Cái đẹp trong các sáng tác của Nguyễn Tn
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhạc sĩ tài danh Trịnh Cơng Sơn đã từng nói: “Mục đích đầu tiên và sau
cùng của nghệ thuật và Văn học theo tơi là mang đến cái hay, cái đẹp cho đời
người. Tự thân nó khơng có mầm mống của một sự mưu toan nào cả. Hãy cho
nó thanh thản tự do và mãi mãi là hiện thân của điều thiện của cái đẹp”. Các tác
phẩm văn học chân chính ln ni dưỡng trong nó cái đẹp - phạm trù cơ bản và
trung tâm của Mỹ học. Văn học nghệ thuật tựa như một dòng chảy mát lành ni
dưỡng tâm hồn của biết bao cuộc đời, bao thế hệ. Vì vậy mà những “Trà Hoa
nữ” của Vecđi, những “Hồ thiên nga” của Traicopxki, những điệu Valse của
Giơhanstrauss mãi mãi ngân vang những thơng điệp thẩm mỹ cho cơng chúng
hơm qua, hơm nay và mai sau.
Là “cả một định nghĩa về người nghệ sĩ”, cả cuộc đời Nguyễn Tn ln
ln khao khát theo đuổi và kiếm tìm cái đẹp. Ơng lúc nào cũng muốn lăn cả cái
vỏ của mình trên trái đất, thêm những cảm giác mạnh thèm được đi nhiều để
thay đổi thực đơn cho giác quan. Có khi ơng tự nhận mình là một lữ khách lang
thang đi tìm cái đẹp cho cuộc đời. Cái đẹp tựa như hơi thở, như nguồn sống
trong các sáng tác của Nguyễn Tn.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
2
II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
“Mỹ học là triết học của sự sáng tạo nghệ thuật” (Hêghen). Mỹ học có thể
coi là phương pháp luận của nghệ thuật là triết luận về nghệ thuật. Nghệ thuật là
hình thái cao nhất của sự đồng hố thế giới thẩm mỹ theo quy luật của cái đẹp.
“Nói nghệ thuật là nói sự cao cả của tâm hồn. Đẹp tức là một cái gì cao cả, đã
nói đẹp là nói cái cao cả. Có khi nhà văn tả một cái rất xấu, một tội ác, một tên
giết người. Nhưng cái nhìn, cách miêu tả đó phải cao cả” (Nguyễn Đình Thi).
Nói đến nghệ thuật là nói đến phạm trù cái đẹp, trong đó sắc điệu thẩm mỹ chính
là giá trị thẩm mỹ tương ứng giữa chủ đề và cảm hứng của tác phẩm. Một tác
phẩm văn học có thể gợi ra trong lòng ngườ những rung động, cảm xúc thẩm mỹ
vừa cụ thể sinh động, lại vửa có sức khái qt cao. Xét về bình diện cái đẹp,
những rung động mà người đọc có được có khi còn phụ thuộc vào tầm vóc tác
phẩm và tài năng của nhà văn. Người ta có thể khẳng định những tác phẩm văn
chương càng sâu sắc vĩ đại, những tác gia tác giả càng tài hoa độc đáo thì giá trị
thẩm mỹ đem lại càng sâu, càng cao. Bởi vì lúc đó, quan điểm về cái đẹp, hay
nói mộ cách khác là thế giới quan Mỹ học của nhà văn đã tác động sâu sắc và
mạnh mẽ đến người đọc, tạo ra một hiệu ứng thẩm mỹ. Sắc điệu thẩm mỹ của
tác phẩm chính là ở chỗ nhà văn phê phán quyết liệt cái ác, cái xấu để người ta
căm ghét nó, nhà văn viết những trang trữ tình đằm thắm để người ta u hơn
con người và cuộc đời, nhà văn viết về những cái chua chát day dứt để khến
người ta trăn trở, suy nghĩ để vươn lên. Thế nên cái chết đau khổ của đơi trai tài
gái sắc Phécđinăng và Luidơ trong vở kịch “Âm mưu và tình u” của Sinle mãi
mãi đốt cháy trong lòng người xem một ngọn lửa tình u mãnh liệt. Thế nên bi
kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo chưa bao giờ thơi ám ảnh con
người về nỗi đau của sự tha hố đến tận cùng. Thế nên “khơng còn Leptơnxtooi,
khơng còn thời đại đó nữa. Nhưng nàng Natasa cho đến nay vẫn nhẩy trong buổi
vũ hội đầu tiên của mình. Và cho đến nay, cơng tước Amđrây vẫn hấp hối một
cách bất tử”.
Để cho ra đời những hình tượng nh bất hủ như thế, nhà văn phải coi việc
đeo đuổi những giá trị chân - thiện - mỹ tựa như một nhu cầu bức xúc của bản
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
3
thân. Cũng như Nguyễn Tn, ơng “ln muốn mỗi ngày sống, mỗi trang đời
của mình cũng là một trang nghệ thuật… Đó là thái độ thẩm mỹ đặc biệt riêng
của ơng với cuộc sống” (Ngun Ngọc) ơng đặc biệt tin vào kho cảm giác của
mình rồi “vênh váo giữa cuộc đời” trong cái khát khao “tơi muốn mỗi ngày cho
tơi cái say của rượu tối tân hơn”. Cái đẹp trong văn chương của Nguyễn Tn
khơng chỉ đem tới cho người dọc giá trị trơng nhìn và thưởng thức, mà còn giúp
con người nhìn trân trọng và nâng niu nó. Điều đó thể hiện sâu sắc nhất trong
quan điểm về cái đẹp của Nguyễn Tn cùng phong cách sáng tác của ơng.
Bất cứ một nhà văn chân chính nào cũng đặt ra cho mình một lý tưởng
thẩm mỹ, một quan niệm nghệ thuật để từ đó phấn đấu vươn theo nó. Với
Nguyễn Tn, quan niệm nghệ thuật của ơng đồng nghĩa với quan niệm về cái
đẹp. Ơng là người đi theo quan niệm “nghệ thuật vì nghệ thuật” (văn chương
trước hết vì văn chương, nghệ thuật trước hết vì nghệ thuật). Nguyễn Tn chủ
trương cái đẹp của văn chương khơng có nội dung xã hội. Văn chương nghệ
thuật đứng trên mọi thứ trên đời. Nguyễn Tn quan niệm “viết văn khơng
khuynh hướng” khát vọng lớn lao đeo đuổi suốt cuộc đời ơng chính là hướng tới
cái đẹp, cái đẹp duy nhất. Chính sự khát khao cái đẹp và tơn thờ cái đẹp thể hiện
rất sâu sắc quan điểm duy mỹ của Nguyễn Tn.
Quan điểm về cái đẹp, về chất Mỹ học của Nguyễn Tn có điểm gặp gỡ
với quan điểm Mỹ học của nhà triết học Đức Kantơ “cái đẹp khơng ở má hồng
người thiếu nữ mà trong con mắt của kẻ si tình”. Quan điểm Mỹ học của
Nguyễn Tn mang đậm nét màu sắc tơn giáo, có tính chất cứu rỗi.
Nguyễn Tn rất trân trọng cái đẹp. Ơng ln ln nhìn con người và
cuộc đời dưới góc độ thẩm mỹ. Qua đó, người đọc thấy được những phát hiện
tinh tế, sắc sảo, tìm ra những nét tương phản giữa cái thẩm mỹ và phản thẩm
mỹ.
Nguyễn Tn khao khát săn tìm và ngợi ca cái đẹp. Nhưng cái đẹp mà
người ta tìm thấy trong văn chương của ơng lại là cái đẹp trong q khứ. Ơng đã
thể hiện sự phủ định hiện thực bằng việc trở về tìm những nét đẹp xưa của một
thời vang bóng. Ơng ngợi ca những thú chơi thanh tao: thả thơ, đánh thơ, uống
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
4
trả, chơi hoa… Nguyễn Tn đưa a về lối sống của người xưa và bản thân ơng
cũng đắm chìm trong những vẻ đẹp ấy trong sự nuối tiếc, ngậm ngùi cho một cái
gì đã mất hút vào xa xưa. Vũ Ngọc Phan đã từng nhận xét: “Đọc vang bóng một
thời giống như việc ngắm một bức tranh cổ”. Bức tranh cổ đó có hình ảnh của
những chiếc ấm đất, những chén trà sương…, mà thấp thống đâu đó là những
cụ Sáu, cụ Ấm… hiện thân của một lớp nhà Nho sống thanh bạch nhàn nhã trầm
tĩnh. Người ta có cảm tưởng Nguyễn Tn đang vẽ lên một bức tranh thuỷ mặc
về những con người đang đi lượm lặt những nhành hoa cuối mùa để chống lại xã
hội Âu hố, cái xã hội đang huỷ hoại nền văn hố cổ truyền của dân tộc. Những
nhân vật trong các sáng tác của ơng phần lớn là những Nho sĩ tài tử ham xê dịch
và vơ cùng tài hoa. “Ném bút chì” thì phải đến mức “vết thương gọn gàng vừa
đúng qng đầu gối và cặp giờ chưa lìa hẳn, vẫn còn ính vào đùi bởi lần da hoen
máu”, nhận được “chữ người tử tù” mà “ngục quan cảm động, vái tên tù một vái
và nó một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào”… Tất cả
những việc đó đã được nâng lên trở thành đỉnh cao của nghệ thuật. Điều đó cũng
thể hiện quan điểm của Nguyễn Tn về cuộc đời và con người. Ơng cho rằng
con người phải có một giá trị nhất định mà cái tài hoa nhất, đáng ca ngợi nhất
chính của con người chính là việc họ dã trở thành nghệ sĩ trong chính cơng việc
của mình. Đó là hình ảnh của cơ Tơ, cơ Tâm, ơng Thơng phu… Nguyễn Tn
nhìn con người dưới góc độ của phạm trù Mỹ học, ơng giải thích bản chất của
con người thơng qua việc lý tưởng hố cái đẹp.
“Nguyễn Tn đi vào dĩ vãng với thái độ của một người đi tìm những cảm
giác lạ, đi tìm một cái đẹp thuần th của nghệ thuật” (Phan cự Đệ). Quan niệm
của ơng về cái đẹp nằm trong việc chắt chiu, gạn lọc, nâng niu những gì thuộc
cái đẹp của cuộc sống, vậy nên, ơng cứ mải miết kiếm tìm vẻ đẹp duy mỹ, vẽ
lên “bức tranh cổ” của cái đẹp trong q khứ chính bởi sự chối bỏ hiện thực và
cái ngơng của Nguyễn Tn trước cuộc đời.
Trong cuộc đời của nhà văn trước cách mạng, cái đẹp và cái thật khơng
bao giờ đi liền nhau, thậm chí đối lập nhau. Cái đẹp mang màu sắc duy mỹ mà
Nguyễn Tn kiếm tìm chính là cách để nhà văn đối lập với xã hội đương thời
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
5
“ối a ba phèng”. Nhưng Nguyễn Tn cũng khơng lý tưởng hố xã hội phong
kiến, cũng khơng ngợi ca phong kiến. Nhân vật trong tác phẩm của Nguyễn
Tn khơng phải là tầng lớp quan lại, hám danh, tham tiền mà là hạng người
sống thanh cao, tiết tháo: ơng phủ cụ Thượng, ơng Nghè, cụ Ấm, cụ Kép…
Nguyễn Tn cực kỳ cầu kỳ, thạm chí cực đoan khi miêu tả cái đẹp. Như trong
tác phẩm “Tóc chị Hồi”, ơng say sưa miêu tả mái tóc đẹp của người thiếu nữ:
“Chị Hồi mỗi lúc vừa nằm xuống rất nhẹ nhàng thì cả một mớ tóc trần quấn rất
chắc ấy đổ tung xuống như một trận mưa rào đen nhánh. Rồi mớ tóc mây dài
như mộ sải rưỡi ơm lấy gáy, ấp lấy bả vai”. Nguyễn Tn rõ ràng tả tuyệt đối
hố vẻ đẹp hình thức. Đây cũng là đặc điểm của các sáng tác của Nguyễn Tn
trứơc cách mạng.
Nhiều lúc người ta thấy nt miêu tả cái đẹp thuần t hình thức khơng cần
lấy một nội dung. Nguyễn Tn từng quan niệm “Mỹ học vốn khơng là bà con
với ln lí của thờ đại. Một thằng ăn cắp đã trở nên đẹp đẽ vơ cùng khi hắn cắp
túi người ta rất gọn và rất nhanh”. (Tác phẩm “chuyện xe tình”) cái đẹp nghệ
thuật đứng trên mọi thứ thiện ác ở trên đời, cái đẹp hình thức thuần t. Tuy
nhiên, quan niệm ấy có sự mâu thuẫn. Chủ nghĩa hình thứ chiếm ưu thế trong ý
thức nghệ thuật của Nguyễn Tn nhưng khơng phải là tất cả. Cái đẹp gắn với
cái tài, tài hoa là một mặt của cái đẹp. Đã là tài thì phải được ca ngợi, thán phục
và biểu dương. Hợp lý khi có ý kiến cho rằng có thể coi Nguyễn Tn là một
người nghệ sĩ suốt một đời săn tìm cái tài hoa. Tài hoa trong việc pha trà, chơi
hoa, thả thơ, đánh thơ, viết chữ, chém treo ngành… cái đẹp được gắn liền với
cái tài, cái đẹp khơng vụ lợi.
Nhưng mâu thuẫn lại chính là ở chỗ ơng phát hiện cái đẹp gắn liền với
thiên lương. Trong “Chữ người tử tù”, Nguyễn Tn nêu bật mâu thuẫn giữa cái
đẹp với cái xấu, cái ác. Cái đẹp khơng đi đơi với đồng tiền, cái đẹp đòi hỏi nét
thanh cao. Quan niệm Mỹ học của Nguyễn Tn chính là ở việc miêu tả cái đẹp
trác tuyệt, cái đẹp thanh cao. Hay là trong “Bữa rượu máu”, Nguyễn Tn đã
ngầm lên án cuộc bình định của chủ nghĩa thực dân Pháp, nhắc cho người đọc
nhớ đến tội ác của hai tên bán nước là Lê Hoan và Hồng Cao Khải đã đẻ ra luật
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
chém đầu người. Hình ảnh cơn gió lốc hất cái mũ của tên cơng sứ lăn lộn giữa
bái cỏ là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc khẳng định tội ác dã man của kẻ thù. Nợ
máu phải trả bằng máu. Nhân vật Bát Lê cũng chỉ là một người làm đúng theo
nghề nghiệp, phận sự của chính mình. Lời hát “sống khơng thù nhau, chết khơng
ốn nhau” thể hiện rõ nét điều ấy.
Nguyễn Tn tìm về cái đẹp trong q khứ khơng chỉ đối lập với hiện tại
“ối a ba phèng” mà còn là một cách để Nguyễn Tn chơi ngơng với thiên hạ.
Về căn bản Nguyễn Tn muốn lấy cái “tơi” cá nhân chủ nghĩa đối lập với cả xã
hội. Chính Nguyễn Tn đã từng nhận xét “Lòng kiêu căng của ta đã xui ta chỉ
chơi có một lối độc tấu”. Nguyễn Tn coi việc sáng tác như chơi độc tấu. Ơng
rất tự hào vì điều ấy “rồi tơi vẫn vênh váo đi giữa cuộc đời như một viễn khách
khơng có q hương nhất định, cái gì cũng ngờ hết, duy chỉ có tin chắc ở cái
kho, cái vốn tình cảm và cảm giác của mình. “Nhà văn ln ln có cảm giác”
thiếu q hương” nhưng lại gắn bó tha thiết với q hương. Chỉ có lòng tha thiết
q hương sâu sắc thì con người ấy mới cảm thấy bơ vơ trong hồn cảnh mất
nước. Ở Nguyễn Tn, người ta nhận thấy ở ơng mối bất hồ sâu sắc với xã hội.
Vậy nên phải quay về để phụng sự cái đẹp thuần t là lẽ đương nhên. Điều này
thể hiện rõ tinh thần giàu tính dân tộc của tác giả. Bên cạnh nét cực đoan, người
đọc bắt gặp những giá trị tiến bộ sâu sắc trong sáng tác của Nguyễn Tn. Đó là
long tự hào dân tộc, là ý thức giữ gìn vẻ đẹp và giá trị thẩm mỹ của dân tộc. Mỹ
tục của giới hạn trong trang văn Nguyễn Tn giản dị mà sâu sắc, hanh đạm mà
tinh tế, tài hoa mà đẹp đẽ.
Cái đẹp trong các sáng tác của Nguyễn Tn khơng chỉ thể hiện ở quan
điểm Mỹ học của ơng mà còn được biểu hiện rõ nét thơng qua phong cách của
tác giả. Phong cách chính là chỗ độc đáo, mang phẩm chất thẩm mỹ cao và kết
tinh trong q trình lao động và sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ. Phong
cách Nguyễn Tn mang đậm màu sắc Mỹ học. Đó thể hiện ở chỗ ơng nhìn sự
vật và con người dưới góc độ tài hoa, ở chỗ ơng ln đi sâu khai thác những cảm
giác mãnh liệt, những tình cảm phi thường, những phẩm chất tuyệt mỹ.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
Nói đến phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tn, trước hết người ta phải
nói đến chất tài hoa, un bác, độc đáo của nhà văn. But pháp của Nguyễn Tn
là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cổ đại và hiện thực, Nguyễn Tn nhìn sự vật,
quan sát sự vật bằng nhiều con mắt của nhiều ngành văn học nghệ thuật khác
nhau. Khơng chỉ văn chương mà còn là hội hoạ, điêu khắc, vũ đạo, điện ảnh…
Để có thể huy động tối đa sự nhạy cảm của các giác quan cũng như vận dụng
các thủ pháp của các lĩnh vực nghệ thuật khác vào trong trang viết của mình,
Nguyễn Tn phải có một tầm tri thức, kiến văn sâu rộng, sự am hiểu tường tận
về văn hố cổ truyền. Ơng ln có khả năng huy động tối đa và nhuần nhuyễn
kiến thức của mình vào trong trang viết, để có thể tạo dựng được các thú vui tao
nhã cổ xưa, để có thể phục chế tái tạo y như cũ hồn xưa một thuở. Người ta như
thấy biểu trước mắt cảnh cụ Ấm thử trà sờ thấy được cả những cái nhẵn nhịu sủi
tăm. Và chỉ có những người cùng thanh khí mới có thể ngồi cùng. Cả cảnh cụ
kép trong “Hương cuội” với hình ảnh bốn cụ già tiến vào ngõ dưới trong một
buổi sáng mùng Một Tết. Nhà văn thấy hương thơm pha lỗng vào khơng gian
rồi lan toả ra mênh mơng. Miêu tả được phong cách, thần thái nhàn tản thanh
cao của các bậc nho sĩ thờ xưa khơng chỉ để lưu giữ truyền thống văn hố tốt
đẹp để khơng bị mai một mà còn giúp người đọc nhận thấy tầm tri thức sâu và
dầy của nhà văn trong việc tìm hiểu về phong tục văn hố cổ truyền.
Đứng trên đỉnh cao của tài hoa nhân cách để nhìn đời, nghệ thuật ln
miêu tả sự vật trong cái hồ điệu của nhiều bộ mơn khoa học nghệ thuật khác
nhau. Như trong “Bữa rượu máu”, nhà văn đã miêu tả nhịp đi của bác đao phủ
Lê như một vũ đạo. Tri thức nhiều mặt về hội hoạ, âm nhạc, điện ảnh rất gần gũi
với văn chương và hỗ trợ đắc lực cho việc dựng cảnh dựng người. Trong “chữ
người tử tù”, nhà văn đã sử dụng ngơn từ giàu chất tạo hình, miêu tả một người
tù đeo gơng đang dâm tơ nét chữ trên khn lụa trắng. Ơng kính điện ảnh tài hoa
đầu tiên quay một nhà tù ẩm ướt, một bó đuốc tẩm dầu rồi thu hẹp lại quay ba
mái đầu chụm lại trên từng con chữ. Cuối cùng là quay cận cảnh từng người,
từng chi tiết một. Thủ pháp điện ảnh đã góp phần đắc lực thể hiện “cái đẹp cứu
rối thế giới”. Đây là tác phẩm đầu tiên thể hiện tính khuynh hướng rõ rệt nhất.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
Cái đẹp ln ln chiến thắng. Giọng văn trầm xng như một nỗi buồn xa xăm,
cái tài lúc này được gắn liền với chữ tâm thể hiện cái ĐẸP đầy đủ và cao q
nhất. Nó như bay như lượn như chạm như khắc, có khả năng mê hoặc cả những
thứ đá vơ tri.
Có lúc Nguyễn Tn miêu tả một tiếng đàn ung ủng, tiếng đàn của cụ
Nhỡ như rủ rê, hồ quyện với tiếng hát của cơ Tơ, nghe ghê rợn não nùng như
đến từ thế giới âm ti địa ngục. Nhà văn đã thật sự hồn tồn hố thân vào tiếng
đàn tiếng hát miêu tả tồn bộ cung bậc của tiếng đàn phức tạp huyền bí.
Có lúc Nguyễn Tn miêu tả bàn tay cơ X rớm máu trên đệm sống.
Thân xác mỗi cơ X là một đệm sống cho bọn chúa đất bất nộp tơ. Nguyễn
Tn như nhập thân vào người con gái đang đưa bước chân uyển chuyển với
những máu. Ơng còn lắng lòng để nghe thấy cả những tiếng rộn vang của suối
của thác. Hay là miêu tả một con sơng Đà, Nguyễn Tn đã sử dụng điêu luyện
nghệ thuật phối âm phối từ với những câu văn giàu chất thơ chất nhạc. Khi miêu
tả con sơng êm đềm thì sử dụng tồn vần bằng. Khi khắc hoạ cái dữ dội của con
sơng thì lại sử dụng tồn vần trắc. Viết sơng Đà có bảy mươi ba con thác. Điều
đó cũng thể hiện mạch tư duy của tác giả, nhìn sự vật trong mối quan hệ biện
chứng. Để biểu dương cơng lao lực khổ sở của nhân vật. Nguyễn Tn đã thống
kê đường bay của con ong, bay hơn ba vạn kilơmét đường bay, đếm từng bình
hoa để được nửa lít mật. Thật sự, Nguyễn Tn đã q thâm th trong sự phối
hợp tri thức văn hố, hội hoạ, điện ảnh với cái nhìn nhiều chiều. Nguyễn Tn
đã có đóng góp rất lớn trong việc vẽ lên hình tượng sơng Đà hung bạo và sơng
Đà trữ tình. Nguyễn Tn khơng thích hiện thực bằng phẳng mà muốn từ những
khó khăn hiểm trở mà ngòi bút lãng mạn tài hoa được trổ tài. Nhà văn tạo tình
huống bằng cách xây dựng một mơi trường khắc nghiệt. Ơng đã thật sự tơn vinh
những phẩm chất cao q của con người, bao giờ cũng nhìn sâu hiện thực, khám
phá cái mớ với một trường liên tưởng phi phàm.
Chính sự phát huy nét tài hoa trong một mơi trường nghiệt ngã nhất cũng
đã tạo nên một đặc trưng nữa trong phong cách Nguyễn Tn. Đó chính là việc
ơng hay miêu tả và nhìn nhận con người dưới góc độ thẩm mỹ, ưa cái dữ dội phi
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
thường lúc này, cái đẹp đơng nhất với cái trác tuyệt, cái cao cả. Điều này cũng
phù hợp với cá tính của Nguyễn Tn - một con người có cá tính mạnh. Ơng có
thể đuổi một người gõ nhầm cửa, dửng dưng trước một người mình khơng ưa,
dù người đó có giơ tay định bắt. Chính cái phong cách ưa những cái dữ dội phi
thường ấy là đặc điểm của chủ nghĩa lãng mạn. Nguyễn Tn coi cái đẹp là cái
thẩm mỹ, cái tài là cái siêu phàm. Mọi thứ phải trở nên tuyệt đối nổi bật, như
Huấn Cao, Phó Kình, cơ Tơ, người lái đò Sơng Đà…
Nguyễn Tn đặc biệt thích những sự vật dữ dội, phi thường tựa như cảm
giác của một người “đói thanh sắc”, thèm những cảm giác lạ, mới mẻ, mạnh mẽ,
khơng ưa cái nhạt nhẽo, cái bằng phẳng. Nguyễn Tn cho rằng, một cái gì đó
phải mãnh liệt và mạnh mẽ như rượu tối tân hơn. Ơng rất có cảm hứng trước
những cảm giác mạnh đập mạnh vào giác quan con người. Cảnh đẹp phải dữ
dội, con người phải có tính cách phi thường, ghét cái nhột nhạt, bằng phẳng,
ghét sự thờ ơ lạnh lẽo thiếu cá tính, Nguyễn Tn chủ trương viết văn theo chữ
tung. Dễ hiểu khi Nguyễn Tn tự nhận mình là tín đồ của chủ nghĩa xê dịch,
ln ln đi nhiều để tìm cảm giác mới lạ, xê dịch để thay đổi thực đơn cho các
giác quan.
Người ta nhận thấy Nguyễn Tn rất thích miêu tả hiện tượng gió: gió
Vàng Gianh, gió Lào, gió Than Un… với các động từ gào thét, rú, như người
đàn bà “quẫn”, “ma qi”, biết khóc như người đàn bà mất con. Gió Than un
lạnh buốt như kim châm, gió dúi đầu ngựa làm ngựa chảy máu cam, gió đảo Cơ
Tơ như bắn đạn liên thanh.
Hay có lúc nhà văn miêu tả hiện tượng sóng sơng Đà như con qi vật
hung bạo, một sinh thể có tâm thể, có tính cách biết kêu la gào thét, nước ặc ặc
lên như người ta vừa rót dầu sơi vào. Đó là một ngọn sóng khơng bình thường,
hung dữ, ma qi, ghê rợn, ác liệt. Chính vì quan niệm viết văn phải có cảm
hứng mạnh, hơi thở nồng đã tạo nên những trang viết gây ấn tượng mạnh, sống
động như vậy. Thế giới của Nguyễn Tn là một thế giới ln chuyển động, vận
động biến đổi. Ngòi bút của Nguyễn Tn là ngọn bút có thể làm mềm cả những
thớ đá vơ tri.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
Nói đến phong cách Nguyễn Tn, khơng thể khơng nhắc đến vốn từ
phong phú, một “chun gia tiếng Việt”, một “nghệ sĩ ngơn từ”. Đó chính là thể
hiện cái TÀI của người nghệ sĩ, tài đến mức mà Tạ Tị phải thốt lên rằng “Tài
năng của Nguyễn Tn làm mê hoặc cả thứ đã vơ tri”. Người ta ln nhắc đến
Nguyễn Tn như một cây đại thụ của ngơn ngữ, như một bể sâu un bác, tài
năng. Trước và sau Nguyễn Tn, hiếm có nhà văn nào có thể có một kho ngơn
ngữ phong phú giàu có, độc đáo như thế. Cái thứ khơng ai có của Nguyễn Tn,
cái thứ mà hơn hẳn các nhà văn khác, gây ấn tượng mạnh mẽ nhất lại chính là
cái xù xì gai góc. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sự ngơng nghênh phá phách và
những hoa mỹ chau chuốt của ngơn từ Nguyễn Tn để tạo nên một thế giới tinh
thần phong phú và bí ẩn của con người. Tác giả sử dụng ngơn ngữ rất cầu kì, rất
cơng phu. Thậm chí nhiều khi người ta có cảm giác Nguyễn Tn đang khoe tài
dùng chữ của mình:
Miêu tả một cái đinh trong “chiếc lư đồng mắt cua” mất mấy trang.
Miêu tả mái “tóc chị Hồi” bằng cả một cuốn sác.
Cách cảm thụ thế giới của Nguyễn Tn thậ lạ, hồn tồn khác với các tác
giả khác. Đó là một thế giới sống động, ln ln chuyển động với những âm
thanh cuồng nộ, “gió thay bằng đạn bắn từng hạt cát vào lưng buốt nhói”.
Thậm chí, có lúc tác giả còn phá vỡ nghi thức thơng thường, dám chế giễu
cả vào những giá trị và xã hội vốn tơn trọng, những thẩm mỹ truyền thống. Ơng
thẳng thắn phê phán cách treo tranh khơng đúng chỗ, khơng phải con nhà võ mà
cũng học đòi treo bảo kiếm. Ơng cảm thương cho những bảo vật khơng tìm được
chủ q, đả kích lối sống nơ lệ hủ lậu, những thói quen lanh niên làm người ta
mất đi bản sắc cá tính. Nhà văn tự nhận mình là người lập ngơn ngang phè,
nhắm phẳng, thích phơ ra một cái “tơi” gai góc ngược đời, thách thức với mọi
giá trị đã mòn cũ.
Ở trong văn chương Nguyễn Tn, người ta còn gặp một lối so sánh
huyền thoại hố. Mặt trời thì được miêu tả như một mâm lễ phẩm mà trên cái
mâm ấy nổi bật quả trứng khổng lồ. Người nghệ sĩ ấy còn phải rình xem hoa
thuỷ tiên nở vào lúc giao thừa, để nhận thấy những cánh hoa thuỷ tiên run rẩy
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
phá vỡ cái màn hoa. Và để có tư liệu mơ tả sự nở của hoa quỳnh trong đêm, ơng
đã “rình” để chờ hoa quỳnh nở. Ơng đã nhận xét. “Đời hoa quỳnh chỉ nở đó và
tàn ngay đó… hoa quỳnh nở thật là mệt nhọc như bà mẹ dặn đẻ, tưởng đến long
hết rễ, hoa quỳnh run run loạng choạng trong đêm, hình như cho thế là đủ, hoa
quỳnh rút lui vào trong thân cây, và trên xác hoa chỉ còn những cánh lả dần, nẫu
dần… hoa quỳnh khơng nở ở dầu cành mà đâm ra từ nách một cái lá loằng
ngoằng”. Cảm tưởng như người nghệ sĩ đang giơ tay hứng lấy từng khoảng khắc
kia để mà nâng niu, trân trọng nó. Cái đẹp vì thế mà ra đời.
Đặc sắc nghệ thuật trong phong cách Nguyễn Tn còn là ở chỗ ơng hay
sử dụng những trường từ đồng nghĩa đám tơ lụa sặc sỡ, đám cung nhân thất
sủng, hạt trai hạt xót hạt đau… Bên cạnh đó là lối so sánh đa tầng phức hợp độc
đáo…
Sáng tạo- cũng như cơn mơ trong nghệ thuật, thất bại và thành cơng đều
là lao động, nó đóng vai trò thúc đẩy người nghệ sĩ tiến tới và qua sáng tạo,
người nghệ sĩ hình thành nên phong cách - là máu thịt, là sự sống của mỗi nhà
văn. “Phong cách sáng tạo văn học (nghệ thuật) là tổng thể những đường nét
riêng biệt của một chân dung văn hố (nghệ thuật) được nẩy sinh trên cơ sở một
phương pháp sáng tạo nhất định, đó là chiều sâu bản chất của một cá tính sáng
tạo, là những giá trị thẩm mỹ “tối ưu” mà tác giả, tác phẩm văn học (nghệ thuật)
đã đạt được, là toả sức phát sáng, sức chiếm lĩnh đối với bạn đọc (cơng chúng)”.
Phong cách có điểm xuất phát là sáng tạo Ngọn nguồn sáng tạo được dựa
vào câu chuyện của thần thoại Hi Lạp. Có chuyện con ngựa Pêgađơ của thần
Dớt đã có lần đá vào sườn núi Hê đi cơng và từ đó bật ra ngọn suối Hippơcram.
Người Hi Lạp đã lấy Pêgadơ là biểu tượng của thần sáng tạo. Điều kì diệu là con
ngựa thần có đơi cánh để bay. Vì vậy mượn hình ảnh pêgadơ để chỉ sự bay bổng
của thi hứng, chỉ việc cất mình đi tìm những chân trời, khơng gian mới. Vì chính
đơi cánh ấy đã đưa con người tìm đến bến bờ của cái đẹp, nhận chân được giá trị
sâu sắc của những sắc điệu thẩm mỹ.
Trong dòng văn học Việt Nam, hiếm có một nhà văn nào mà thể hiện cái
đẹp tinh vi và đậm nét như trong các tác phẩm của Nguyễn Tn. Nó khiến
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
người đọc phải rung động cả các giác quan, các thị hiếu thẩm mỹ trên tất cả các
lĩnh vực khoa học nghệ thuật từ lập thể hình khối đến khơng gian ba chiều, hay
là ẩn sâu của những sắc màu gam thứ, hay là lắng mình trong những vũ điệu trần
gian. Cái ĐẸP cao q nhất trong các sáng tác Nguyễn Tn khơng phải chỉ
dừng lại ở việc đánh động vào các giác quan của người đọc, mà còn khơi dậy
những xúc cảm thẩm mỹ cao q, hướng người đọc tới những giá trị chân- thiện
- mỹ tích cực. Độc giả như nhận chân được bản chất của cái đẹp trong cuộc
sống, trong dòng lịch sử. Tất cả những hoạt động, những thứ bình thường, thậm
chí tầm thường nhất đều mang giá trị nhất định của nó nếu nhìn nhận dưới góc
độ Mỹ học. Ăn khơng chỉ là giải quyết nhu cầu sinh học mà còn nâng lên thành
nghệ thuật văn hố thẩm mỹ. Ngơn ngữ khơng chỉ có chức năng thơng báo mà
còn biểu cảm thẩm mỹ. Từ xa xưa, điệu múa quanh đống lửa của con người
khơng chỉ truyền thụ những kinh nghiệm về săn bắt trồng trọt mà còn tạo sự
khởi hứng bộc lộ tình cảm, nhu cầu giao tiếp. Nhìn nhận được bản chất của cái
đẹp trong những nét đời thường dung dị như thế. Người đọc như được nâng
mình lên một tầm cao mới.
Giá trị của nhà văn trong q trình tiếp nhận văn học của độc giả là khơng
nhỏ. Người nghệ sĩ phải có cái tâm cao cả, có cái tài khéo léo un bác để “cố
luồn cho lọt vào tấm vải nghệ thuật dệt chung đã chật cứng dọc ngang”, để sáng
tạo ra cái đẹp cho cuộc đời.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
III. KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Bàn về chức năng của văn hố nghệ thuật, nhà văn Ngun Ngọc đã nhận
xét “nghệ thuật là phương thức tồn tại của con người, giữ cho con người mãi
mãi là con người, khơng sa xuống thành con vật, và cũng khơng thành những
ơng thánh vơ bổ vơ dun. Nghệ thuật là sự vươn tới, sự hướng về, sự níu giữ
mãi mái tính người cho con người. Cái kết lõi của nghệ thuật chính là tính nhân
đạo”. Xét đến cùng, nghệ thuật đẹp nhất khi viết về con người. Tư tưởng nhân
văn của tác phẩm càng cao thì tác phẩm đó càng mang vẻ đẹp nghệ thuật điêu
luyện, độc đáo.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Mỹ học đại cương - TS. Thế Hùng, Nxb Văn hố thơng tin.
2. Cẩm nang ứng xử - Bí quyết trẻ lâu, sống lâu - TS Thế Hùng. Nxb
Văn hố thơng tin.
3. Vang bóng một thời - Nguyễn Tn, Nxb Đồng Nai.
4. Nguyễn Tn - Các tác phẩm sau cách mạng - Nxb Văn học.
5. Kể chuyện danh nhân thế giới - Cao Thuỵ, Nxb trẻ.
6. Nhà văn - hiện thực đời sống và cá tính sáng tạo - Trần Đăng
Suyền, Nxb Văn học.
7. Nguyễn Tn - Tác giả và tác phẩm - Nxb Gáo dục.
8. Các nhà văn nói về văn - Nguyễn Khải, Nxb Văn học.
9. Đọc Tsêkhốp - Nguyễn Tn - Nxb Văn học.
10. Thời và thơ Tú Xương - Nguyễn Tn, Nxb Văn hố thơng tin.
11. Trang giấy trước đèn - Nguyễn Minh Châu, Nxb Khoa học xã hội,
1994.
12. Thuật ngữ Văn học - Lại Ngun Ân.
13. Lý luận văn học - TS Đỗ Văn Khang - Nxb Giáo dục, 1998.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét