Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
ngang giá. Bởi vậy, cần có một quan hệ kinh tế áp dụng chung cho tất cả
các nước, đó chính là quan hệ hàng hoá - tiền tệ.
Như vậy, kinh tế thị trường ở nước ta tồn tại tất yếu, khách quan và
không thể lấy ý chí chủ quan để xoá bỏ nó được.
3. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
a) Quá trình chuyển đổi
Sự chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền
kinh tế thị trường ở nước ta là một quá trình lâu dài.
Trước tình hình khó khăn của nền kinh tế, Đảng, Nhà nước ta đã
đưa ra chỉ thị 100 và quyết định 25/CP. Khi đó, kế hoạch hoá theo kiểu
tập trung bị suy yếu, cơ chế bao cấp bắt đầu chuyển đổi. Đến Nghị quyết
Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương khoá V và Nghị quyết
Bộ chính trị khoá V về các quan điểm kinh tế, cốt lõi của mô hình kinh tế
mới đã cơ bản hình thành.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng là bước ngoặt trong
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đại hội quyết định
đường lối đổi mới, đổi mới toàn diện, đổi mới kinh tế là chủ yếu. Đại hội
lần thứ VII của Đảng thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.“Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần…
là hoàn toàn cần thiết để giải phóng và phát huy được các tiềm năng sản
xuất trong xã hội”. Đại hội VIII mở đầu thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước. Đến đại hội IX của Đảng, chúng ta đã đưa ra
mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta, đó là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
b) Những đặc trưng
Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh tế có tính độc lập, có
quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Giá cả do thị trường quyết định,
hệ thống thị trường phát triển đầy đủ làm cơ sở cho việc phân phối các
nguồn lực kinh tế vào các ngành, các lĩnh vực kinh tế. Nền kinh tế vận
động theo những quy luật vốn có của kinh tế thị trường như quy luật giá
trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, …Sự tác động của các quy luật
đó hình thành cơ chế tự điều tiết của nền kinh tế. Nền kinh tế thị trường
Nguyễn Thị Thu Hương – QTKDTH48B
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hiện đại có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước thông qua pháp luật kinh tế,
kế hoạch hoá và các chính sách kinh tế.
Ngoài những tính chất chung của nền kinh tế thị trường, kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam còn có những đặc trưng
bản chất được xác định trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X. Đó là:
- Nhằm mục tiêu thực hiện “dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh”, giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát
triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân.
- Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần
kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế Nhà nước
cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền
kinh tế quốc dân.
- Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và
từng chính sách phát triển, hình thành cấu trúc kinh tế - xã hội phát triển
ổn định, bền vững, thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao
động, hiệu quả kinh tế đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn
lực khác và thông qua phúc lợi xã hội.
- Phát huy vai trò làm chủ của người dân, bảo đảm vai trò quản lý
điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự
lãnh đạo của Đảng.
4. Vai trò của nền kinh tế thị trường
Sản xuất hàng hoá phát triển phá vỡ dần kinh tế tự nhiên và chuyển
thành nền kinh tế hàng hoá, thúc đẩy xã hội hoá sản xuất và đem lại
những tác dụng to lớn.
Thứ nhất kinh tế hàng hoá tạo ra động lực thúc đẩy lực lượng sản
xuất phát triển. Trên thị trường, các nhà sản xuất cạnh tranh với nhau, từ
đó buộc mỗi chủ thể phải cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào
sản xuất để giảm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm. Quá trình đó
thúc đẩy cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật phát triển, đồng thời buộc
người lao động phải được nâng cao về trình độ, tay nghề. Do đó, lực
lượng sản xuất phát triển mạnh, năng suất lao động xã hội không ngừng
được nâng cao.
Nguyễn Thị Thu Hương – QTKDTH48B
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Thứ hai, kinh tế hàng hoá kích thích tính năng động, sáng tạo của
chủ thể kinh tế. Trong nền kinh tế hàng hoá, người sản xuất phải căn cứ
vào nhu cầu của người tiêu dùng, của thị trường để quyết định sản xuất
sản phẩm gì, với khối lượng, chất lượng như thế nào. Xã hội càng phát
triển, nhu cầu của con người và thị trường cũng ngày càng tăng lên. Do
vậy, các nhà sản xuất muốn tồn tại và phát triển bắt buộc phải nắm bắt
được nhu cầu đó một cách nhạy bén và có những sáng tạo trong việc
nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã cũng như tăng khối lượng hàng
hoá, dịch vụ.
Thứ ba, kinh tế hàng hoá thúc đẩy sự phân công lao động xã hội và
chuyên môn hoá sản xuất. Trong kinh tế tự nhiên, một người có thể tạo
ra nhiều sản phẩm để phục vụ cho nhu cầu của bản thân. Nhưng trong
kinh tế hàng hoá, nhiều người cùng tham gia vào quá trình sản xuất ra
một sản phẩm, mỗi người chỉ tập trung vào một khâu trong quá trình đó
và sản phẩm ấy được tung ra thị trường phục vụ cho xã hội. Như vậy,
trình độ phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất phải
tăng lên. Nhờ đó, tiềm năng, lợi thế của từng vùng cũng như của cả
nước được tận dụng và phát huy tối đa.
Thứ tư, sự phát triển của kinh tế thị trường thúc đẩy quá trình tích
tụ và tập trung sản xuất. Kinh tế thị trường tạo điều kiện ra đời của sản
xuất lớn có tính xã hội hoá cao, chọn lọc được những người sản xuất
kinh doanh giỏi đồng thời hình thành được đội ngũ cán bộ quản lý có
trình độ và lao động lành nghề.
Thực tiễn những năm đổi mới đã cho thấy việc chuyển đổi từ nền
kinh tế quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường là hoàn toàn đúng đắn.
Chúng ta đã khai thác được tiềm năng trong nước và thu hút được vốn,
kỹ thuật, công nghệ nước ngoài, giải phóng năng lực sản xuất. Nhờ đó,
kinh tế nước ta đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm qua.
Như vậy, kinh tế thị trường là thành tựu chung của văn minh nhân
loại. Nó là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, quá trình phân
công lao động xã hội và đa dạng hoá các hình thức sở hữu. Kinh tế thị
trường là động lực mạnh mẽ thúc đẩy toàn xã hội phát triển.
Nguyễn Thị Thu Hương – QTKDTH48B
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
III. Nhân cách con người
1. Bản chất con người
a) Quan điểm trước Mác
Từ thời kỳ cổ đại, các trường phái triết học phương Đông đã tìm
cách lý giải vấn đề bản chất con người, quan hệ giữa con người với thế
giới. Các trường phái triết học tôn giáo phương Đông nhận thức con
người trên cơ sở thế giới quan duy tâm, thần bí hoặc nhị nguyên luận.
Trong triết học Phật giáo con người là sự kết hợp giữa danh và sắc (vật
chất và tinh thần), đời sống con người trên trần thế là ảo giác hư vô. Cuộc
đời con người khi còn sống là sống gửi tạm bợ, là bể khổ. Con người phải
hướng tới cuộc sống vĩnh cửu ở cõi Niết bàn, nơi tinh thần con người
được giải thoát để trở thành bất diệt.
Tư tưởng Nho giáo, Lão giáo trong triết học Trung Hoa đã quan
niệm về bản chất con người rất phong phú. Khổng Tử cho rằng “thiên
mệnh” quyết định nhân sự, đức “nhân” là giá trị cao nhất của con người.
Mạnh Tử qui tính thiện của con người vào năng lực bẩm sinh, do ảnh
hưởng của phong tục, tập quán xấu mà con người bị nhiễm cái xấu. Cả
hai ông đều cho rằng con người có thể tu dưỡng, rèn luyện để hướng tới
các gía trị đạo đức tốt đẹp. Trái lại, Tuân Tử quan niệm bản chất con
người khi sinh ra là ác, phải chống lại cái ác ấy con người mới tốt được.
Đó là một tư tưởng thuộc chủ nghĩa duy vật thô sơ. Đổng Trọng Thư lại
cho rằng trời và con người có thể hoà hợp với nhau, thông hiểu lẫn nhau,
gọi là thuyết “thiên nhân cảm ứng”. Đây là tư tưởng kế thừa Nho giáo
theo khuynh hướng duy tâm cực đoan, qui yếu tố quyết định đối với cuộc
đời con người là “thiên mệnh”. Lão Tử, người sáng lập ra trường phái
Đạo gia, cho rằng con người sinh ra từ “Đạo”, bản tính nhân loai có hai
khuynh hướng “hữu vi” và “vô vi”. Theo ông, con người cần phải sống
“vô vi”, theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không giả tạo, gò ép. Đây là một tư
tưởng duy tâm chủ quan.
Cũng giống như triết học phương Đông, các trường phái triết học tôn
giáo phương Tây nhận thức vấn đề con người trên cơ sở thế giới quan duy
tâm, thần bí. Kitô giáo cho rằng thể xác mất đi nhưng linh hồn thì tồn tại
Nguyễn Thị Thu Hương – QTKDTH48B
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
vĩnh cửu. Linh hồn là giá trị cao nhất mà mỗi con người phải thường
xuyên chăm sóc để hướng tới thiên đường vĩnh cửu.
Trong triết học Hi Lạp cổ đại, con người được xem là điểm khởi
đầu của tư duy triết học và có nhiều quan điểm khác nhau. Theo Hêraclit,
linh hồn con người chỉ là một biểu hiện của lửa, là sự thống nhất của hai
mặt đối lập: cái ẩm ướt và lửa. Đêmôcrit lại cho rằng linh hồn được tạo
nên từ các nguyên tử hình cầu nhưng lại lệ thuộc vào thể xác con người
nên sẽ mất đi cùng thể xác. Đối lập với Đêmôcrit, Platôn quan niệm linh
hồn được sinh ra từ thế giới ý niệm, hiểu biết được cái ý niệm, nó cư trú ở
một ngôi sao rồi bay đến trái đất nhập với thân xác tạo ra một con người.
Do đó, linh hồn tồn tại vĩnh viễn. Còn theo Arixtôt, chỉ có linh hồn tư
duy, trí nhớ, ý chí, năng khiếu nghệ thuật làm cho con người nổi bật lên,
con người là “một động vật chính trị”.
Dưới thời kì trung cổ, tôn giáo bao trùm lên mọi lĩnh vực của đời
sống xã hội. Con người được xem là sản phẩm của Thượng đế sáng tạo
ra, số phận, niềm vui, nỗi buồn đều do Thượng đế sắp đặt. Con người
phải chấp nhận cuộc sống tạm bợ trên trần thế vì hạnh phúc vĩnh cửu chỉ
chờ đợi họ ở thế giới bên kia. Trái lại, triết học thời kì phục hưng - cận
đại đặc biệt đề cao vai trò trí tuệ, lí tính của con người. Con người được
nhấn mạnh về mặt cá thể nhưng chưa được nhận thức đầy đủ về mặt sinh
học và về mặt xã hội.
Trong triết học cổ điển Đức, quan niệm về con người được phát
triển theo khuynh hướng của chủ nghĩa duy tâm. Theo Cantơ, nhận thức
con người chỉ biết được hiện tượng bên ngoài mà không xâm nhập được
vào bản chất đích thực, nhận thức cần hạn chế phạm vi của lí tính để dành
cho đức tin. Hêghen, một nhà duy tâm khách quan, cho rằng con người là
hiện thân của “ý niệm tuyệt đối”. Ông cũng khẳng định con người là chủ
thể đồng thời là kết quả của sự phát triển lịch sử.
Vượt qua những hạn chế trong triết học của Hêghen, nhà duy vật
Phoiơbăc phê phán tính chất siêu tự nhiên, phi vật chất, phi thể xác về bản
chất con người. Ông khẳng định con người do sự vận động của thế giới
vật chất tạo nên, là kết quả của sự phát triển của thế giới tự nhiên.
Phoiơbắc đề cao vai trò trí tuệ của con người với tính cách là những cá
Nguyễn Thị Thu Hương – QTKDTH48B
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
thể người đa dạng, phong phú, không ai giống ai. Tuy nhiên, ông đã
không thấy được bản chất xã hội của con người, tách con người khỏi môi
trường sống của họ, biến con người trở thành phi lịch sử, phi giai cấp,
trừu tượng.
Như vậy quan niệm về con người ở phương Đông hay phương Tây
dù dựa trên nền tảng thế giới quan duy tâm, nhị nguyên hay duy vật siêu
hình thì đều chưa được phản ánh đúng đắn. Các quan niệm đó tuyệt đối
hoá một mặt nào đó, xem xét con người một cách trừu tượng nên đều
chưa tìm ra bản chất con người.
b) Quan niệm của triết học Mác – Lênin
Theo triết học Mác – Lênin, con người là một thực thể thống nhất
giữa mặt sinh vật với mặt xã hội. Con người là động vật cao cấp nhất, là
kết quả của sự tiến hoá lâu dài của thế giới tự nhiên. Các giai đoạn mang
tính sinh học mà con người trải qua từ sinh thành, phát triển đến mất đi
qui định bản tính sinh học của con người. Cái sinh học trong con người
qui định sự hình thành những hiện tượng và quá trình tâm lí, là điều kiện
qui định sự tồn tại của con người. Không chỉ là sản phẩm của tự nhiên,
con người là sản phẩm của xã hội, mang tính xã hội. Con người chỉ có thể
tồn tại được khi họ lao động sản xuất ra của cải vật chất thoả mãn nhu cầu
sinh học của mình. Thông qua hoạt động sản xuất, tính xã hội của con
người được thể hiện. Trong lao động, con người tạo ra nền văn hoá vật
chất và tinh thần, phát triển ngôn ngữ và tư duy, hình thành và phát triển
các quan hệ xã hội. Do đó, lao động là yếu tố quyết định hình thành bản
chất xã hội của con người. Mối quan hệ sinh học và xã hội là cơ sở hình
thành hệ thống các nhu cầu sinh hoạt và nhu cầu xã hội trong đời sống
con người. Với phương pháp luận duy vật biện chứng chúng ta thấy quan
hệ giữa mặt sinh học và mặt xã hội là thống nhất. Hai mặt đó hoà quyện
vào nhau để tạo thành con người tự nhiên – xã hội.
C.Mác đã viết:”Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là
tổng hoà những quan hệ xã hội”. Luận đề khẳng định không có con người
trừu tượng, thoát li mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Con người
luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong điều kiện nhất định, thời đại nhất
định. Con người sáng tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần cho xã hội
Nguyễn Thị Thu Hương – QTKDTH48B
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
mà mình sống, qua đó con người bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình.
Như vậy, không thể hiểu bản chất con người bên ngoài mối quan hệ giữa
cá nhân và xã hội, đó chính là sự phân biệt giữa con người và thế giới
động vật.
Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử. Nếu không có thế
giới tự nhiên thì cũng không có lịch sử xã hội, không có sự tồn tại của con
người. Không có con người trừu tượng mà chỉ có con người cụ thể gắn
với xã hội nhất định. Trong điều kiện lịch sử xã hội luôn vận động biến
đổi, con người cũng phải thay đổi cho phù hợp. Như vậy, con người là
sản phẩm của lịch sử. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động thực tiễn, con
người tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên. Con người sáng tạo ra
các giá trị vật chất tinh thần, thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp đến cao,
phù hợp với mục tiêu, nhu cầu do con người đặt ra. Không có con người
thì không thể có lịch sử xã hội loài người. Do đó, con người là chủ thể
sáng tạo ra lịch sử.
2. Sự hình thành nhân cách con người
Nhân cách là khái niệm chỉ bản sắc độc đáo, riêng biệt của của mỗi
cá nhân, là nội dung và tính chất bên trong của mỗi cá nhân. Nhân cách
biểu hiện thế giới cái tôi của mỗi cá nhân, là sự tổng hợp của các yếu tố
sinh học, tâm lí, xã hội, tạo nên đặc trưng riêng về di truyền, về sinh lí
thần kinh, về hoàn cảnh sống của cá nhân theo cách riêng của mình. Nhân
cách là thế giới quan bên trong của mỗi cá nhân. Nói tóm lại, nhân cách là
toàn bộ những năng lực và phẩm chất xã hội – sinh lí – tâm lí của cá nhân
tạo thành chỉnh thể đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự đánh giá, tự khẳng
định và tự điều chỉnh mọi hoạt động của mình.
Như đã nói ở phần trước, con người là sản phẩm của tự nhiên và xã
hội. Do đó, quá trình hình thành và phát triển nhân cách phụ thuộc vào
nhiều yếu tố. Thứ nhất, con người là động vật cao cấp nhất nên nhân cách
phải dựa trên tiền đề sinh học và tư chất di truyền học. Thứ hai, môi
trường xã hội là yếu tố quyết định sự hình thành và phát triển nhân cách.
Môi trường gia đình, nhà trường và xã hội có thể tác động trực tiếp hoặc
gián tiếp tới mỗi người. Thứ ba, hạt nhân của nhân cách là thế giới quan
cá nhân, bao gồm các quan điểm, lí luận, niềm tin, định hướng giá trị…
Nguyễn Thị Thu Hương – QTKDTH48B
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Yếu tố quyết định để hình thành thế giới quan cá nhân là tính chất của
thời đại, lợi ích, vai trò, địa vị cá nhân trong xã hội, khả năng thẩm định
giá trị đạo đức – nhân văn và kinh nghiệm của mỗi cá nhân. Từ thế giới
quan cá nhân sẽ hình thành các thuộc tính bên trong về năng lực, về phẩm
chất xã hội như năng lực trí tuệ, chuyên môn, phẩm chất chính trị, đạo
đức, pháp luật, thẩm mỹ. Như vậy, sự hình thành và phát triển nhân cách
là sự thống nhất của ba yếu tố sinh học, tâm lí và xã hội để xác lập “cái
tôi” của cá nhân.
3. Mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội
Cá nhân là khái niệm chỉ con người cụ thể sống trong một xã hội
nhất định và được phân biệt với các cá thể khác thông qua tính đơn nhất
và tính phổ biến của nó. Đó là một chỉnh thể đơn nhất vừa mang tính cá
biệt vừa mang tính phổ biến, là chủ thể của lao động, của mọi quan hệ xã
hội và của nhận thức nhằm thực hiện chức năng cá nhân và chức năng xã
hội trong một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử - xã hội. Đó là
phương thức tồn tại cụ thể cuả loài người một cách trực tiếp cảm tính, là
phần tử đơn nhất, riêng lẻ, tạo thành cộng đồng xã hội , là cơ sở hình
thành lịch sử xã hội loài người. Cá nhân là một chủ thể toàn vẹn có nhân
cách, biểu hiện trong phẩm chất sinh lí, tâm lí riêng biệt của mỗi người.
Trong mối quan hệ với xã hội, đó còn là một hiện tượng lịch sử, vận động
phát triển phù hợp với mỗi thời đại nhất định.
Mỗi cá nhân đều ở trong một xã hội nhất định. Mối quan hệ giữa cá
nhân và xã hội dựa trên cơ sở lợi ích, biểu hiện mối quan hệ giữa cái bộ
phận và cái toàn thể, thể hiện tính biện chứng vừa thống nhất vừa mâu
thuẫn. Quan hệ đó luôn vận động, biến đổi và phát triển trong đó sự thay
đổi về chất chỉ diễn ra khi có sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này
bằng hình thái kinh tế - xã hội khác.
Theo triết học Mác – Lênin, xã hội giữ vai trò quyết định đối với cá
nhân. Xã hội là môi trường, là phương thức để lợi ích cá nhân được thực
hiện. Xã hội càng phát triển thì cá nhân càng có điều kiện tiếp cận các giá
trị vật chất, tinh thần nhiều hơn. Vai trò của cá nhân ảnh hưởng tới xã hội
tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của nhân cách. Những cá nhân có tài
năng, phẩm chất, kinh nghiệm, có trách nhiệm cao, thực hiện tốt nghĩa vụ
Nguyễn Thị Thu Hương – QTKDTH48B
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
đối với xã hội sẽ góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Những cá nhân
thoái hoá biến chất về nhân cách sẽ ảnh hưởng xấu, cản trở sự phát triển
của xã hội.
Mỗi cá nhân đều chịu ảnh hưởng của một nền văn hoá nhất định.
Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo (của các cá nhân và
các cộng đồng) trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỉ, hoạt động sáng
tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu
- những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc. Đó là di sản
chung của xã hội, là môi trường sống của con người. Văn hoá là sự phát
huy các năng lực bản chất của con người, thể hiện đầy đủ nhất chất người,
dù đó là hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị hay cách ứng xử…
Như vậy, văn hoá có ảnh hưởng tới sự tồn tại, phát triển của cá nhân, tạo
cho mỗi người một lối sống, một phong cách nhất định. Nhân cách được
hình thành trong môi trường văn hoá nào sẽ đậm nét dấu ấn của nền văn
hoá đó. Mỗi con người đều mang một dấu vết văn hoá đặc trưng trong
nhân cách của mình. Nếu thiếu nhân cách, văn hoá sẽ phát triển một
chiều, con người sẽ trở thành phương tiện thuần tuý cho nền văn minh trí
tuệ chứ không phải trí tuệ con người tạo ra các giá trị của nền văn minh
đương đại.
Xã hội hoá là một khía cạnh của văn hoá, là quá trình mà qua đó cá
nhân học hỏi, lĩnh hội nền văn hoá của xã hội như các khuôn mẫu xã hội,
quá trình mà nhờ nó, cá nhân đạt được những đặc trưng xã hội của bản
thân, học được cách suy nghĩ và ứng xử phù hợp với vai trò xã hội của
mình, hoà nhập vào xã hội. Văn hoá tạo nên nhân cách con người không
cứng nhắc, nó phụ thuộc vào sự thích nghi của từng người. Mỗi người tiếp
thu văn hóa theo một cách riêng của mình và dựng lại nó theo cách riêng.
Nhân cách con người được hiểu một cách toàn diện là tài đức, là năng lực
thể chất, năng lực trí tuệ, trạng thái tinh thần tình cảm của mỗi cá nhân
bao gồm nhận thức, tình cảm, hành động , phong thái, tính khí, lối sống
của họ. Đó là sự thống nhất giữa mặt cá nhân và mặt xã hội ở mỗi người.
Con người hình thành và phát triển nhân cách bằng sự hoạt động của bản
thân, sự hướng dẫn của thế hệ trước, từ các quan hệ xã hội. Như vậy, xã
Nguyễn Thị Thu Hương – QTKDTH48B
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
hội và cá nhân đều đóng vai trò quan trọng trong sự định hướng, hình
thành và phát triển nhân cách con người.
IV. Ảnh hưởng của cơ chế thị trường đến việc hình thành nhân cách
1. Ảnh hưởng tích cực và tiêu cực
a) Tích cực
Nền kinh tế thị trường đã có tác động mạnh mẽ tới đất nước ta. Tỷ lệ
hộ đói nghèo giảm từ 20% năm 1995 xuống còn 11% năm 2000. Trong 10
năm ( 1991-2000), tổng sản phẩm quốc nội tăng gấp 2 lần. Năng suất lao
động xã hội và thu nhập quốc dân đều tăng. Các chính sách đảm bảo xã
hội, nâng mức lương tối thiểu, tăng phụ cấp hưu trí, người có công… làm
cho mức sống của cán bộ công nhân viên chức, người về hưu, người có
công,… được nâng lên một bước. Tỷ lệ tăng dân số giảm từ 1,65% năm
1995 xuống còn 1,53% năm 2000. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân
có nhiều tiến bộ, đặc biệt trong lĩnh vực y tế dự phòng. Tỷ lệ trẻ em dưới 5
tuổi bị suy dinh dưỡng giảm từ 38% năm 1995 xuống còn 33 - 34% năm
2000. Về cơ bản ta đã thanh toán được bệnh bại liệt và uốn ván sơ sinh, các
bệnh sốt rét, bướu cổ đã giảm gần 60% so với năm 1995. Phong trào thể
dục thể thao phát triển rộng rãi trong cả nước. Bởi vậy, con người được
phát triển tốt về thể lực.
Không chỉ phát triển thể lực, con người còn được phát triển cả về trí
lực. Sự nghiệp giáo dục – đào tạo có bước phát triển mới cả về qui mô, chất
lượng, hình thức đào tạo, cơ sở vật chất. Tài năng và trí tuệ con người được
tạo điều kiện phát huy, khả năng được thể hiện. Với môi trường sống ngày
càng nâng cao, con người càng có điều kiện phát triển một cách toàn diện,
hài hoà.
Kinh tế thị trường tạo ra sự cạnh tranh, chạy đua quyết liệt. Điều đó
buộc con người phải năng động, sáng tạo linh hoat, có tác phong nhanh
nhạy, có đầu óc quan sát để thích nghi và hoạt động có hiệu quả. Từ đó con
người nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn của mình, góp phần làm giảm
đi sự chậm chạp và trì trệ vốn có của người lao động trong nền kinh tế lạc
hậu cũ.
Kinh tế thị trường dẫn đến xu thế tất yếu là quốc tế hoá, toàn cầu
hoá. Với những điều kiện cơ sở vật chất ngày càng được nâng cao, con
Nguyễn Thị Thu Hương – QTKDTH48B
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét