộ máy, bố trí nhân lực và xây
dựng cơ chế hoạt động; đồng thời ấn định chức năng, nhiệm vụ cho các bộ
phận và cá nhân; huy động, sắp xếp và phân bổ nguồn lực nhằm thực hiện
đúng kế hoạch đã có.
- Chỉ đạo là việc hướng dẫn công việc, liên kết, liên hệ, động viên,
kích thích, giám sát các bộ phận và mọi cá nhân thực hiện kế hoạch theo
dụng ý đã xác định trong bước tổ chức.
- Kiểm tra là việc theo dõi và đánh giá các hoạt động bằng nhiều
phương pháp và hình thức (trực tiếp hoặc gián tiếp, thường xuyên hoặc
định kỳ, ) nhằm so sánh kết quả với mục tiêu đã xác định để nhận biết về
9
chất lượng và hiệu quả các hoạt động mà từ đó tìm ra những sai lệch và ban
hành các quyết định điều chỉnh.
Các chức năng cơ bản nêu trên luôn luôn được CTQL thực hiện liên
tiếp, đan xen vào nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành một chu
trình quản lý. Trong chu trình đó, yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả
các giai đoạn với vai trò vừa là điều kiện, vừa là phương tiện khi thực hiện
các chức năng . Mối liên hệ này được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2. Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý
1.2.3. Biện pháp quản lý.
“Biện pháp là cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề
cụ thể”. [52, tr. 64] ; hoặc “biện pháp là cách thức giải quyết một vấn đề
hoặc thực hiện một chủ trương" [27 , tr. 61]. Tựu trung lại có thể hiểu: Biện
pháp là cách làm, cách thức thực hiện tiến hành, giải quyết một công việc,
hoặc là phương pháp làm việc để thực hiện một chủ trương nào đó .
Vận dụng vào quản lý, thì biện pháp quản lý là cách làm, cách thức
thực hiện tiến hành, giải quyết một công việc, hoặc là phương pháp làm việc
để thực hiện một chủ trương nào đóđể đạt tớimục tiêu quản lý.
1.2.4. Quản lý giáo dục (QLGD).
10
Kế hoạch hóa
THÔNG TIN
QUẢN LÝ
Kiểm tra
Tổ chức
Chỉ đạo
QLGD là một loại hình quản lý xã hội, tức là quản lý hoạt động giáo
dục trong xã hội. Đã có một số định nghĩa tiêu biểu về QLGD như sau:
- P.V. Khuđôminxky cho rằng: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ
thống, có kế hoạch, có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau
đến tất cả các khâu của hệ thống giáo dục nhằm mục đích đảm bảo việc
giáo dục cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện
và hài hòa của họ”. [24, tr. 50]; còn M.I.Kônđakôp khẳng định: “Quản lý
giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch
hoá, tài chính, cung tiêu nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các
cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng
hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng”. [25 , tr. 17].
- Theo PGS. TS. Đặng Quốc Bảo “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng
quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo
thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát
triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ
trẻ mà cho mọi người. Cho nên, QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống
giáo dục quốc dân”. [1, tr. 31]; còn theo cố GS. TS. Nguyễn Ngọc Quang
thì: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận
hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các
tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là
quá trình dạy học-giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến,
tiến lên trạng thái mới về chất”. [34, tr. 7].
Như vậy, QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống giáo dục
được quản lý, vận hành theo đúng đường lối, quan điểm giáo dục của
Đảng, thực hiện được các mục tiêu giáo dục đề ra.
1.2.5. Quản lý trường học.
Trường học là tế bào cơ sở, chủ chốt của bất kỳ hệ thống giáo dục ở
cấp nào (từ trung ương đến địa phương). Trường học là đối tượng cuối
cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục. Nó là tổ chức giáo dục cơ sở trực
tiếp làm công tác đào tạo, thực hiện việc giáo dục con người. Trường học là
thành tố khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý nói trên, lại vừa là một
hệ thống độc lập tự quản của xã hội. Các cấp quản lý giáo dục tồn tại không
11
phải vì bản thân chúng, mà trước hết là phải vì chất lượng và hiệu quả hoạt
động của trường học. Thành tích thực chất của trường học làm nên chất
lượng giáo dục. Như vậy, chất lượng của giáo dục chủ yếu do chất lượng
của trường học tạo nên. Chúng tôi thống nhất khái niệm quản lý trường học
của GS. VS. Phạm Minh Hạc như sau:
“Quản lý trường học là tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích
của chủ thể quản lý (hiệu trưởng) đến khách thể quản lý (tập thể giáo viên.
học sinh và các bộ phận khác), đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường,
nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt KT-XH , tổ chức sư phạm
của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ trẻ và thực hiện tốt sứ mạng của
nhà trường”[34, tr. 35 ].
1.2.6. Bồi dưỡng.
Theo Từ điển Việt Nam năm 1994: Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm
năng lực phẩm chất "Bồi dưỡng cán bộ, bồi dưỡng đạo đức, bồi dưỡng giáo
viên, ". " Bồi dưỡng là làm cho tốt hơn, giỏi hơn" [43, Tr.19].
Bồi dưỡng thực chất là quá trình bổ sung tri thức, kỹ năng, nhằm nâng
cao trình độ trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn nào đó mà người ta đã
có một trình độ chuyên môn nhất định. Bồi dưỡng được coi là quá trình cập
nhật hoá kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu, bổ túc văn hoá hoặc bổ túc
nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố những kĩ năng về chuyên môn hay
nghiệp vụ sư phạm theo các chuyên đề. Đối với giáo viên, hoạt động bồi
dưỡng nhằm tạo điều kiện cho người giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục
có cơ hội củng cố và mở rộng một cách có hệ thống những tri thức, kĩ năng
chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm hoặc quản lý giáo dục sẵn có để lao
động nghề nghiệp một cách có hiệu quả hơn; mặt khác cũng qua bồi dưỡng
người học biết chọn lọc, tiếp thu phát huy các mặt mạnh, khắc phục bổ
sung những mặt còn hạn chế, bồi dưỡng kịp thời, động viên họ làm việc tự
giác với tinh thần trách nhiệm đạt hiệu suất cao.
1.2.4. Đội ngũ và đội ngũ giáo viên.
Đội ngũ là khái niệm chỉ một tổ chức gồm nhiều người, tập hợp thành
một lực lượng cùng một chức năng. nghề nghiệp, Nói cách khác, đội ngũ
là một nhóm người được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng để thực
12
hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệp hay không, nhưng
đều cùng một mục đích nhất định [43, Tr.29].
Theo cách hiểu trên thì đội ngũ giáo viên là tập hợp những giáo viên
được tổ chức thành một lực lượng (có tổ chức), có chung một lý tưởng,
mục đích, nhiệm vụ đó là thực hiện mục tiêu của ngành giáo dục đề ra cho
lực lượng, tổ chức đó. Họ làm việc theo một kế hoạch thống nhất và gắn
bó với nhau thông qua lợi ích về vật chất và tinh thần trong khuôn khổ quy
định của pháp luật.
1.3. GIÁO DỤC TIỂU HỌC TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI GIÁO DỤC.
1.3.1. Giáo dục tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân.
1.3.1.1. Vai trò vị trí của giáo dục tiểu học.
- Điều 2 của Luật phổ cập giáo dục tiểu học quy định "Giáo dục tiểu
học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây
dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ và thể chất của các
em, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách
con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa".
- Điều 2 của Điều lệ Trường Tiểu học (ban hành theo Quyết định số 51/2007
/BGDĐT ngày 31/8/2007) đã xác định vị trí của trường tiểu học là:
" Trường tiểu học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc
dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng.
Điều 3 : “Nhiệm vụ và quyền hạn của trường tiểu học
1. Tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đạt chất lượng
theo mục tiêu, chương trình giáo dục tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo ban hành.
2. Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em tàn tật,
khuyết tật, trẻ em đã bỏ học đến trường, thực hiện kế hoạch phổ cập giáo
dục và chống mù chữ trong cộng đồng. Nhận bảo trợ và quản lý các hoạt
động giáo dục của các cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục
tiểu học theo sự phân công của cấp có thẩm quyền. Tổ chức kiểm tra và
công nhận hoàn thành chương trình tiểu học của học sinh trong nhà trường
và trẻ em trong địa bàn quản lý của trường.
3. Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh.
13
4. Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính
theo quy định của pháp luật.
5. Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực
hiện hoạt động giáo dục.
6. Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh tham
gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng.
7. Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp
luật”.
Trường tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân.
Trường tiểu học có tư cách pháp nhân và con dấu riêng" [38, tr. 5]. Trường
tiểu học có các loại hình như: trường tiểu học công lập và tư thục. Ngoài ra
còn có trường tiểu học cho trẻ em thiệt thòi; các em bị tàn tật; trường phổ
thông dân tộc nội trú Điều 4, Điều lệ Trường Tiểu học quy định: “Trường
tiểu học, lớp tiểu học trong trường phổ thông có nhiều cấp học và trường
chuyên biệt, cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học
1. Trường tiểu học được tổ chức theo hai loại hình : công lập và tư
thục.
a) Trường tiểu học công lập do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng
cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên;
b) Trường tiểu học tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề
nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật
chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách Nhà nước.
2. Lớp tiểu học trong trường phổ thông có nhiều cấp học và trường
chuyên biệt, gồm:
a) Lớp tiểu học trong trường phổ thông có nhiều cấp học;
b) Lớp tiểu học trong trường phổ thông dân tộc bán trú;
c) Lớp tiểu học trong trường dành cho trẻ em tàn tật, khuyết tật;
d) Lớp tiểu học trong trường giáo dưỡng; trung tâm học tập cộng đồng
và trường, lớp tiểu học thực hành trong trường sư phạm.
3. Cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học, gồm :
lớp dành cho trẻ em vì hoàn cảnh khó khăn không được đi học ở nhà
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét