Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
cách thức mang lại lợi ích tốt nhất cho cổ đông. Việc tách rời quyền sở hữu
khỏi các nhà quản lý mang lại cho công ty các ưu thế so với kinh doanh cá thể
và góp vốn:
- Quyền sở hữu có thể dễ dàng chuyển cho cổ đông mới.
- Sự tồn tại của công ty không phụ thuộc vào sự thay đổi sổ lượng cổ
đông.
- Trách nhiệm của cổ đông chỉ giới hạn ở phần vốn mà cổ đông góp vào
công ty (trách nhiệm hữu hạn).
Mỗi loại hình doanh nghiệp có những ưu, nhược điểm riêng và phù hợp
với quy mô và trình độ phát triển nhất định. Hầu hết các doanh nghiệp lớn
hoạt động với tư cách là các công ty. Đây là loại hình phát triển nhất của
doanh nghiệp.
1.2. Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
1.2.1. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp.
1.2.1.1. Khái niệm và đặc điểm tài sản ngắn hạn.
Để đi vào hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp phải có tư liệu
sản xuất mà nó bao gồm hai bộ phận là tư liệu lao động và đối tượng lao
động.
Nếu như tư liệu lao động tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, hình
thái vật chất không thay đổi từ chu kỳ đầu tiên cho tới khi bị sa thải khỏi quá
trình sản xuất thì đối tượng lao động lại khác, nó chỉ tham gia vào một chu kỳ
sản xuất đến chu kỳ sản xuất sau lại phải sử dụng các đối tượng lao động
khác.
Phần lớn các đối tượng lao động thông qua quá trình chế biến để hợp
thành thực thể của sản phẩm như bông thành sợi, cát thành thuỷ tinh, một số
khác bị mất đi như các loại nhiên liệu. Bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nào cũng cần phải có các đối tượng lao động. Lượng tiền ứng trước để thoả
mãn nhu cầu về các đối tượng lao động gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.
Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong
quá trình kinh doanh. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản
ngắn hạn được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản
cao, phải thu và dự trữ tồn kho.
Đối với doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thì giá trị các loại tài sản
ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn, thường chiếm từ 25% đến 50% tổng giá trị tài
sản của chúng.
Việc quản lý và sử dụng hợp lý các loại tài sản ngắn hạn có ảnh
hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành các nhiệm vụ chung của doanh
nghiệp.
Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp phải biết rõ số lượng, giá trị
mỗi loại tài sản ngắn hạn là bao nhiêu cho hợp lý và đạt hiệu quả sử dụng cao.
Tài sản ngắn hạn được phân bố đủ trong tất cả các khâu, các công
đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục,
ổn định tránh lãng phí và tổn thất vốn do ngừng sản xuất, không làm ảnh
hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản. Do
đó, tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp có các đặc điểm sau:
- Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao nên đáp ứng khả năng
thanh toán của doanh nghiệp.
- Tài sản ngắn hạn là một bộ phận của vốn sản xuất nên nó vận động
và luân chuyển không ngừng trong mọi giai đoạn của quá trình sản xuất kinh
doanh.
- Tài sản ngắn hạn có thể dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang
tiền tệ nên cũng vận động rất phức tạp và khó quản lý.
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.2.1.2. Phân loại tài sản ngắn hạn.
Do đặc điểm của tài sản ngắn hạn là chỉ tham gia vào một chu kỳ sản
xuất kinh doanh và thường xuyên luân chuyển trong quá trình sản xuất, vì vậy
việc chuẩn bị các loại tài sản ngắn hạn là rất quan trọng. Tuỳ thuộc vào mỗi
chu kỳ sản xuất mà giá trị các loại tài sản ngắn hạn lại thay đổi cho phù hợp.
Trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp nói chung và quản lý tài chính nói riêng, tuỳ theo yêu cầu quản lý và
dựa trên tính chất vận động của tài sản ngắn hạn, người ta có thể phân loại tài
sản ngắn hạn như sau:
1.2.1.2.1. Phân loại theo quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn
Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn, tài sản ngắn hạn
được chia thành:
- Tài sản ngắn hạn dự trữ : là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong
khâu dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của
chúng, bao gồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng
mua đang đi đường, nguyên nhiên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong
kho, hàng gửi gia công, trả trước cho người bán.
- Tài sản ngắn hạn sản xuất: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong
khâu sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: giá trị bán thành phẩm, các chi phí
sản xuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, các
khoản chi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất…
- Tài sản ngắn hạn lưu thông: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong
khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: thành phẩm tồn kho, hàng gửi
bán, các khoản nợ phải thu của khách hàng.
Theo cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác định
được các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của tài sản ngắn hạn
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
để đưa ra biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng
một cách cao nhất.
1.2.1.2.2. Phân loại theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán
Căn cứ vào các khoản mục trong bảng cân đối kế toán tài sản ngắn hạn bao
gồm: tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho và tài
sản ngắn hạn khác.
Tiền mặt
Tiền mặt được hiểu là tiền tồn quỹ, tiền trên tài khoản thanh toán của
doanh nghiệp ở ngân hàng.
Nó được sử dụng để trả lương, mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố
định, trả tiền thuế, trả nợ.
Tiền mặt bản thân nó là loại tài sản không sinh lãi, do vậy trong quản
lý tiền mặt thì việc tối thiểu hoá lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan
trọng nhất. Sở dĩ việc giữ tiền mặt trong kinh doanh là vấn đề cần thiết xuất
phát từ những lý do sau:
+ Đảm bảo giao dịch kinh doanh hàng ngày. Những khoản giao dịch
này thường là thanh toán cho khách hàng và thu tiền từ khách hàng, từ đó tạo
nên số dư giao dịch.
+ Bù đắp cho ngân hàng về việc ngân hàng cung cấp các dịch vụ cho
doanh nghiệp. Số dư tiền mặt loại này gọi là số dư bù đắp.
+ Đáp ứng nhu cầu dự phòng trong trường hợp biến động không
lường trước được của các luồng tiền vào và ra. Loại tiền này tạo nên số dư dự
phòng.
+ Hưởng lợi thế trong thương lượng mua hàng. Loại tiền này tạo nên
số dư đầu cơ.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Trong hoạt động kinh doanh, việc giữ tiền mặt là cần thiết nhưng việc
giữ đủ tiền mặt phục vụ cho kinh doanh đem lại nhiều lợi thế cho doanh
nghiệp:
+ Khi mua các hàng hoá dịch vụ nếu có đủ tiền mặt, công ty có thể
được hưởng lợi thế chiết khấu.
+ Giữ đủ tiền mặt, duy trì tốt các chỉ số thanh toán ngắn hạn giúp
doanh nghiệp có thể mua hàng với những điều kiện thuận lợi và được hưởng
mức tín dụng rộng rãi. Việc thanh toán đầy đủ, chính xác, kịp thời sẽ tạo niềm
tin cho các đơn vị tài trợ.
+ Giữ đủ tiền mặt giúp cho doanh nghiệp tận dụng được những cơ hội
thuận lợi trong kinh doanh do chủ động trong các hoạt động thanh toán chi
trả.
+ Khi có đủ tiền mặt giúp doanh nghiệp đáp được nhu cầu trong
trường hợp khẩn cấp như đình công, hoả hoạn, chiến dịch Marketing của đối
thủ cạnh tranh, vượt qua khó khăn do yếu tố thời vụ và chu kỳ kinh doanh.
Đây là điều quan trọng bởi nó có thể cứu nguy cho doanh nghiệp trong việc
cạnh tranh với các doanh nghiệp khác.
Các khoản đầu tư ngắn hạn.
Mục tiêu của các doanh nghiệp là việc sử dụng các loại tài sản sao
cho hiệu quả nhất. Ở trên ta thấy được các lợi thế của việc giữ tiền mặt song
đó sẽ là hiệu quả nếu giữ đủ một lượng tiền mặt, tuy nhiên nếu giữ quá nhiều
sẽ không đem lại cho doanh nghiệp một khoản tiền bởi các nhà quản lý luôn
tính đến giá trị thời gian của tiền. Vì vậy việc đầu tư chứng khoán luôn là sự
quan tâm của các nhà quản lý.
Các loại chứng khoán gần như tiền mặt giữ vai trò như một “bước
đệm” cho tiền mặt vì nếu số dư tiền mặt nhiều doanh nghiệp có thể đầu tư vào
chứng khoán có khả năng thanh khoản cao, nhưng khi cần thiết cũng có thể
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
chuyển đổi chúng sang tiền mặt một cách dễ dàng và ít tốn kém chi phí. Do
đó trong quản trị tài chính người ta sử dụng chứng khoán có khả năng thanh
khoản cao để duy trì tiền mặt ở mức độ mong muốn. Ta có thể thấy điều này
qua sơ đồ luân chuyển sau:
Ta thấy tiền mặt là một hàng hoá nhưng đây là hàng hoá đặc biệt-một
tài sản có tính lỏng nhất. Trong kinh doanh, doanh nghiệp cần một lượng tiền
mặt và phải dùng nó để trả cho các hoá đơn một cách đều đặn. Khi lượng tiền
mặt này hết, doanh nghiệp phải bán các chứng khoán có khả năng thanh
khoản cao để có lượng tiền như ban đầu.
Các khoản phải thu
Để thắng lợi trong cạnh tranh trên thị trường các doanh nghiệp có thể
sử dụng chiến lược sản phẩm, về quảng cáo, về giá cả, về dịch vụ giao hàng
và các dịch vụ sau khi mua bán như vận chuyển, lắp đặt Tuy nhiên trong
nền kinh tế thị trường việc mua bán chịu là một việc không thể thiếu. Các
doanh nghiệp bán hàng song có thể không nhận được ngay tiền hàng lúc bán
10
Các chứng khoán thanh
khoản cao
Đầu tư tạm thời
bằng cách mua
chứng khoán có
tính thanh khoản
cao
Bán những chứng
khoán thanh khoản
cao để bổ sung cho
tiền mặt.
Dòng thu tiền
mặt
Tiền mặt Dòng chi tiền
mặt
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
mà nhận sau một thời gian xác định mà hai bên thoả thuận hình thành nên các
khoản phải thu của doanh nghiệp.
Việc cho các doanh nghiệp khác nợ như vậy chính là hình thức tín dụng
thương mại. Với hình thức này có thể làm cho doanh nghiệp đứng vững trên
thị trường và trở nên giàu có nhưng cũng không tránh khỏi những rủi ro trong
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Điều đó thể hiện trên những nét cơ
bản sau:
+ Tín dụng thương mại tác động đến doanh thu bán hàng. Do được trả
tiền chậm nên sẽ có nhiều người mua hàng hoá của doanh nghiệp hơn, từ đó
làm cho doanh thu tăng.
+ Tín dụng thương mại làm giảm chi phí tồn kho của hàng hoá
+ Tín dụng thương mại làm cho tài sản cố định được sử dụng có hiệu
quả hơn và hạn chế phần nào về hao mòn vô hình
+ Khi cấp tín dụng thương mại cho khách hàng có thể làm tăng chi phí
trong hoạt động của doanh nghiệp.
+ Tín dụng thương mại làm tăng chi phí đòi nợ, chi phí phải trả cho
nguồn tài trợ để bù đắp sự thiếu hụt ngân quỹ. Thời hạn cấp tín dụng càng dài
thì chi phí ròng càng lớn.
Xác suất không trả tiền của người mua làm cho lợi nhuận bị giảm, nếu
thời hạn cấp tín dụng càng dài thì rủi ro càng lớn.
Trên đây là những tác động của tín dụng thương mại mà các nhà quản
lý phải so sánh giữa thu nhập với chi phí tăng thêm để ra quyết định có nên
cấp tín dụng hay không.
Trong nền kinh tế thị trường hầu hết các doanh nghiệp đều được cấp và
cấp tín dụng thương mại, trên thực tế khi các tiêu chuẩn tín dụng được nới
lỏng thì doanh thu có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên bên cạnh những lợi thế
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
đạt được thì nhiều doanh nghiệp cũng không tránh khỏi những rủi ro mà tín
dụng đem lại.
Nhiều doanh nghiệp có doanh thu tăng, lợi nhuận tăng và cao song khả
năng chi trả lại thấp cũng bởi khoản phải thu của các doanh nghiệp này quá
lớn mà không thu hồi lại được. Hơn nữa không ít khách hàng lợi dụng vào tín
dụng để vay mà không trả, do đó trước khi cấp tín dụng thương mại cho
khách hàng thì vấn đề quan trọng đặt ra cho các nhà quản lý là phải phân tích
khả năng tín dụng của khách hàng.
Khoản phải thu giữ một vai trò quan trọng bởi nếu các nhà quản lý
không cân đối giữa các khoản phải thu thì doanh nghiệp sẽ gặp phải những
khó khăn thâm chí dễ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán.
• Hàng tồn kho.
Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất,
kinh doanh thì việc tồn tại vật tư hàng hoá dự trữ, tồn kho là những bước đệm
cần thiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp.
Hàng hoá tồn kho có ba loại: nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trình
sản xuất, kinh doanh; sản phẩm dở dang và thành phẩm. Các doanh nghiệp
không thể tiến hành sản xuất đến đâu mua hàng đến đó mà cần phải có
nguyên vật liệu dự trữ.
Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó có vai
trò rất lớn để cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành được bình thường.
Tuy nhiên các doanh nghiệp đều phải tính đến việc dự trữ một cách hợp lý bởi
nếu doanh nghiệp dự trữ quá nhiều sẽ tốn kém chi phí, ứ đọng vốn thậm chí
nếu sản phẩm khó bảo quản có thể bị hư hỏng, ngược lại nếu dự trữ quá ít sẽ
làm cho quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, các khâu tiếp theo sẽ
không thể tiếp tục được nữa đồng thời với việc không hoàn thành được kế
hoạch sản xuất.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Tồn kho trong quá trình sản xuất là các loại nguyên liệu nằm tại từng
công đoạn của dây truyền sản xuất. Thông thường quá trình sản xuất của các
doanh nghiệp được chia thành nhiều công đoạn, giữa những công đoạn này
bao giờ cũng tồn tại những bán thành phẩm.
Đây là những bước đệm nhỏ để quá trình sản xuất được liên tục. Nếu
dây truyền sản xuất càng dài và càng có nhiều công đoạn thì tồn kho trong
quá trình sản xuất sẽ càng lớn.
Khi tiến hành sản xuất xong hầu hết các doanh nghiệp chưa thể tiêu thụ
hết sản phẩm. Phần thì do có “độ trễ” nhất định giữa các sản xuất và tiêu
dùng, phần phải có đủ lô hàng mới xuất được Những doanh nghiệp mà sản
xuất mang tính thời vụ và có quy trình chế tạo tốn nhiều thời gian thì dự trữ,
tồn kho sản phẩm sẽ lớn.
Như vậy hàng hoá dự trữ đối với các doanh nghiệp gồm ba bộ phận
như trên, song thông thường trong quản lý vấn đề chủ yếu được đề cập đến là
bộ phận thứ nhất, các doanh nghiệp luôn phải chú trọng tới việc dự trữ
nguyên vật liệu cho sản xuất sao cho hợp lý và an toàn. Tuy nhiên, cần lưu ý
rằng, đối với các doanh nghiệp thương nghiệp thì dự trữ nguyên vật liệu cũng
có nghĩa là dự trữ hàng hoá để bán.
Nguyên vật liệu sử dụng mỗi ngày không phải là số cố định mà luôn có
sự thay đổi, đặc biệt là đối với những doanh nghiệp sản xuất mang tính thời
vụ hoặc sản xuất những hàng hoá nhạy cảm với thị trường. Do đó để đảm bảo
cho sự ổn định sản xuất, doanh nghiệp phải duy trì một lượng hàng tồn kho
dự trữ an toàn và tuỳ thuộc vào loại hình doanh nghiệp mà mức dự trữ an toàn
khác nhau.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
1.2.1.3.Tầm quan trọng của tài sản ngắn hạn.
Phần trước chúng ta đã tìm hiểu các loại tài sản ngắn hạn và thấy được
rằng chúng không thể thiếu trong tất cả các doanh nghiệp kinh doanh, sản
xuất.
Tài sản ngắn hạn chiếm một tỷ lệ lớn hay nhỏ trong mỗi công ty là khác
nhau tuy nhiên nó đóng một vai trò rất quan trọng và không thể thiếu được
trong tất cả các doanh nghiệp, và đặc biệt là các doanh nghiệp chuyên về lĩnh
vực thương mại, tài sản lưu động luôn chiếm một tỷ trọng lớn. Vấn đề mà các
nhà kinh tế đều phải quan tâm đó là quản lý tài sản ngắn hạn của doanh
nghiệp. Một số vấn đề về quản lý tài sản ngắn hạn như: Doanh nghiệp nên
nắm giữ bao nhiêu tiền và dự trữ? Doanh nghiệp có nên bán chịu không? Nếu
bán chịu thì nên bán với thời hạn nào, doanh nghiệp sẽ tài trợ ngắn hạn bằng
cách nào?
Như ta đã biết tiền mặt là một loại tài sản đặc biệt của doanh nghiệp, nó
được sử dụng để mua nguyên vật liệu, mua tài sản cố định, trả tiền thuế, trả
nợ… như vậy bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải nắm giữ một lượng tiền mặt
nhất định. Nó không chỉ đảm bảo cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp
mà còn đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển lâu dài.
Để đi vào sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải có nguyên vật
liệu, tuy nhiên để hoạt động có thể diễn ra liên tục không bị tắc nghẽn thì dự
trữ nguyên vật liệu nhất thiết phải có, một nhà quản lý giỏi phải biết cách tính
toán đề có lượng dự trữ phù hợp.
Việc giữ nhiều tiền cũng đem lại một số bất lợi cho doanh nghiệp, hơn
nữa các doanh nghiệp luôn luôn tìm cách để có được lợi nhuận cao nhất. Do
đó các doanh nghiệp luôn tìm mọi cách để sử dụng tiền một cách hiệu quả.
Chẳng hạn với lượng tiền có trong tay doanh nghiệp có thể gửi ngân hàng để
tiện cho thanh toán hơn nữa còn nhận được một khoản tiền từ lãi suất. Ngoài
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét