Ôn thi HSG Năm học 2013 - 2014
Cha trốn không đi lính nước nhà;
Nên tội thân em vừa nửa tuổi,
Đã phải theo mẹ đến nhà pha.
(Cháu bé trong ngục Tân Dương)
\ Xót xa trước cái chết của một người tù:
Thân anh da bọc lấy xương,
Khổ đau, đói rét hết phương sống rồi;
Đêm qua còn ngủ bên tôi,
Sáng nay anh đã về nơi suối vàng!
(Một người tù cờ bạc chết cứng)
\ Cảm thông với “Người bạn tù thổi sáo” nhớ quê, nhớ nhà:
Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu,
Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu;
Muôn dặm quan hà , khôn xiết nỗi,
Lên lầu ai đó ngóng trông nhau.
\ Với cảnh “Vợ người bạn tù đến nhà lao thăm chồng”:
Anh ở trong song sắt,
Em ở ngoài song sắt;
Gần nhau chỉ tấc gang,
Mà cách nhau trời vực;
Miệng nói chẳng nên lời,
Chỉ còn nhờ khóe mắt;
Chưa nói, lệ tuôn tràn,
Cảnh tình đáng thương thật!
\ Khi bị giải đi, dù trong cảnh bị trói xích. Người vẫn thương nhà nông cần kiệm mà có thể
bị đói kém (Long An – Đồng Chính) Người còn thương anh làm đường: Dãi gió dầm mưa chẳng
nghỉ ngơi - Phu đường vất vả lắm ai ơi…(Phu làm đường).
\ Thương nhớ đất Việt và dân Việt: “Không ngủ được”.
+ Tình yêu tự do: Cảnh binh khiêng lợn cùng đi, Không ngủ được…
+ Phong thái ung dung tự tại (Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh); Tinh thần lạc quan,
luôn hướng về ánh sáng tương lai (Giải đi sớm, Chiều tối).
3/ Giá trị nghệ thuật:
- Bình dị mà sâu sắc: thường nói chuyện lớn qua sự việc bình thường, quen thuộc.
+ Nhìn lính khiêng lợn cùng đi, Người rút ra kết luận về sự mất tự do
+ Nghe tiếng giã gạo, Người nghĩ đến bài học “Gian nan rèn luyện”
- Cổ điển mà hiện đại:
+ Cổ điển: giàu tình cảm với thiên nhiên, hình tượng nhân vật trữ tình ung dung tự tại, bút
pháp chấm phá như muốn ghi lấy linh hồn của tạo vật.
+ Rất cổ điển ở cảm hứng về vẻ đẹp của cảnh vật, coi thiên nhiên là người bạn hòa hợp,
chia sẻtâm tình (Ngắm trăng, Cảnh chiều hôm, MRTTLN…), ở thể thơ và cách tả ngụ tình.
+ Hiện đại: hình tượng thơ luôn hướng về sự sống, ánh sáng, tương lai. Nhân vật trữ tình
không phải là ẩn sĩ mà là chiến sĩ.
+ Rất hiện đại ở giọng điệu nhẹ nhàng, hồn nhiên, hình ảnh thường quen thuộc, cảm hứng
về ánhsáng, ánh hồng, niềm vui, niềm tin thắng lợi (Chiều tối, Giải đi sớm); tinh thần dân chủ:
cách chọn đề tài, cách nói, cách thể hiện bình dị, hướng về đời sống người dân cực khổ.
- Phong phú mà đặc sắc: khi trữ tình (Cảnh chiều hôm), khi hài hước châm biếm (Dây trói,
Ghẻ lở, Lai Tân) hoặc kết hợp hai yếu tố này (Chiều hôm)
Hoa hồng nở hoa hồng lại rụng,
Hoa tàn, hoa nở cũng vô tình
Hương hoa bay thấu vào trong ngục,
Kể tới tù nhân nỗi bất bình. (Cảnh chiều hôm)
Rồng quấn vòng quanh chân với tay,
Trông như quan võ đủ tua, đai;
Tua đai quan võ bằng kim tuyến
Dương Đức Thắng THPT Thạch Yên
-5-
Ôn thi HSG Năm học 2013 - 2014
Tua của ta là một cuộn gai. (Dây trói)
Đầy mình đỏ tím như hoa gấm,
Sột soạt luôn tay tựa gảy đàn;
Mặc gấm, bạn tù đều khách quý,
Gảy đàn, trong ngục thảy tri âm. (Ghẻ lở)
Đề : Đọc Nhật kí trong tù của Hồ Chủ Tịch, nhà thơ Hoàng Trung Thông viết:
“Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp
Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh
Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”
Em hiểu bốn câu thơ trên như thế nào? Chọn và phân tích những câu thơ tiêu biểu trong
“NKTT”
HƯỚNG DẪN
Giản dị và thực tế như cuộc sống đời thường, thơ văn Bác đi vào lòng người rất nhẹ
nhàng, sâu sắc, mà khi đọc ta không thể nào quên; cũng như bao nhà thơ, nhà văn khác, khi
đọc “Nhật kí trong tù”, nhà thơ Hoàng Trung Thông đã thực sự rung động trước cái hay, cái đẹp
của từng bài thơ, lời thơ, ý thơ, để rồi cảm xúc trào dâng, ông viết:
“Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp
Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh
Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mang bát ngát tình”
Nhà thơ Xuân Diệu khi đọc “Nhật kí trong tù” của Bác Hồ có lần đã nói: Càng đọc
càng hay, càng kính trọng người tù – Hồ Chí Minh… Với Hoàng Trung Thông thì “trăm bài
trăm ý đẹp” nghĩa là “Nhật kí trong tù” bài nào cũng “đẹp”. Không phải cái đẹp lặp lại, mà mỗi
bài mỗi vẻ khác nhau. Tất cả đều đẹp. Tác giả lại viết “ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh”. Ta
nên hiểu “ánh đèn tỏa rạng” ở đây như thế nào? Phải chăng ý nhà thơ muốn nói: “ánh đèn”
chính là thơ Bác; thơ Bác như “ánh đèn” đã “tỏa rạng”, giúp cho ta hiểu thêm về Bác – một
con người vĩ đại và dạy ta biết cách “làm người”.
Bởi vì:
“Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”
Nhà thơ nói đó là những “vần thơ thép”; những vần thơ mang “chất thép” của con
người cộng sản Hồ Chí Minh. “Thép” ở đây là ý chí, là nghị lực, là dũng khí lớn để vượt qua
hoàn cảnh và khắc phục hoàn cảnh của một con người vĩ đại. Nhưng dù là “thơ thép” nhưng
tình vẫn “bát ngát mênh mông”. Đó mới là điều Hoàng Trung Thông cần nói và đã nói.
Có ý kiến cho rằng: linh hồn trong “Nhật kí trong tù” là vẻ đẹp tâm hồn của con người
Hồ Chí Minh – Người cộng sản. Tâm hồn của một con người đích thực thì bao giờ cũng vượt
lên trên mọi gian khổ, khó khăn để khẳng định chính mình:
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng
(Chiều tối)
Cũng phải nói ngay rằng, đây là một cảnh thực; là cảnh Bác đã phác họa trên đường bị giải khi
trời chiều đã bảng lảng; trên trời một cánh chim cô đơn đang bay mệt mỏi mà không biết sẽ đậu
chốn nào “về rừng tìm chốn ngủ” và “từng chòm mây, trôi nhẹ” che mặt trời cũng sẽ tìm chỗ
dừng chân (phía cuối trời!). Vậy là con chim còn có đích để mà dừng (“Về rừng) còn con người
ở đây thì sao? Giữa cảnh âm u mịt mùng của rừng núi hiểm trở không một phút được dừng
chân. Tất cả chỉ còn là sự mỏi mệt, vội vã, sự uể oải đầy nặng nhọc. Tưởng như tất cả cảnh vật
đã rất buồn và chìm đi trong bóng tối khi mà người tù cũng đã mỏi mệt. Nhưng không, chỉ
bằng một từ “hồng” nhà thơ đã xóa sạch đi đêm tối bao trùm và ánh sáng màu hồng đã bao
phủ toàn bộ bài thơ. Tất cả sự mỏi mệt, vội vã, sự nặng nhọc mà tác giả đã diễn tả ở trên
không còn nữa; thay vào đó là niềm vui, là sự hân hoan hướng về phía ánh sáng nơi có “ Cô
Dương Đức Thắng THPT Thạch Yên
-6-
Ôn thi HSG Năm học 2013 - 2014
em xóm núi xay ngô tối”.Phải chăng đấy còn là sự khao khát của con người xa quê, hướng về
cuộc sống và sự sinh hoạt bình thường mà đầm ấm của gia đình.Với câu cuối cùng, tất cả còn
lại chỉ là một màu hồng; màu hồng làm sáng không gian, soi rõ hình ảnh của”cô em xóm núi”
đang miệt mài lao động, phải chăng, đó cũng là màu hồng của tư tưởng Bác, là cái tình mênh
mông, bát ngát mà Bác dành cho con người, cho cảnh vật.
Gà gáy một lần đêm chửa tan
Chòm sao đưa nguyệt vượt lên ngàn
Người đi cất bước trên đường thẳm
Rát mặt đêm thu, trận gió hàn (Giải đi sớm)
Có người cho rằng ở khổ I này, cảnh vật và con người đối nhau. Đúng như thế.
Nhưng tuy đối nhau mà sự hòa hợp giữa tâm hồn rất đẹp, rất sáng của người tù với thiên
nhiên lại thêm phần đẹp và ảo hơn. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, lòng lạc quan cách mạng
vừa là phương thức để tồn tại, để vượt qua, vừa để khắc phục mọi hoàn cảnh. Đó là điều tất
yếu, song cái chính vẫn là ở tâm hồn con người, ở ý nghĩa, ở niềm tin. Nói như Hoài Thanh đó
là “ Cảnh ban mai tràn đầy khí thế “.
Phương Đông màu trắng chuyển sang hồng
Bóng tối đêm tàn quét sạch không
Hơi ấm bao la trùm vũ trụ
Người đi thi hứng bỗng thêm nồng.
Nếu như không có một niềm tin sắt đá vào một tương lai tươi sáng, thử hỏi làm sao
Bác có thể có được những giọng thơ tràn đầy hào khí đến thế ?
Trong bài “cảnh chiều hôm”, ý thơ chuyển sang một đề tài, một khía cạnh khác,
nhưng cái chất “thép” và “tình” đặc biệt”bát ngát mênh mông” của Người vẫn không hề thay
đổi:
Hoa hồng nở, hoa hồng lại rụng
Hoa tàn, hoa nở cũng vô tình
Hương hoa bay thấu vào trong ngục
Kể với tù nhân nỗi bất bình
Bài thơ nói rất thực về sự việc “ hoa hồng nở, hoa hồng lại rụng”.Vậy đấy! đẹp
như hoa hồng mà nở rồi cuối cùng cũng phải tàn. Đó chẳng phải là sự vô tình của thiên
nhiên? Nhưng đâu chỉ là thiên nhiên vô tình. Chất “thép” nằm ở chỗ nhận ra và phê phán thói
vô tình này. Và sự bất bình của chút hương hoa chỉ có thể đem giải bày cùng người tù –
người cộng sản vĩ đại, một nghệ sĩ, một nhà thơ. Âu đó cũng là cái tình của Bác với hoa với
nhân loại đau khổ vậy.
Người xưa có câu: “ Khi lo, lo trước thiên hạ, Khi vui, vui sau thiên hạ”. Hồ Chí Minh
cũng vậy, Người buồn với nỗi buồn của người đời. Người che chở cho cả “ nhân loại cần lao”.
Ôi lòng Bác vậy cứ thương ta
Thương cuộc đời chung thương cỏ hoa
Chỉ biết quên mình cho hết thảy
Như dòng sông đỏ nặng phù sa
Một tâm hồn, một con người, một cuộc đời luôn yêu tất cả, chỉ quên mình. Đó là con
người vĩ đại,sống hết mình, vì con người; vì vậy, khi làm thơ, dù trong hoàn cảnh khắc
nghiệt, thơ Bác vẫn là “vần thơ thép “, “Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”.
Người xưa có câu: “ Khi lo, lo trước thiên hạ, Khi vui, vui sau thiên hạ”. Hồ Chí Minh
cũng vậy, Người buồn với nỗi buồn của người đời. Người che chở cho cả “ nhân loại cần lao”.
Ôi lòng Bác vậy cứ thương ta
Thương cuộc đời chung thương cỏ hoa
Chỉ biết quên mình cho hết thảy
Như dòng sông đỏ nặng phù sa
Một tâm hồn, một con người, một cuộc đời luôn yêu tất cả, chỉ quên mình. Đó là con
người vĩ đại,sống hết mình, vì con người; vì vậy, khi làm thơ, dù trong hoàn cảnh khắc
nghiệt, thơ Bác vẫn là “vần thơ thép “, “Mà vẫn mênh mông bát ngát tình”.
THIÊN NHIÊN TRONG NHẬT KÍ TRONG TÙ
Dương Đức Thắng THPT Thạch Yên
-7-
Ôn thi HSG Năm học 2013 - 2014
Xưa nay, thiên nhiên là đề tài rộng lớn và nguồn cảm hứng sáng tạo vô tận trong thi ca,
nghệ thuật, nhất là trong thơ ca phương Đông. Thiên nhiên có vai trò hết sức quan trọng đối với
đời sống tinh thần của con người bởi nó là nơi gửi gắm, chia sẻ buồn vui, làm cho tâm hồn thêm
thanh cao, trong sáng. Giống như các nhà thơ xưa, Hồ Chí Minh cũng dành cho thiên nhiên một
tấm lòng ưu ái. Đúng như giáo sư Đặng Thai Mai đã nhận xét : “Trong “Nhật kí trong tù”, thiên
nhiên chiếm một địa vị danh dự”.
Những bài thơ tả cảnh thể hiện rất rõ cảm hứng dạt dào của Bác trước thiên nhiên. Có bài
chỉ vài nét phác họa đơn sơ, song cũng có bài như một bức tranh sơn mài lộng lẫy. Nhưng bao
trùm lên tất cả vẫn là vẻ đẹp phong phú, đa dạng của thiên nhiên.
Mặc dù thân thể bị giam cầm trong ngục tối nhưng trái tim nhạy cảm của Bác vẫn dễ dàng
rung động trước một ánh nắng mai rọi chiếu nơi cửa ngục âm u :
Trong ngục giờ đây còn tối mịt,
Ánh hồng trước mặt đã bừng soi.
(“Buổi sớm”).
Hoặc giao cảm chan hòa với đêm trăng đẹp :
Trong tù không rượu cũng không hoa,
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ.
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.
(“Ngắm trăng”).
Bác đã quên đi trong phút chốc cái hiện thực phũ phàng, nghiệt ngã chố lao tù để thảnh
thơi mà “thưởng nguyệt” như cái thú thanh cao của thi sĩ muôn đời. Vẻ đẹp thiên nhiên ở đây
giản dị mà độc đáo : ánh trăng soi qua khung cửa sổ nhà lao và trở thành tri âm, tri kỉ của người
tù.
Cách ngắm trăng độc đáo có một không hai ấy thể hiện tâm hồn nghệ sĩ đa cảm và tinh tế.
Trăng làm đẹp người, người làm đẹp trăng. Cái nhìn thi vị hóa của Bác khiến trăng thêm đẹp và
vẻ đẹp của trăng làm cho tâm hồn Bác rung động sâu xa như tâm hồn thi sĩ. Giữa trăng với người
có mối giao hòa đặc biệt.
Mặt trời, trăng sao, tiếng chim hót sớm mai, hương hoa hồng thoảng vào trong ngục…
tượng trưng cho mơ ước, niềm vui, khát vọng tự do của người tù cộng sản Hồ Chí Minh. Đặc
biệt là hình tượng mặt trời xuất hiện nhiều lần trong thơ Bác đã trở thành biểu tượng thiêng liêng
của niềm tin vào tương lai tươi sáng của Cách mạng, của cuộc đời. Trên đường chuyển lao, đi
trong đêm khuya giá lạnh nhưng Bác vẫn vượt lên gian khổ để thưởng thức vẻ đẹp thiên nhiên :
Gà gáy một lần đêm chửa tan,
Chòm sao đưa nguyệt vượt lên ngàn;
Người đi cất bước trên đường thẳm,
Rát mặt đêm thu, trận gió hàn.
Phương Đông màu trắng chuyển sang hồng,
Bóng tối đêm tàn, quét sạch không;
Hơi ấm bao la trùm vũ trụ,
Người đi, thi hứng bỗng thêm nồng. (“Giải đi sớm”)
Thiên nhiên trong “Nhật kí trong tù” đẹp đẽ và ấm áp tình người. Nó thực sự trở thành
nguồn động viên, an ủi to lớn đối với người tù đặc biệt Hồ Chí Minh :
Mặc dù bị trói chân tay,
Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng.
Vui say ai cấm ta đừng,
Đường xa âu cũng bớt chừng quạnh hiu. (“Trên đường đi”).
Có lúc, thiên nhiên hiện lên như những thử thách nghiệt ngã tưởng chừng khó có thể vượt
qua : “Đi đường mới biết gian lao. Núi cao rồi lại núi cao trập trùng” (“Đi đường”). Hoặc đêm
thu giá lạnh, gió quất ràn rạt từng trận, từng trận vào mặt “Người đi cất bước trên đường thẳm”
(“Chiều tối”). Chiều tàn, Bác vẫn phải dẫn bước trên con đường núi quanh co, hiu quạnh, giữa
thiên nhiên dữ dội và khắc nghiệt : “Gió sắc tựa gươm mài đá núi. Rét như dùi nhọn chích cành
cây” (“Hoàng hôn”). Vượt qua tất cả những gian nan thử thách ấy, Bác trở nên con người vĩ đại.
Dương Đức Thắng THPT Thạch Yên
-8-
Ôn thi HSG Năm học 2013 - 2014
Thiên nhiên muôn màu muôn vẻ luôn là người bạn song hành với Bác trong suốt cuộc đời.
Bác đã dành cho thiên nhiên một vị trí xứng đáng trong tâm hồn và trong thơ mình. Đó cũng là
biểu hiện của tình cảm phong phú cùng tấm lòng nhân ái mênh mông của người chiến sĩ – thi sĩ
Hồ Chí Minh.
CHẤT THÉP,CHẤT TÌNH TRONG THƠ HỒ CHÍ MINH
Câu hỏi: Nghĩ về tập thơ "NKTT" của HCM, nhà phê bình Hoài Thanh từng viết: "Khi
Bác nói trong thơ có thép, ta cũng cần tìm hiểu thế nào là thép ở trong thơ. Có lẽ phải hiểu
một cách rất linh hoạt mới đúng. Không phải cứ nói chuyện thép, lên giọng thép mới có tinh
thần thép". Anh (Chị) hiểu ý kiến trên như thế nào ? Qua việc bình giảng bài thơ "Giải đi
sớm" hãy làm sáng tỏ nhận xét trên.
HƯỚNG DẪN
I. Mở bài:
Nghĩ về tập thơ "NKTT" …thần thép". Lời nhận xét của Hoài thanh vừa khái quát được nội
dung cảm hứng của tập thơ "NKTT" vừa lột tả được tinh thần của của mỗi vần thơ trong tập
"NKTT". "Giải đi sớm" tiêu biểu cho tâm hồn cốt cách của HCM - một bài thơ không nói chuyện
thép, nên giọng thép mới có tinh thần thép.
II. Thân bài:
1. Xuất xứ bài thơ:
2. Giải thích ý kiến của bài thơ.
- Lời nhận xét của Hoài Thanh khẳng định Bác có nói trong thơ có thép, điều này chỉ xuất
hiện một lần duy nhất trong bài thơ "Cảm tưởng đọc thiên gia thi":
"Cổ thi thiên ái thiên nhiên nữ
Sơn, thuỷ, yên, hoa, tuyết, nguyệt, phong.
Hiện đại thi trung ưng hữu thiết Thi gia dã yếu diệc xung phong"
(Thơ xưa thiên về yêu cảnh thiên nhiên đẹp
Núi, sông, khói, sóng, hoa, tuyết, trăng, gió
Thơ hiện đại cần có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong)
=> HCM không hề phủ nhận những đề tài thiên nhiên, trong thơ Người chỉ nhận xét thơ
xưa quá thiên về thiên nhiên đẹp mà quên đi bao nhiêu điều khác, thơ hiện đại bên cạnh đề tài
thiên nhiên cần có thêm tinh thần thép.
- Nhà phê bình Hoài Thanh không chỉ đòi hỏi người đọc phải hiểu một cách linh hoạt uyển
chuyển chất thép trong thơ Bác tránh khiên cưỡng cứng nhắc, mà còn chỉ ra hai dạng biểu hiện
của chất thép trong thơ Bác:
+ Có khi chất thép được biểu hiện trực tiếp qua việc "nói giọng thép" "Lên giọng thép".
Trong tập nhật kí, bên cạnh bài thơ "Cảm tưởng đọc thiên gia thi" trực tiếp nói chuyện thép, chỉ
có vài bài thơ "lên giọng thép":
"Kiên trì và nhẫn nại
Không chịu lùi một phân
Vật chất tuy đau khổ
Không nao núng tinh thần"
(Nghe tiếng giã gạo)
"Nghĩ mình trong bước gian truân
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng"
(Tự khuyên mình)
+ Bên cạnh đó phần lớn các từ thơ trong tập "NKTT" đều thể hiện một chất thép gián tiếp
qua đề tài thiên nhiên. Đó là những bài thơ "không nói chuyện thép, lên giọng thép mà vẫn nồng
nàn tinh thần thép", tiêu biểu là bài "Giải đi sớm".
3. Bình giảng bài thơ (Đề 6).
=> "Không nói chuyện thép, không nên giọng thép nhưng vẫn nồng nàn tinh thần thép".
III. Kết bài
Dương Đức Thắng THPT Thạch Yên
-9-
(Bốn tháng rồi)
"Gạo đem vào giã bao đau đớn
Gạo giã xong rồi trắng tựa bông
Sống ở trên đời người cũng vậy
Gian nan rèn luyện ắt thành công"
Ôn thi HSG Năm học 2013 - 2014
Lời nhận xét của Hoài Thanh đã chỉ ra những dạng biểu hiện tinh tế của chất thép trong
"NKTT" của HCM, một chất thép khi được bộc lộ trực tiếp qua việc nói chuyện thép", "lên
giọng thép", khi được bộc lộ gián tiếp qua đề tài thiên nhiên trong thơ Bác mà bài thơ "Giải đi
sớm" là một hiện thân cụ thể độc đáo. ý kiến của Hoài Thanh dù chưa chỉ ra được mỗi quan hệ
giữa chất thép và chất tình trong thơ Bác như lời nhận xét của nhà thơ Hoàng Trung Thông
nhưng vẫn là một nhận xét sâu sắc và có sức thuyết phục về sáng tác của HCM trong hoàn cảnh
thử thách nghiệt ngã.
Câu hỏi: Đọc tập thơ "Nhật kí trong tù " của Hồ Chí Minh, nhà thơ Hoàng Trung
Thông viết:
"Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp
Anh đèn toả sáng mái đầu xanh
Vần thơ của Bác vẫn thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình"
Anh (chị) hiểu ý thơ trên như thế nào. Qua việc bình giảng bài thơ "Chiều tối" hoặc
"Giải đi sớm" hãy làm sáng tỏ bài thơ đó.
Gợi ý giải bài
I. Mở bài
Nhận xét về sáng tác của HCM trong tập "NKTT", bên cạnh ý kiến của Hoài Thanh về
những dạng biểu hiện tinh tế khác nhau của chất thép trong thơ Bác, nhà thơ Hoàng Trung
Thông cũng có một nhận xét vô cùng đặc sắc:
" Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp
Ánh đèn toả rạng mái đầu xanh
Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngat tình"
Ý kiến của nhà thơ HTT không chỉ gợi lên bát ngát tình, đọc những lớp ý nghĩa khác nhau,
mà còng được thể hiện qua chính thực tiễn sáng tác của HCM, tiêu biểu là bài thơ.
II. Thân bài
Trong ý thơ của mình, HCM đã dùng hình ảnh "trăm bài" như một hình ảnh biểu tượng để
chỉ hơn một trăm bài thơ trong tập "NKTT" của Bác. Đối với ông mỗi bài thơ trong tập nhật ký
đều là một "ý đẹp", đẹp cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức nghệ thuật. Lời NX này đã khẳng
định giá trị lớn lao của từng ý thơ, từng tác phẩm trong tập Nhật ký.
Dòng thơ :" ánh đèn xanh" vừa như một hình ảnh tả thực, miêu tả ánh sáng toả ra từ ngọn
đèn soi sáng mái đầu còn trẻ của nhà thơ khi đọc thơ Bác, vừa có thể hiểu như một hình ảnh biểu
tượng chỉ ánh sáng tinh thần toả ra từ tập "NKTT", soi sáng tâm hồn trí tuệ cho những thế hệ
sau, cho những người đầu xanh tuổi trẻ => ý thơ đã khẳng định giá trị của ánh sáng tư tưởng, của
những bài học nhân sinh toả ra từ tập nhật ký.
- Nếu Hoài Thanh chỉ khẳng định hai dạng biểu hiện cảu chất thép trong thơ Bác thì HTT
không chỉ khẳng định chất thép trong thơ người mà còn khẳng định mối quan hệ độc đáo giữa
chất thép và chất tình.
+ "Thép" ở đây là xu hướng CM và tiến bộ về tư tưởng là cảm hứng quan tâm đến thơ
"chuyên chú" ở con người như Nguyễn Văn Siêu đã nói, tinh thần "đâm mấy chẳng tà" của
NĐC và được nâng cao trong thời đại CMVS.
"Thép" là tích cách của nhà thơ đối với thiên nhiên ưu đãi với vạn vật, với con người. Củng
có khi là những tâm sự riêng tư thầm kín, là những nỗi niềm tâm sự của một con người bình
thường như mọi người mà HCM thể hiện trong mọi sáng tác của mình.
2. CM
Bình giảng một trong hai bài thơ
a. Với bài "Chiều tối"
- "Thép" là những phương diện lớn lao cao cả phi thường (đề số 5.2b )
- "Tình": Tình yêu thiên nhiên, niềm thiết tha gắn bó với cuộc sống bình dị của con người.
b. Đối với bài "Giải đi sớm"
- "Thép": Vượt lên trên hoàn cảnh, sự tự do tinh thần, cuộc vượt ngục tinh thần lớn lao cao
cả.
- "Tình":
Dương Đức Thắng THPT Thạch Yên
-10-
Ôn thi HSG Năm học 2013 - 2014
+ Tình yêu thiên nhiên, tâm hồn nghệ sĩ tinh tế nhạy cảm trước bức tranh TN buổi sớm với
những vận động đổi thay hết sức bất ngờ.
+ Là tính cảm xót xa thương cho chính mình khi đối diện trước cái khắc nghiệt của cảnh
giải đi sớm: Đường xa, giá lạnh, bóng tối và sự vắng lặng vây quanh người tù đất khách.
=> Bài thơ (1), (2) vừa thể hiện một chất thép tinh thần cũng vừa bộc lộ một chất tình sâu
sắc phong phú đa dạng, đó là một tác phẩm vừa nồng nàn chất thép vừa thấm đượm chất tình.
Chính sự kết hợp độc đáo giữa chất "thép" và chất "tình", giữa cái lớn lao sâu sắc của nội dung
tư tưởng với cái mới mẻ tinh tế của hiện thực nghệ thuật như thế đã làm cho bài thơ (1), (2) trở
thành một "ý đẹp", và hơn một trăm bài thơ trong tập Nhật ký là "trăm ý đẹp". Tập "NKTT" như
vậy vẫn tiếp tục toả ra cái ánh sáng kỳ diệu, áng sáng của tâm hồn trí tuệ tình cảm soi đường chỉ
lối cho những thế hệ sau, cho những người đầu xanh tuổi trẻ.
III. Kết luận:
Lời nhận xét của nhà thơ Hoàng Trung Thông vừa chỉ ra mối quan hệ độc đáo giữa chất
thép và chất tình trong thơ Bác vừa khẳng định giá trị lớn lao lâu dài của tập Nhật ký bằng thơ. ý
kiến này như một bổ xung độc đáo cho ý kiến giải cội nguồn làm nên sức hấp dẫn lâu dài của tập
nhật ký bằng thơ:
"Lại thương nỗi đoạ đầy thân Bác
Mười bốn trăng xê tái gông cùm
Ôi chân yêu mắt mờ tóc bạc
Mà thơ bay cách hạc ung dung"
(Tố Hữu)
Đề: Anh ( chị) hãy phân tích bài thơ Chiều tối ( Mộ ) và bài thơ Giải đi sớm ( Tảo giải )
ở tập Nhật kí trong tù ( Ngục trung nhật kí) để làm nổi bật những nét đẹp trong tâm hồn tác
giả Hồ Chí Minh.
Yêu cầu học sinh nắm vững một số kiến thức đã học về tác gia Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí
Minh ở chương trình Văn học 12, tập một.
Nắm vững nội dung tập thơ Nhật kí trong tù nhất là hai bài thơ Chiều tối ( Mộ ) và Giải đi
sớm ( Tảo giải) .
Phương án làm bài tối ưu: thông qua việc phân tích hai bài thơ nêu trên, làm nổi bật những
nét đẹp trong tâm hồn tác giả. Cần xuất phát từ việc phân tích các bài thơ chứ không phải từ
những ý niệm có sẵn về Hồ Chí Minh.
Những luận điểm khái quát về vẻ đẹp tâm hồn tác giả Hồ Chí Minh có thể trình bày tách ra
thành một phần ở cuối bài viết, cũng có thể " phân bố" đều trong từng đoạn phân tích cụ thể đối
với hai bài thơ.
Hình thức trình bày phải rõ ràng, trong sáng, mạch lạc
Phạm vi tư liệu phải phù hợp và phong phú.
Học sinh có thể triển khai một số ý chính sau:
Ý 1: ( 0,5 điểm ): Giới thiệu chung về tác giả Hồ Chí Minh , tác phẩm Nhật kí trong tù
và hai bài thơ.
a. ( 0,25 điểm ): Hồ Chí Minh là nhà cách mạng vĩ đại đồng thời là tác gia văn học lớn.
Sự nghiệp sáng tác của Bác phong phú , đa dạng gồm ba bộ phận chính, trong đó thơ ca chiếm
một vị trí nổi bật. Nhật kí trong tù ( Ngục trung nhật kí ) là tác phẩm thơ tiêu biểu, được viết
trong khoảng thời gian từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943 , tức là thời gian Bác bị chính quyền
Tưởng Giới Thạch bắt giam tại Quảng Tây ( Trung Quốc).
b. ( 0,25 điểm ): Chiều tối và Giải đi sớm là hai bài thơ rất có giá trị của tập Nhật kí trong
tù, vừa gợi được cảnh sống gian truân của Bác trong những ngày bị giam cầm vừa mang tính
chất tự biểu hiện sâu sắc . Qua hai bài thơ, ta có thể nhận ra những nét đẹp trong tâm hồn tác giả
Hồ Chí Minh.
Ý 2: ( 1,5 điểm ): Những điểm cần phân tích ở bài thơ Chiều tối
a. ( 0,5 điểm): Dù lâm vào cảnh bị đày đoạ, Bác vẫn thể hiện tình cảm yêu mến thiết tha
và thái độ đồng cảm, chia sẻ với tạo vật, thiên nhiên vùng sơn cước lúc chiều buông. Cánh chim
mỏi mệt ( quyện điểu ) và chòm mây lẻ loi ( cô vân ) vừa là đối tượng của niềm thương cảm vừa
là biểu hiện bên ngoài của nỗi buồn trong lòng người tù trên con đường đaỳ ải, xa đất nước quê
hương.
Dương Đức Thắng THPT Thạch Yên
-11-
Ôn thi HSG Năm học 2013 - 2014
b. ( 0,5 điểm ): Sự chuyển cảnh ở nửa sau bài thơ cho thấy lòng yêu con người , yêu cuộc
sống đặc biệt sâu sắc của Bác . Bác đã nói về hình ảnh cô gái xóm núi xay ngô với biết bao cảm
xúc trìu mến. Bác hiểu nổi nhọc nhằn vất vả của người lao động ( cụm tù ma bao túc được lặp lại
theo trật tự đảo ngược ở câu 3 và 4 góp phần biểu đạt ý này) nhưng đồng thời cũng nhìn thấy nét
đẹp riêng, chất thơ riêng ở những cảnh đời bình dị (ít gặp trong thơ cổ điển ).
c. ( 0,5 điểm ): Ánh hồng của lò than được nhắc tới ở cuối bài ( qua chữ hồng- nhãn tự
trong tác phẩm) cho thấy tâm trạng của Bác đang chuyển biến từ buồn sang vui. Quan trọng hơn,
nó giúp ta hiểu được niềm lạc quan đáng quý ở nhà cách mạng. Rõ ràng trong hoàn cảnh nào Bác
cũng hướng tới phần tươi sáng của cuộc đời.
Ý 3: ( 2điểm ) Những điểm cần phân tích ở bài Giải đi sớm
a. ( 0,75 điểm) : Giải đi sớm I cho thấy những gian truân của chuyến đi đày, thể hiện cái
nhìn thấu suốt, điềm tĩnh của Bác đối với hoàn cảnh. Tư thế của Bác là tư thế người chiến sĩ, chủ
động, sẵn sàng đương đầu cùng thử thách (được hình tượng hoá qua hình ảnh đêm tối, đường xa,
hình ảnh những cơn gió lạnh liên tiếp thổi tới) do Bác ý thức được rất rõ những trở ngại tất yêu
trên con đường mình đang dấn bước( chú ý phân tích khía cạnh biểu trưng của các hình ảnh
chinh nhân, chinh đồ).
b. ( 0,5 điểm ): Vừa lên đường , Bác đã hướng nhin lên trời cao, tìm thấy ở hình ảnh của
người bạn đồng hành tin cậy ( chú ý phân tích các từ ôm (ủng) lên ( thướng )vừa thể hiện được
quỹ đạo chuyển động của sự vật vừa thể hiện được niềm hứng khởi trong lòng người đi). Ở đây
lòng yêu thiên nhiên, sự nhạy cảm đối với cái đẹp, chút lãng mạn rất thi sĩ và tinh thần thép cùng
được biểu lộ và thống nhất với nhau ( phải có được sức mạnh tinh thần thế nào mới vui được với
trăng sao trong hoàn cảnh ấy).
c. ( 0,75 điểm ): Giải đi sớm II miêu tả cuộc đi đường trong ánh bình minh rực rỡ, nối
tiếp rất đẹp với bài thứ nhất nói về cuộc đi trong đêm tối và gió rét. Kiểu tư duy thơ luôn hướng
về ánh sáng, hướng về tương lai được thể hiện ở đay rất rõ. Ta nhận thấy ở đây có sự giao hoà
tuyệt vời giữa Bác với thiên nhiên tràn đầy sinh khí. Cái nồng của cảm xúc bên trong được nhóm
lên từ hơi ấm ( noãn khí ) bên ngoài, nhưng đến lượt mình , chính nó như đã làm đất trời thêm
phần ấm áp. Như vậy, trong bài thơ vừa có hình ảnh một vị chinh nhân cứng cỏi, vừa có hình ảnh
một thi nhân đầy cảm hứng về cái đẹp.
Ý 4: ( 1 điểm ) Khái quát về những nét đẹp trong tâm hồn tác giả Hồ Chí Minh được
thể hiện qua hai bài thơ.
a. ( 0,25 điểm ): Bác rất yêu thiên nhiên , luôn dạt dào cảm xúc thi ca trước mọi sắc thái
đa dạng của nó ( từ cảnh hiu hắt, tiêu sơ đến cảnh hoành tráng, lộng lẫy).
b. ( 0,25 điểm ): Bác yêu con người , gắn bó trước hết với cuộc sống con người ( nhất là
cuộc sống người lao động); thường biểu lộ tình cảm một cách tự nhiên, bình dị, dễ hoà đồng với
chung quanh.
c. ( 0,5 điểm ) Bác có tinh thần thép, ý thức rõ về đường đi của mình, kiên nghị trước thử
thách, tự chủ trong mọi hoàn cảnh. Bác luôn lạc quann, tràn đầy lòng tin vào cuộc sống, tương
lai, vào xu thế vận động tích cực của sự vật.
Đề: Nhận định về tập thơ ''Nhật ký trong tù'' của Chủ Tịch Hồ Chí Minh có ý kiến cho
rằng :
"Căn cứ vào những bài hay và tiêu biểu của tập thơ ,người ta thấy màu sắc đậm đà nhất
của hồn thơ Hồ Chí Minh là màu sắc cổ diển Nhưng cổ diển mà vẫn thể hiện tinh thần
thời đại." Em có suy nghĩ gì về ý kiến trên ? Chọn và phân tích một số bài thơ tiêu biểu để
làm rõ ý kiến ấy .
ĐÁP ÁN
A-Yêu cầu chung:
1/Về kiến thức :Hiểu được các khái niệm "Màu sắc cổ điển " và " Tinh thần thời đại" và
những biểu hiện cụ thể của "Màu sắc cổ điển" và "Tinh thần thời đại " trong thơ Bác nói chung
và tập thơ "Nhật ký trong tù " nói riêng. Đồng thời qua đó biết phát biểu những suy nghĩ đúng
đắn và sâu sắc về vai trò của "Màu sắc cổ điển " và "Tinh thần thời đại "trong việc đem lại giá trị
Dương Đức Thắng THPT Thạch Yên
-12-
Ôn thi HSG Năm học 2013 - 2014
tư tưởng và nghệ thuật cho tập thơ "Nhật ký trong tù " và góp phần làm nên nét đặc trưng tiêu
biểu của phong cách thơ Hồ Chí Minh.
II/ Về kỷ năng :
- Nắm vững kỷ năng, phương pháp làm một bài văn NLVH, vận dụng thành thạo 3 thao
tác giải thích, bình luận, chứng minh trong đó bình luận và chứng minh chiếm phần quan trọng
trong bài làm.
-Biết lựa chọn, phân tích những bài thơ hay và tiêu biểu trong tập thơ "Nhật ký trong tù "
B- Yêu cầu cụ thể :
I)Trình bày suy nghĩ : HS có thể nêu nhiều ý khác nhau nhưng phải gắn với nội dung đề
bài, khẳng định sự đúng đắn của ý kiến được nêu trong đề bài và bàn luận, mở rộng ý kiến đó.
1-"Nhật ký trong tù " là một tập thơ có nhiều tính chất đặc biệt : ra đời trong hoàn cảnh lao
tù, nơi hiện thân của tội ác. Người làm thơ là một chiến sĩ CM đang sống trong cảnh tù tội, làm
thơ để" ngâm ngợi cho khuây". Hơn nữa tập thơ lại được viết dưới dạng "nhật ký". Vì vậy, nhân
vật trữ tình hiện lên trong tập thơ rất tự nhiên, chân thật, sinh động. Có thể xem "Nhật ký trong
tù " là Bức chân dung tinh thần tự hoạ của Hồ Chí Minh
2-Màu sắc đậm đà nhất của hồn thơ HCM là màu sắc cổ điển
-"Màu sắc cổ điển" trong thơ chính là nói đến những yếu tố về nội dung và thi pháp chịu
ảnh hưởng của thơ ca cổ điển phương Đông về đề tài, thể thơ ,bút pháp , thi liệu ,cảm xúc
- Bac là một người phương Đông, xuất thân trong một gia đình Nho học, bản thân đã từng
học chữ Nho, đọc nhiều thơ Đường ,thơ Tống Vì thế chất Á Đông ăn sâu trong máu thịt của
Người
- Bác rất yêu thiên nhiên, lại có tâm hồn thi sĩ .Điều này giải thích vì sao trong thơ của
mình Bác luôn dành cho thiên nhiên một vị trí đáng kể
- Trong tập thơ "Nhật ký trong tù "căn cứ vào những bài thơ hay và tiêu biểu , ta thấy"
màu sắc cổ điển " được thể hiện một cách phong phú và tinh tế , tạo thành một nét đăc trưng tiêu
biểu trong phong cách thơ trữ tình HCM: giàu tình cảm đối với thiên nhiên, bút pháp chấm phá
như muốn ghi lấy linh hồn của tạo vật, sử dụng những chi tiết mang tính ước lệ quen thuộc, hình
tượng nhân vật trữ tình ung dung, nhàn tãn tâm hồn hoà hợp với thiên nhiên, vũ trụ. Hồn thơ ấy
tự tìm đến hình thức ưa thích và phù hợp nhất : thơ chữ Hán, thể thơ tứ tuyệt cổ điển .
3- Nhưng cổ điển mà vẫn thể hiện tinh thần thời đại.
- Cần khẳng định rằng sự nghiệp của Bác không phải là sự nghiệp thơ ca mà sự nghiệp
Cách mạng. Bác đã sống và chiến đấu trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp đó.
-Bác viết văn, làm thơ bao giờ cũng gắn liền với sứ mệnh góp phần cho sự nghiệp giải
phóng dân tộc. Người đã từng quan niệm rằng " Nay ở trong thơ nên có thép, nhà thơ cũng phải
biết xung phong. "
- Bởi vậy trong sáng tác của Bác nói chung và tập thơ "Nhật ký trong tù " nói riêng " tinh
thần thời đại " được thể hiện khá rõ nét : Hình tượng thơ luôn vận động một cách tự nhiên, khoẻ
khoắn hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai. Trong mối quan hệ với thiên nhiên, vũ trụ con
người bao giờ cũng đứng ở vị trí chủ thể, nhân vật trữ tình không phải là ẩn sĩ mà là một chiến sĩ
tràn đầy niềm tin, tinh thần lạc quan vào cuộc sống, dù trong hoàn cảnh nào vẫn tỏ rõ một bản
lĩnh kiên cường, một ý chí sắt đá.
II)Chứng minh : chọn và phân tích những bài thơ hay, tiêu biểu trong tập thơ "Nhật ký
trong tù "
-Yêu cầu :
-Chọn và phân tích ít nhất 03 bài thơ trở lên.
- Trong quá trình phân tích mỗi bài thơ HS phải thể hiện năng lực cảm thụ thơ tinh tế,
khám phá những điểm nổi bật làm nên "màu sắc cổ điển" và "tinh thần thời đại" trong thơ Bác
III)Đánh giá, mở rộng :
-" Màu sắc cổ điển "và "Tinh thần thời đại" góp phần làm nên nét đặc sắc trong bút pháp
của thơ Người : tả thực mà trữ tình, hiện thực mà lãng mạn, không mấy khi "nói chuyện thép"
"lên giọng thép" mà vẫn thể hiện được "tinh thần thép". Đây chính là giá trị nổi bật làm nên sức
sống của tập thơ "Nhật ký trong tù".
- Ở Bác luôn có sự kết hợp độc đáo giữa con người chiến sĩ -con người thi sĩ, con người
dân tộc -con người thời đại. Đó là tinh hoa, là cốt cách của một con người vĩ đại.
Dương Đức Thắng THPT Thạch Yên
-13-
Ôn thi HSG Năm học 2013 - 2014
PHÂN TÍCH BÀI THƠ CHIỀU TỐI – HỒ CHÍ MINH
1/ Đặc điểm thể loại:
Bài thơ được sáng tác theo kiểu tứ tuyệt luật Đường. Thông thường, có hai hướng phân
tích:
+ Theo bố cục: hai phần – hai cầu đầu, hai câu cuối.
+ Theo kết cấu: khai – thừa – chuyển – hợp.
Từ đặc điểm nghệ thuật (sự vận động của thi tứ, không gian, thời gian nghệ thuật) và hình
tượng thơ (hai cầu đầu: bức tranh thiên nhiên, hai câu sau: bức tranh đời sống con người), nên
chọn cách thứ nhất để phân tích.
2/ Phân tích bài thơ.
2.1/ Hai cầu đầu:
- Một khung cảnh thiên nhiên nơi núi rừng lúc chiều tối. Có cánh chim chiều mệt mỏi
đang bay về tổ. Có chòm mây lẻ loi, lững lờ trôi giữa tầng không.
- Một không gian rộng lớn, thinh vắng trong cái thời khắc cuối cùng của một ngày.
- Cũng giống như trong thơ cổ điển phương Đông, khung cảnh thiên nhiên đã được phác
họa bằng những nét chấm phá. Nhà thơ không nghiêng về tả mà chỉ gợi qa một vài nét, cốt ghi
lấy linh hồn của cảnh vật. Toàn bộ khung cảnh thiên nhiên miền sơn cước hiện ra một cách đơn
sơ qua cánh chim chiều mỏi mệt đang bay về tổ và áng mây lẻ loi, lững lờ trôi giữa tầng không.
- Hình ảnh cánh chim bay về tổ, thường mang ý nghĩa biểu tượng cho buổi chiều tà: Chim
bay về núi, tối rồi” (Ca dao), Chim hôm thoi thóp về rừng (Truyện Kiều – Nguyễn Du), Ngàn
mai gió cuốn chim bay mỏi (Chiều hôm nhớ nhà - Bà Huyện Thanh Quan),… Trong thơ Bác
cũng thế Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ vừa là một nét phác họa không gian vừa gợi ra ý niệm
thời gian.
Mặc dù vậy, hình tượng cánh chim trong thơ Bác không chỉ được quan sát ở trạng thái vận
động bên ngoài như trong thơ xưa (Cánh chim bay) mà còn được cảm nhận rất sâu ở trạng thái
bên trong (cánh chim mỏi mệt). Có thể thấy một sự gận gũi, tương đồng giữa cánh chim bay mỏi
mệt sau một ngày kiếm ăn với người tù đã thấm mệt sau một ngày vất vả lê bước đường trường.
Ngoại cảnh cũng là tâm cảnh. Trong ý thơ có sự hòa hợp, đồng điệu giữa tâm hồn nhà thơ và
cảnh vật thiên nhiên. Cội nguồn của sự cảm thông ấy là tình yêu thương mênh mông của Bác
dành cho mọi sự sống trên đời.
- Hình ảnh Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không gợi nhớ câu thơ của Thôi Hiệu trong bài
thơ Hoàng Hạc Lâu: Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay và thơ Nguyễn Khuyến: Tầng mây lơ
lửng trời xanh ngắt (Thu điếu). Vẫn là một thi liệu quen thuộc nhưng mây thơ Bác không gợi sự
vĩnh viễn hay mang cái khắc khoải mơ hồ của con người trước hư không mà là một chòm mây
cô đơn, đang chậm chậm trôi giữa bầu trời bao la. Chòm mây như có hồn người, nó như mang
cái tâm trạng lẻ loi, đơn độc và cái băn khoăn, trăn trở chưa biết tương lai phía trước sẽ đến đâu
của người tù nơi đất khách.
-> Bác không hề nói trực tiếp tới thời gian, nhưng ta vẫn nhận thấy thời gia (chiều tà) qua
cánh chim bay mỏi và chòm mây cô đơn lẻ loi trôi lững lờ trên bầu trời.
- Hai câu đầu của bài Chiều tối còn gợi nhớ hai câu thơ của Lí Bạch trong bài Độc tọa
Kính Đình Sơn (Một mình ngồi trên núi Kính Đình):
Chúng điểu cao phi tận
Cô vân độc khứ nhàn
(Bầy chim một loạt bay cao
Lưng trời thơ thẩn đám mây một mình)
Có thể thấy, nếu cánh chim trong thơ LB bay mất hút vào cõi vô tận thì trong thơ Bác, đó
là cánh chim của đời sống hiện thực, nó bay theo cái nhịp điệu quen thuộc và bình ổn của cuộc
sống: Sáng bay đi kiếm ăn, tối bay về rừng tìm chốn ngủ. Áng mây của LB bay nhàn tản gợi cảm
giác thoát tục, còn chòm mây trong bức tranh thơ của Bác toát lên cái vẻ yên ả, thanh bình của
đời sống thường ngày.
- Trong cảnh ngộ bị giải đi từ lúc: Gà gáy một lần đêm chửa tan, phải hứng chịu Gió thu
lạnh lẽo từng trận từng trận táp vào mặt (Giải đi sớm), phải trải qua Năm mươi ba cây số một
ngày – Mũ áo dầm mưa ướt hết giày (Đi đường) trong cảnh xiềng xích thay dây trói và rồi Lại
Dương Đức Thắng THPT Thạch Yên
-14-
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét