Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Phân tích năng lực cạnh tranh của dược phẩm Việt Nam.

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
từ đó có thể suy ra tính chất của một thuốc cụ thể để lựa chọn trong sử dụng. Dưới
đây là 3 cách phân loại dược phẩm Việt Nam cơ bản nhất.
Theo cách thức sử dụng, dược phẩm chia thành hai loại: thuốc OTC (hàng
không kê toa, chủ yếu bán ở các nhà thuốc bán lẻ) và thuốc điều trị (thuốc có kê toa,
sử dụng trong bệnh viện và các trung tâm y tế).
Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, thống kê thuốc kê toa và thuốc không kê toa
chỉ mang ý nghĩa tương đối do các loại thuốc điều trị vẫn được bán tự do trên thị
trường. Do đó với cách phân loại này có thể tạm thống kê theo thuốc phân phối vào
hệ thống bệnh viện và thuốc phân phối ra thị trường. Theo thống kê của Cục quản lý
dược Việt Nam, năm 2008, giá trị tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện là 12.322 tỷ
VND (tương đương 760 triệu USD), chiếm khoảng 50% giá trị tiền thuốc toàn thị
trường.
Theo bản quyền chế tác thuốc, dược phẩm được chia thành: thuốc generic (hết
bản quyền sở hữu thuốc gốc) và hàng patent (có bản quyền).
Hiện nay, ngành dược trong nước đang chủ yếu sản xuất thuốc generic có giá trị
không cao và chiếm tới 69% tổng thị trường thuốc với các chủng loại liên quan nhiều
đến thuốc kháng sinh, thuốc thông thường (vitamin, giảm đau, hạ sốt).
Theo tây y hay y học cổ truyền, dược phẩm được chia thành: thuốc tân dược
(gồm các loại thuốc được sản xuất từ các chất hóa học tổng hợp và thuốc có sự kết
hợp dược liệu với các hoạt chất hóa học tổng hợp) và thuốc đông y (gồm các loại
thuốc được sản xuất từ nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên từ động vật, thực vật hoặc
khoáng chất, được bào chế theo lý luận và phương pháp y học cổ truyền của các nước
phương Đông)
Do sản phẩm dược phẩm là khá rộng nên đề tài nghiên cứu này chỉ tập trung
vào nghiên cứu khái quát về năng lực cạnh tranh của thuốc tân dược Việt Nam, hay
nói một cách khác là tân dược được sản xuất trong nước.
Tân dược là gì đứng từ góc độ là sản phẩm của sản xuất ? Khác với thuốc đông
y, tân dược thường được sản xuất trong các nhà máy, đòi hỏi độ chính xác cao, trình
độ công nghệ cao. Phần lớn các dây truyền sản xuất tân dược được tự động hóa
Như vậy, trình độ sản xuất cũng là một yếu tố quan trọng đối với năng lực cạnh
tranh của tân dược.
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
2. Quan niệm về cạnh tranh và các cấp độ của cạnh tranh
2.1. Quan niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
Cạnh tranh: Theo ngôn ngữ dân gian, cạnh tranh là sự ganh đua giữa các nhà
doanh nghiệp trong việc giành giật và giữ chân khách hàng nhằm nâng cao vị thế của
mình trên thị trường, để đạt được một mục tiêu kinh doanh cụ thể như lợi nhuận,
doanh số hoặc thị phần.
Cạnh tranh được các nhà kinh tế học chia thành cạnh tranh hoàn hảo và cạnh
tranh không hoàn hảo, cạnh tranh dọc và cạnh tranh ngang. Cạnh tranh được nẩy sinh
từ các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể của nền kinh tế thị trường cùng theo đuổi mục
đích tối đa hóa lợi nhuận. Cạnh tranh là động lực phát triển của nền kinh tế, thúc đẩy
thị trường phát triển, từ đó thúc đẩy xã hội phát triển. Theo thời gian, tính chất cạnh
tranh trong nền kinh tế sẽ ngày càng quyết liệt hơn.
Năng lực cạnh tranh: Năng lực cạnh tranh được nhắc đến rất nhiều trên báo chí
cũng như các phương tiện thông tin đại chúng khác. Song, năng lực cạnh tranh vẫn là
một khái niệm lỏng lẻo, có nhiều cách hiểu thậm chí rất khác nhau. Theo học giả kinh
tế Michael Porter, là một người nổi tiếng trong lĩnh vực kinh tế ông cũng không đưa
ra định nghĩa về năng lực cạnh tranh. Ông cho rằng: không có một định nghĩa thật sự
về năng lực cạnh tranh và không có lý thuyết nào giải thích nó được chấp nhận một
cách phổ biến .
Theo tạp chí kinh tế và phát triển, số 84 tháng 6 năm 2004, Ths. Phạm Đình
Huỳnh có đưa ra khái niệm như sau: “ Năng lực cạnh tranh là khả năng đạt được và
duy trì thị phần có lãi ”.
Còn theo OECD thì năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối
cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho doanh nghiệp, các
ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện
cạnh tranh quốc tế.
Từ những khái niệm chung về năng lực cạnh tranh của hàng hóa nêu trên, cho
thấy năng lượng cạnh tranh phụ thuộc vào điều kiện, bối cảnh phát triển của đất nước
trong từng thời kỳ, có thể đánh giá bằng các chỉ tiêu kinh tế xã hội cụ thể như:
- Thị phần của sản phẩm trên thị trường so với sản phẩm cùng loại;
- Động thái thay đổi thị phần theo thời gian.
Năng lực cạnh tranh có thể chia làm ba loại, năng lực cạnh tranh quốc gia, năng
lược cạnh tranh doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh sản phẩm. Trên thực tế, năng
năng cạnh tranh của sản phẩm là chung nhất, là thước đo đánh giá năng lực cạnh
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
tranh của doanh nghiệp, còn năng lực cạnh tranh của quốc gia là do đóng góp từ năng
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp. Nhận định này, sẽ được làm rõ thêm trong mục
các cấp độ cạnh tranh sau đây.
2.2. Các cấp độ của cạnh tranh
Một nền kinh tế muốn có năng lực cạnh tranh cao phải có nhiều doanh nghiệp
có năng lực cạnh tranh cao, với nhiều sản phẩm và dịch vụ có lợi thế cạnh tranh trên
thị trường.
2.2.1. Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia
Năng lực cạnh tranh quốc gia là yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của
tất cả các sản phẩm trên thị trường nội địa và xuất khẩu. Có rất nhiều cách hiểu về
năng lực cạnh tranh cấp quốc gia
Theo Asia Development Outlook 2003 là khả năng cạnh tranh của một nước để
sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được thử thách của thị trường quốc tế.
Đồng thời, duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của công dân nước đó. Mặt
khác, năng lực cạnh tranh quốc gia phản ánh khả năng của một nước để tạo ra việc
sản xuất sản phẩm, phân phối sản phẩm và dịch vụ trong thương mại quốc tế, trong
khi kiếm được thu nhập tăng lên từ nguồn lực của nó.
Theo diễn đàn kinh tế thế giới 1997 (WEF), thì năng lực cạnh tranh quốc gia
được hiểu là “sức mạnh thể hiện trong hiệu quả kinh tế vĩ mô, đó là năng lực của một
nền kinh tế đạt được và duy trì mức tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư, bảo đảm
ổn định kinh tế xã hội, nâng cao đời sống người dân trên cơ sở xác định các chính
sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác”
Theo diễn đàn kinh tế thế giới WEF, năng lực cạnh tranh của quốc gia được đo
bằng tám chỉ tiêu: mức độ mở của nền kinh tế, vai trò của Nhà nước, vai trò của thị
trường tài chính, môi trường công nghệ, kết cấu hạ tầng, chất lượng quản trị kinh
doanh, hiệu quả và tính linh họat của thị trường lao động, môi trường pháp lý.
2.2.2. Năng lực cạnh tranh ngành
Một quốc gia muốn có nền kinh tế phát triển, có năng lực cạnh tranh cao thì
quốc gia đó cần phải có nhiều doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao. Có thể hiểu
năng lực cạnh tranh ngành (hay doanh nghiệp) là
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở
rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong
nước và nước ngoài. Ngoài ra, còn thông qua một số tiêu chí khác như: nguồn lực về
vốn, công nghệ, con người, quản lý; chất lượng và giá cả sản phẩm; hệ thống phân
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
phối và dịch vụ sau bán hàng của doanh nghiệp; chiến lược kinh doanh của doanh
nghiệp.
Theo mô hình kim cương của Micheal Porter, lợi thế cạnh tranh của một doanh
nghiệp, một ngành không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố bên trong nội bộ doanh
nghiệp mà còn phụ thuộc vào các yếu tố bên ngoài trong môi trường kinh doanh quốc
gia bao gồm: các điều kiện về yếu tố sản xuất, sức cầu về hàng hóa, các ngành phụ
trợ, môi trường cạnh tranh ngành và vai trò của Chính Phủ.
2.2.3. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của ngành hay doanh nghiệp lại được thể hiện thông qua
năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ của nó. Đây cũng là cái thể hiện rõ nhất
năng lực cạnh tranh của các chủ thể nói chung.
Theo tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 317, tháng 10 năm 2004 của TS Nguyễn
Văn Thanh: “Năng lực cạnh tranh cấp sản phẩm được hiểu là khả năng sản phẩm có
được nhằm duy trì được vị thế của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh”
Năng lực cạnh tranh sản phẩm được nhận biết thông qua lợi thế cạnh tranh của
sản phẩm đó với các sản phẩm khác cùng loại.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm có thể được đánh giá thông qua: giá sản
phẩm, sự vượt trội về chất lượng sản phẩm, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm, thương
hiệu… so với đối thủ cạnh tranh trên cùng một phân đoạn thị trường vào cùng một
thời điểm.
2.2.4. Mối quan hệ giữa ba cấp cạnh tranh
Có thể nói ba cấp độ của năng lực cạnh tranh mặc dù có sự độc lập tương đối
nhưng giữa chúng vẫn tồn tại mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau. Năng lực cạnh
tranh của sản phẩm là yếu tố cơ bản, cốt lõi tạo nên năng lực cạnh tranh của ngành
(doanh nghiệp), và tổng hợp lại góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia.
Ngược lại năng lực cạnh tranh của quốc gia sẽ tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh
tranh ngành (doanh nghiệp), và chính năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp khi được
nâng cao sẽ tạo nên sức hút, sự hấp dẫn với sản phẩm, dịch vụ của người tiêu dùng từ
đó tạo nên năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Như trên đã trình bày, năng lực cạnh tranh sản phẩm là quan trọng nhất, vì thế
báo cáo này tập trung vào trình bày các kết quả nghiên cứu về năng lực cạnh tranh
của sản phẩm (lấy ví dụ là thuốc tân dược).
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc môi
trường vĩ mô, các nhân tố thuộc nội bộ ngành cũng như các yếu tố trong bản thân nội
tại doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm.
3.1. Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
* Các yếu tố kinh tế: Các yếu tố kinh tế thuộc môi trường vĩ mô như: tốc độ
tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối
đoái….có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Lãi suất ngân hàng: lãi suất ngân hàng có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh
tranh của sản phẩm. Tỷ lệ lãi suất là rất quan trọng khi người sản xuất cũng như
người tiêu dùng thường xuyên vay tiền để thanh toán các khoản mua bán hàng hóa
của mình. Đồng thời, lãi suất còn quyết định mức chi phí về vốn và do đó quyết định
mức đầu tư. Nếu lãi suất ngân hàng cho vay cao sẽ dẫn đến chi phí đầu vào tăng lên,
giá thành sản phẩm cũng vì thế tăng lên. Do đó năng lực cạnh tranh của hàng hóa sẽ
giảm đi nhất là khi đối thủ cạnh tranh có tiềm lực mạnh về vốn. Và ngược lại, nếu lãi
suất ngân hàng thấp sẽ làm giảm chi phí đầu vào, giá thành sản phẩm hạ, tạo điều
kiện cho các doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất và cạnh tranh với các đối
thủ khác trên thị trường bằng công cụ giá.
Tỷ giá hối đoái: Tỷ giá hối đoái là sự so sánh về giá trị của đồng tiền trong
nước với đồng tiền của quốc gia khác. Thay đổi tỷ giá hối đoái có tác động trực tiếp
đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm đặc biệt đối với các sản phẩm phải nhập khẩu
nguyên liệu đầu vào hay các sản phẩm có lợi thế về xuất khẩu. Nếu đồng nội tệ lên
giá, sẽ khuyến khích nhập khẩu vì hàng nhập khẩu sẽ giảm và như vậy khả năng cạnh
tranh của các sản phẩm trong nước sẽ bị giảm ngay trên thị trường trong nước; đồng
thời xuất khẩu sẽ giảm do sản phẩm trong nước tăng giá. Và ngược lại, khi đồng nội
tệ giảm giá thì khả năng cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường nội địa và thị trường
xuất khẩu cũng sẽ tăng lên.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập bình quân đầu người: nền kinh tế phát
triển, thu nhập bình quân đầu người cao dẫn đến khả năng tiêu thụ hàng hóa cao. Nền
kinh tế phát triển cùng với các yếu tố như lãi suất ngân hàng, tỷ giá hối đoái,… ổn
định sẽ tạo cơ hội tốt cho các doanh nghiệp mở rộng kinh doanh, thu hút đầu tư nước
ngoài. Từ đó dẫn tới nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
* Các yếu tố chính trị, pháp luật
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Yếu tố chính trị, pháp luật được thể hiện ở mức độ ổn định chính trị của quốc
gia, cơ sở hành lang pháp lý…. Các sản phẩm muốn được đưa ra tiêu thụ trên thị
trường phải tuân theo các quy định của Chính phủ về chất lượng, mẫu mã…Những
quy định này có thể là cơ hội hoặc mối đe dọa với các sản phẩm. Đây cũng là yếu tố
ảnh hưởng lớn đến quyết định đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
mức đầu tư vốn của nước ngoài vào việc phát triển sản phẩm đồng thời ảnh hưởng
đến mức độ chi mua hàng hóa của người tiêu dùng.
* Các yếu tố về văn hóa xã hội
Tất cả các doanh nghiệp đều phải phân tích các yếu tố xã hội để nhận biết các
cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra đối với sản phẩm của mình. Khi một hay nhiều yếu tố
thay đổi chúng có thể tác động đến các sản phẩm như trình độ dân trí, tập quán thị
hiếu của người tiêu dùng, truyền thống văn hóa dân tộc… Các yếu tố văn hóa xã hội
thường biến đổi hoặc tiến triển chậm nên đôi khi thường khó nhận biết. Cùng với sự
phát triển kinh tế, sự biến động về các yếu tố văn hóa xã hội ngày càng có tác động
mạnh hơn đến sự ra đời và tiêu thụ của các sản phẩm.
Đây là yếu tố không những có tác động đáng kể tới sự lựa chọn và tiêu dùng
hàng hóa của người tiêu dùng mà còn tác động lớn đến các quyết định của doanh
nghiệp khi lựa chọn biểu tượng logo, mẫu mã, kiểu dáng cho sản phẩm…
*. Yếu tố về môi trường kinh doanh quốc tế
Mỗi doanh nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế quốc dân, mỗi nền kinh tế lại
là một bộ phận cấu thành nền kinh tế thế giới. Những thay đổi về môi trường quốc tế
có thể xuất hiện cả những cơ hội cũng như nguy cơ về việc mở rộng thị trường tiêu
thụ sản phẩm trong nước và ngoài nước. Hiện nay, trong thời kì hội nhập kinh tế
quốc tế khi Việt Nam đã gia nhập các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực như
ASEAN, WTO…thì các doanh nghiệp mà đặc biệt là sản phẩm của ta sẽ chịu tác
động lớn của hệ thống luật pháp thế giới. Môi trường kinh doanh quốc tế là cơ hội để
sản phẩm Việt Nam có thể vươn ra thị trường rộng lớn nhưng cũng là những thách
thức khó khăn buộc các doanh nghiệp phải nâng cao được năng lực cạnh tranh cho
sản phẩm của mình.
3.2. Các yếu tố thuộc nội bộ ngành
Theo Michael Porter của trường quản trị kinh doanh Harvard thì trong nội bộ
ngành chúng ta quan tâm đến các khía cạnh sau:
* Áp lực từ phía khách hàng: Khách hàng được xem như là sự đe dọa mang tính
cạnh tranh khi họ đẩy giá cả xuống hoặc khi họ yêu cầu chất lượng sản phẩm và dịch
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
vụ tốt hơn làm cho chi phí sản phẩm tăng lên. Ngược lại, nếu người mua có những
yếu thế sẽ tạo cơ hội để tăng giá sản phẩm mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đây
là yếu tố quyết định trực tiếp việc sản phẩm có năng lực cạnh tranh lớn hay không.
* Áp lực từ nhà cung cấp: Nhà cung cấp là những cá nhân hoặc tổ chức trong
nước hay ngoài nước chuyên cung cấp vật tư thiết bị, nguồn nhân lực, tài chính…để
một doanh nghiệp có thể hoạt động. Việc nhà cung cấp đẩy mức giá lên cao sẽ đẩy
giá sản phẩm tăng lên làm giảm năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Đồng thời nhà
cung cấp là một trong những nhân tố quan trọng quyết định chất lượng của sản phẩm.
Vì vậy, để giảm áp lực từ phía nhà cung cấp đồng thời để tránh rủi ro thì các doanh
nghiệp cần phải quan hệ với các tổ chức cung cấp các nguồn hàng khác nhau. Đây là
một yếu tố ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
* Áp lực từ sản phẩm cạnh tranh: Sản phẩm cạnh tranh là những sản phẩm cùng
loại, có cùng tính năng tác dụng của các đối thủ cạnh tranh và cùng được tiêu thụ trên
một thị trường. Nếu trên thị trường có càng nhiều sản phẩm cạnh tranh và các sản
phẩm có sức cạnh tranh thực sự thì càng gây sức ép cho sản phẩm của doanh nghiệp.
Sản phẩm có thể cạnh tranh bằng giá hoặc bằng các yếu tố như chất lượng, mẫu mã,
thương hiệu… Mà hiện nay khi đời sống ngày càng được nâng cao thì sự cạnh tranh
bằng các yếu tố chất lượng, mẫu mã, thương hiệu càng mạnh mẽ hơn so với cạnh
tranh bằng giá. Vì vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm thì các doanh
nghiệp phải thường xuyên đầu tư đổi mới công nghệ.
* Áp lực từ đối thủ tiềm ẩn: Đối thủ tiềm ẩn là các doanh nghiệp hiện không ở
trong ngành nhưng sản xuất cùng một loại sản phẩm và có khả năng tham gia hoạt
động kinh doanh trong ngành đó. Khi có đối thủ mới tham gia trong ngành có thể là
yếu tố làm giảm năng lực cạnh tranh của sản phẩm hiện đang trong ngành từ đó làm
giảm lợi nhuận của của doanh nghiệp do họ dựa vào khai thác các năng lực sản xuất
mới với mong muốn giành được một phần thị phần.Do đó, để bảo vệ cho vị trí cạnh
tranh của sản phẩm doanh nghiệp thường quan tâm đến việc duy trì hàng rào hợp
pháp ngăn sự xâm nhập từ bên ngoài.
Theo nhà kinh tế học Joe Bain, ông xác định ba yếu tố trở ngại chủ yếu đối với
việc nhảy vào một ngành kinh doanh: sự ưa chuộng sản phẩm, ưu thế về chi phí thấp,
tính hiệu quả của sản xuất lớn. Nếu các doanh nghiệp có được những lợi thế này sẽ
giữ được vị trí cạnh tranh cho sản phẩm của mình và buộc sản phẩm của các doanh
nghiệp mới thâm nhập vào đương đầu với những khó khăn lớn.
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
* Áp lực từ các doanh nghiệp trong nội bộ ngành: Sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong ngành là yếu tố quan trọng tạo ra cơ hội hoặc đe dọa cho các doanh
nghiệp. Nếu sự cạnh tranh là yếu thì sẽ là cơ hội để nâng giá sản phẩm tăng lợi nhuận
cho doanh nghiệp. còn ngược lại, nếu sự cạnh tranh là gay gắt thì các doanh nghiệp
sẽ hạ giá sản phẩm để cạnh tranh về giá do đó có nguy cơ làm giảm lợi nhuận của
doanh nghiệp.
3.3. Các yếu tố thuộc nội bộ doanh nghiệp
* Nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực được coi là vấn đề vô cùng quan trọng đối
với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp và sản phẩm. Một nguồn nhân lực kém
không đáp ứng được nhu cầu của thị trường sẽ là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự thất
bại của doanh nghiệp. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp được chia thành hai cấp.
Đội ngũ quản lý: gồm ban lãnh đạo và đội ngũ trực tiếp quản lý sản xuất, kinh
doanh sản phẩm. Đây là đội ngũ có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất kinh
doanh và xu hướng phát triển sản phẩm trong tương lai. Nếu họ là những người có
kinh nghiệm, có khả năng nhìn xa trông rộng và đưa ra các quyết định đúng đắn thì
doanh nghiệp đó sẽ có những sản phẩm có sức cạnh tranh cao.
Đội ngũ trực tiếp tham gia sản xuất kinh doanh: đội ngũ này chi phối trực tiếp
đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm thông qua các yếu tố như: năng suất lao động,
trình độ tay nghề, kỉ luật lao động, ý thức trách nhiệm, sự sáng tạo của họ…. Các yếu
tố này kết hợp với yếu tố khoa học công nghệ sẽ ảnh hưởng đến số lượng, chất
lượng, giá thành sản phẩm… góp phần quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh của
sản phẩm.
* Quy mô sản xuất kinh doanh:
Cơ sở hạ tầng: là yếu tố hỗ trợ quan trọng giúp tạo nên năng lực cạnh tranh của
sản phẩm. Cơ sở hạ tầng hiện đại sẽ làm tăng năng suất lao động, hiệu quả sản xuất
cao hơn, hao phí nhỏ… dẫn tới số lượng sản phẩm tăng, chi phí cận biên giảm và như
vậy giá thành sản phẩm hạ nhờ đó nâng sức cạnh tranh của sản phẩm so với đối thủ.
Khoa học công nghệ: đây là yếu tố đại diện cho sự sáng tạo, tiên tiến, cho sản
phẩm mới cũng như loại bỏ những sản phẩm cũ, lạc hậu; tạo cho doanh nghiệp chỗ
đứng vững chắc trên thị trường. Một sản phẩm mới ra đời không thể thiếu được sự
đóng góp của quá trình nghiên cứu và phát triển ( R&D) sản phẩm. Công nghệ hiện
đại sẽ giúp doanh nghiệp tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã phù hợp với
thị hiếu của người tiêu dùng, giá thành hạ do năng suất lao động tăng, hao phí nhỏ…
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
* Tình hình tài chính: tài chính là yếu tố có vai trò quan trọng đảm bảo cho việc
duy trì, mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nếu một doanh
nghiệp có tình hình tài chính tốt, khả năng huy động vốn lớn sẽ cho phép doanh
nghiệp có điều kiện để mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới công nghệ, đa dạng hóa
đổi mới, nâng cao chất lượng của sản phẩm; có khả năng thực hiện tốt công tác bán
hàng và dịch vụ sau bán… tạo nên khả năng cạnh tranh cao hơn cho sản phẩm.
II. Các tiêu chí và phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm
1. Phương pháp luận phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh
1.1. Đánh giá hiện trạng năng lực cạnh tranh của sản phẩm dược
a) Vị trí của đánh giá hiện trạng năng lược cạnh tranh: Nâng cao năng lực cạnh
tranh là vấn đề rất phức tạp và khó khăn, dựa trên mối quan hệ biện chứng giữa
nguyên nhân và kết quả. Nguyên nhân là cái có trước, nên nguyên nhân tạo ra năng
lực cạnh tranh phải tìm ở hiện trạng, trước khi đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh. Vì thế, cần tìm nguyên nhân dẫn tới năng lực cạnh tranh từ hiện
trạng trong mối quan hệ với ngành nghề sản xuất kinh doanh dược phẩm.
b) Vai trò của đánh giá hiện trạng ngành dược và năng lực cạnh tranh: Phát hiện
mối quan hệ năng lực cạnh tranh với các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu như công nghệ
sản xuất, kinh doanh, quản lý, tổ chức. Đánh giá hiện trạng là cơ sở để tìm ra nguyên
nhân dẫn đến sự hình thành năng lực cạnh tranh và tìm ra những giải pháp thích hợp
để đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.
Ưu điểm và hạn chế của đánh giá hiện trạng: Từ những phân tích nêu trên cho
thấy ưu điểm của đánh giá hiện trạng là nó chỉ rõ được mối quan hệ nguyên nhân, kết
quả ở hiện tại. Từ hiện trạng tổng hợp được các hệ số, thể hiện mối quan hệ qua thực
tế làm định mức cho dự báo năng lực cạnh tranh. Tuy vậy hạn chế của đánh giá hiện
trạng là vật chất luôn luôn biến động, lịch sử không phải là bài học tốt cho đánh giá
năng lực cạnh tranh trong tương lai. Vì vậy, cần có một số giải pháp để khắc phục
những hạn chế này.
Nguyên tắc vận dụng đánh giá hiện trạng vào phân tích và đánh giá năng lực
cạnh tranh là phải phát hiện cái mới và điều chỉnh cái cũ cho phù hợp với môi trường
cạnh tranh ngày càng tăng.
Đánh giá hiện trạng phải mang tính hệ thống, có nghĩa là lấy năng lực cạnh
tranh làm mục tiêu chung của hệ thống, trên cơ sở đó xem xét các phân hệ ảnh hưởng
hay quyết định đến mục tiêu một cách toàn diện. Các phân hệ chính của hệ thống
phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh bao gồm khu vực sản xuất dược phẩm, linh
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
vực kinh doanh và phân phối (thương mại), khu thể chế kinh tế của nhà nước và của
thị trường, cơ chế chính sách ưu tiên của nhà nước.
1.2. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Có rất nhiều các chỉ tiêu để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm cả về
định lượng lẫn định tính. Nhưng ta có thể kể tới một số chỉ tiêu quen thuộc như sau:
1.2.1. Mức doanh thu của sản phẩm qua từng năm
Doanh thu là chỉ tiêu tổng hợp thể hiện sản lượng và giá bán sản phẩm qua các
năm. Thông qua chỉ tiêu doanh thu từng năm, ta có thể biết được kết quả kinh doanh
là tăng hay giảm, có chiều hướng tốt hay xấu. Nhưng để xét xem việc kinh doanh sản
phẩm đó có hiệu quả hay không thì cần phải xét đến chi phí để sản xuất ra sản phẩm,
từ đó biết được lợi nhuận mà doanh nghiệp thu lại được. Doanh thu nhiều hơn và có
tốc độ tăng nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí sẽ là cơ sở để các doanh nghiệp ra
quyết định mở rộng đầu tư sản xuất sản phẩm đó. Một sản phẩm duy trì được doanh
thu và lợi nhuận tăng cao thì đồng nghĩa với việc sản phẩm đó có năng lực cạnh tranh
cao và ngược lại. Đây là một trong những chỉ tiêu cơ bản nhất để đánh giá năng lực
cạnh tranh của sản phẩm khi tham gia thị trường.
1.2.2. Thị phần của sản phẩm trên thị trường qua từng năm
Thị phần thể hiện khả năng chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm. Một sản phẩm
có thị phần lớn và tăng dần sẽ là một sản phẩm có uy tín với người tiêu dùng, được
nhiều người tiêu dùng lựa chọn.
Thị phần đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Thị phần càng lớn thì
năng lực cạnh tranh của sản phẩm càng cao và ngược lại. Tuy nhiên với các sản phẩm
mới xâm nhập thị trường thì không thể lấy chỉ tiêu này để đánh giá được mà phải kết
hợp thêm chỉ tiêu Tốc độ tăng trưởng của doanh thu hay thị phần.
Nếu sản phẩm có tốc độ tăng thị phần cao thì sản phẩm có năng lực cạnh tranh
cao và ngược lại.
1.2.3. Chất lượng sản phẩm so với sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnh tranh
Khi đời sống của người dân ngày càng nâng cao hay đối với những nước có thu
nhập cao thì giá cả không phải mối quan tâm hàng đầu của họ nữa. Người tiêu dùng
quan tâm nhiều đến chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm là sự kết hợp hài hòa
của năng suất lao động, trình độ công nghệ, mức độa an toàn của sản phẩm, các biện
pháp bảo vệ thực vật… Mặt khác, khi hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra, để nâng cao
sức cạnh tranh của sản phẩm thì yếu tố chất lượng sản phẩm đóng góp quan trọng cho
sự tồn tại của sản phẩm trên thị trường. Sản phẩm đó không chỉ đạt tiêu chuẩn quốc
Đoàn Thị Thùy Dương Kế hoạch 48A
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét