Thứ Năm, 20 tháng 2, 2014

VẬN DỤNG PHẠM TRÙ NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC ÁP DỤNG VÀO QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN XE MÁY TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Phần II Cơ sở thực tiễn
1.Tình hình,thực trạng của thị trường xe máy Việt Nam
1.1.Sự phát triển xe máy ở Việt Nam.
Ở các nước phát triển như: Mĩ,Nhật,Anh…,là những nước có mức sống
cao,phương tiện đi lại chủ yếu là ô tô,gần như mọi nhà đều có ít nhất 1 cái ô tô
để đi lại. Ở Việt Nam,mức sống chưa cao nên phương tiện đi lại chủ yếu của
người dân không phải là ô tô mà là xe máy.Hiện nay,xe máy là phương tiện đi
lại phổ biến ở Việt Nam,nó gần như là một phương tiện không thể thiếu trong
mỗi gia đình, đặc biệt là ở thành thị. Trên thị trường hiện có rất nhiều loại xe
máy, được chế tạo bởi các hãng khác nhau bao gồm cả nội địa, liên doanh và
nhập khẩu từ nước ngoài về; với mẫu mã đa dạng, kiểu dáng phong phú và giá
cả cũng có nhiều mức, phụ thuộc vào nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng.Bên
cạnh đó, do cạnh tranh nên trên thị trường các hãng xe máy luôn cải cách mẫu
mã, nâng cao chất lượng sản phẩm để thu hút người tiêu dùng một cách tối đa;
chủ yếu là các hãng liên doanh với nước ngoài như Nhật Bản: Yamaha, Honda,
Suzuki…Các hãng này đã có mặt trên thị trường Việt Nam từ những năm đầu
của thập kỷ 90 và rất có uy tín về chất lượng và hình thức. Do đời sống của nhân
dân ngày càng được cải thiện,nhu cầu đi lại ngày càng cao, điều đó đã tạo điều
kiện rất thuận lợi cho thị trường xe máy vì với thực trạng cơ sở giao thông vận
tải chưa phát triển thì xe máy là phương tiện đi lại thuận tiện nhất.Chính vì
vậy,thị trường xe máy đã biến đổi rất nhiều trong 10 năm trở lại đây.Nếu như
trong giai đoạn cuối thời kì bao cấp,chỉ nhà nào thật khá giả mới có được một
chiếc xe “Simson” hay “Cub”, “81” .Và những chiếc xe thời kì này muốn cho
“nổ” thì phải “đạp”,việc đó tốn rất nhiều thời gian và công sức,vì thế,sau đó là
một loạt loại xe mới ra đời : “82”,”Dream”…là những chiếc xe có “đề”,không
cần “đạp” cho xe “nổ” mà chỉ cần “đề”. Còn đối với những gia đình khá giả hiện
nay thì lựa chọn số một của họ khi mua xe máy là xe ga : SH, Dylan, Spacy,…
với giá khoảng hơn 50 triệu/chiếc-một mức giá khá cao so với thu nhập trung
bình của người dân hiện nay.Tuy nhiên,một gia đình không khá giả lắm thì cũng
có thể tự sắm cho mình một chiếc xe máy để đi lại với giá khá “mềm”,khoảng 5-
6 triệu/chiếc.
Nói chung,xe máy đang là phương tiện phổ biến và ưa chuộng nhất Việt
Nam,do đó,các hãng xe máy đang tiếp tục cho ra đời nhiều loại xe mới được cải
tiến cả về hình thức lẫn nội dung.
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
1.2.Xe máy Việt Nam: Tiềm năng và triển vọng
Công nghiệp xe máy Việt Nam: Tiềm năng và triển vọng
Theo số liệu của Hiệp hội Xe đạp, xe máy Việt Nam, đến nay toàn ngành
có 52 doanh nghiệp sản xuất - lắp ráp xe máy, trong đó có 22 doanh nghiệp
Quốc doanh, 7 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Số cơ sở trong
nước nhiều, nhưng sản lượng chỉ đạt khoảng 1,4 triệu chiếc/năm. Trong khi đó,
7 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lại có sản lượng vượt trội, (1,73 triệu
chiếc/năm). Lợi nhuận trước thuế của số doanh nghiệp trong nước cũng thấp
hơn 7 doanh nghiệp FDI. Đây chính là khoảng giãn cách khá lớn giữa số đông
doanh nghiệp trong nước với số ít các liên doanh nước ngoài. Nguyên nhân thì
có nhiều, nhưng giới chuyên môn đều khẳng định là đầu tư của các doanh
nghiệp trong nước còn manh mún và nhỏ lẻ, chưa liên kết để tạo thành sức
mạnh. Hơn nữa, công nghệ của các doanh nghiệp trong nước tụt hậu khá xa so
với các doanh nghiệp FDI, chưa chế tạo trọn bộ động cơ thương hiệu Việt
Nam.
Về mặt công nghệ, các doanh nghiệp trong nước chủ yếu nhập khẩu động
cơ, cụm linh kiện và phụ tùng chính yếu, còn lại các chi tiết phụ như đệm, đèo
hàng, giỏ, chân chống, khung sườn chế tạo trong nước nhằm tận dụng giá nhân
công rẻ. Các doanh nghiệp này cũng triệt để khai thác thị trường trôi nổi phụ
tùng, linh kiện do các doanh nghiệp nhập khẩu. Chính vì vậy, chất lượng xe
máy không ổn định. Hệ thống phân phối cũng không biết liên kết dựa vào nhau,
mạnh ai nấy làm, vốn nhỏ, đầu tư phân tán nên có doanh nghiệp sau mỗi quyết
định điều chỉnh giá của Chính phủ, hoặc các quyết định quản lý của Bộ Giao
thông vận tải và Bộ Thương mại là lao đao vì hàng tồn kho.
Hiện nay, có 3 dòng công nghệ phổ biến ở các doanh nghiệp, đó là:
- Công nghệ Nhật Bản: Đạt trình độ cao, chất lượng tốt, lợi nhuận lớn, tập
trung ở các liên doanh như Honda, Yamaha, Suzuki
- Công nghệ Đài Loan: Đạt trình độ tiên tiến, sản phẩm chất lượng tốt, giá
bán thấp hơn so với công nghệ Nhật Bản. Điển hình là Công ty SYM.
- Công nghệ Trung Quốc: Công nghệ trung bình, nhiều công đoạn vẫn
phải làm thủ công, nên chất lượng không đồng đều, giá bán thấp nên lợi nhuận
không cao.
Hàng năm, ngành công nghiệp xe máy trong nước tuy non trẻ, nhưng cũng tạo
ra chỗ làm cho khoảng 100 ngàn lao động trong các nhà máy, xưởng lắp ráp,
sửa chữa bảo hành, các đại lý bán xe máy… Đến quý I năm 2005, theo thống
kê của toàn ngành, có 10 doanh nghiệp đã đầu tư dây chuyền lắp ráp trên
30.000 xe một năm. Có 60% dây chuyền trên 150 công nhân. Các doanh
nghiệp dưới 50 công nhân hầu như không tồn tại do cạnh tranh quyết liệt. Có
tới 45 doanh nghiệp mới nội địa hoá được 40%, hai doanh nghiệp nội địa hoá
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
đến 60%. Một số doanh nghiệp đã bắt tay với nhau không đầu tư từ A đến Z,
mà có sự phân công chiếm lĩnh thị trường trong nước như vỏ, khung sườn,
moay ơ, bộ điện hoặc chuyên sản xuất các cụm chi tiết chủ lực, có doanh
nghiệp đã xuất khẩu được sản phẩm ra nước ngoài. Nhưng cho đến nay, theo
nhận định của Bộ Thương mại, thì một số chi tiết khó thuộc cụm động cơ (như
bánh răng ly hợp, vòng bi, ngắt số, bộ khởi động…) trị giá khoảng 30 USD
trong giá thành một chiếc xe vẫn chưa được đầu tư sản xuất trong nước.
Thị trường trong nước và trên thế giới vẫn có nhu cầu lớn về xe máy, đặc
biệt là ở các nước đang phát triển, cơ sở hạ tầng dành cho ô tô còn yếu kém,
nên phương tiện giao thông chủ yếu vẫn là xe máy. Theo số liệu của Cục Đăng
kiểm Việt Nam, nếu năm 1995 cả nước sản xuất lắp ráp được 62.000 xe, thì
đến năm 2004, sản lượng đã tăng gấp 23 lần. Nhiều doanh nghiệp như Công ty
T&T, Công ty Hoa Lâm, Công ty TNHH Đức Phương, Lisohaka đã xuất khẩu
được xe sang thị trường Đông Ti Mo, ăng Gô La, Đôminica, Nam Phi… còn
các công ty liên doanh chủ yếu xuất khẩu sang các thị trường khu vực châu á.
Riêng Honda Việt Nam một năm xuất khẩu đạt kim ngạch gần 25 triệu USD.
Bình quân số người dân/xe, năm 1990 là 23,8, đến nay đạt gần 7 người/1xe
máy. Thị trường xuất khẩu còn tiềm năng rất lớn, do các nước thuộc thế giới
thứ ba, là bạn hàng với Việt Nam đang có tăng trưởng kinh tế mạnh, đặc biệt là
ở châu á và châu Phi.
Như vậy, cơ hội cho ngành xe máy Việt Nam phát triển trong những năm
tới là rất lớn. Song, cũng chưa thoát khỏi những thách thức lớn trước sự cạnh
tranh và xu thế phát triển công nghệ như vũ bão trên thế giới. Vì vậy, những
vấn đề đặt ra cần được tháo gỡ với ngành công nghiệp xe máy Việt Nam là:
Thứ nhất, thuế suất đối với ngành hàng này phải mềm dẻo và linh hoạt,
phải có chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp mới đi vào sản xuất, chưa có
lợi nhuận cao.
Thứ hai, trong 5 năm tới, ngành xe máy tập trung nguồn lực chế tạo trọn
bộ động cơ thương hiệu Việt Nam. Giải quyết được vấn đề động cơ hiệu suất
cao, thân thiện với môi trường sẽ thuận lợi trong quảng bá sản phẩm ra nước
ngoài.
Thứ ba, phải sớm qui hoạch lại ngành xe máy, định hướng nhiệm vụ
chính cho các cụm công nghiệp, cụm doanh nghiệp chuyên làm các chi tiết với
trình độ cao. Giai đoạn này, doanh nghiệp phải đưa công nghệ tự động hoá vào
các khâu then chốt vì giá nhân công không rẻ không còn là lợi thế nữa. Chỉ có
tự động hoá mới tạo ra năng suất cao và ổn định chất lượng sản phẩm.
Thứ tư, chiến lược đầu tư phát triển toàn ngành xe máy phải hướng tới
xuất khẩu, vì thị trường trong nước sẽ sớm bão hoà và thị trường ô tô sẽ chiếm
chỗ, một số thành phố lớn sẽ hạn chế sử dụng xe máy. Vì vậy, công tác tiếp thị,
nghiên cứu thị trường quốc tế, quảng bá sản phẩm phải đi trước và tiến hành
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
ngay từ bây giờ.
Cuối cùng, việc cổ phần hoá các doanh nghiệp, nhất thể hoá các doanh
nghiệp xe máy theo quy luật thị trường, tiến tới sự hình thành các tập đoàn, hay
tổng công ty có vốn lớn, tập trung được nguồn lực và chất xám để giải quyết
bài toán phát triển ngành công nghiệp xe máy.
Dự báo ở giai đoạn 2005 - 2010, sản lượng xe máy toàn quốc sẽ đạt 17
triệu chiếc/năm, chủ yếu sẽ dành cho xuất khẩu, bình quân 6 người có 1 xe
máy. Để đạt công suất nói trên, việc tăng đầu tư tập trung theo chiều sâu cho
ngành công nghiệp xe máy với mục tiêu nội địa hoá 100% sản phẩm đang là
thách thức rất lớn với ngành công nghiệp xe máy Việt Nam
1.3.Một số khó khăn khi phát triển thị trường xe máy.

1.3.1.Xe máy “made in Việt Nam”
Nếu căn cứ vào giấy phép cấp cho các dự án đầu tư sản xuất,kinh doanh xe
máy đều thể hiện tính nhất quán phát triển đồng thời công nghệ chế tạo và công
nghệ lắp ráp,trong đó,công nghệ chế tạo được đặt lên hàng đầu,nhưng thực tế ở
các dự án,chế tạo đã đặt xuống hàng thứ,thậm chí có dự án,công nghệ chế tạo
không có tên trong danh mục đầu tư! Điều này còn thấy rõ hơn khi thực hiện
chủ trương về nội địa hoá ở thân xe và các chi tiết nhựa,còn động cơ,các phụ
tùng,linh kiện khác nội địa hoá chỉ thực hiện với tỉ lệ rất nhỏ,bởi thế,ngành công
nghiệp xe máy nước ta ra đời và hoạt động đã hàng chục năm mà chúng ta vẫn
chưa có được xe máy “made in Việt Nam” với đúng và đầy đủ ý nghĩa của nó!
Có ý kiến cho rằng vì sức ép bảo đảm trật tự an toàn giao thông ở các
thành phố đã khiến công nghiệp xe máy bị chững lại.Cứ cho là vậy,song một
vấn đề đặt ra : thị trường xe máy ở các thành phố thu hẹp là đúng nhưng còn
nông thôn-một thị trường rộng lớn với trên 50 triệu người tiêu dùng,nhu cầu về
xe máy rất đa dạng,ngành công nghiệp xe máy đâu đã đáp ứng và nó vẫn vẹn
nguyên ở dạng tiềm năng!
Đã có nhiều nghìn tỉ đồng được đầu tư vào ngành này để rồi hàng
năm,hàng trăm tỉ đồng tiền lãi vay đang phải trả cho tình trạng không hoạt
động.Nhiều dây chuyền công nghệ,trang thiết bị kỹ thuật đang dần xuống
cấp,trong đó không ít đang trở thành phế liệu vì khi nhập,chúng vốn đã lạc hậu.
Đời sống của hàng chục nghìn lao động đã tuyển chọn, đào tạo đang đòi việc
làm.Nhiều tài sản hữu hình và vô hình đã xây dựng,mua sắm ,tạo dựng dần trở
thành vô dụng,mai một…Quả là gánh nặng cho các nhà đầu tư đồng thời cũng
đang là sự lãng phí vật chất của xã hội nên không thể coi thường.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Cách đây không lâu, đã có dư luận cho rằng một số Doanh nghiệp xe máy
trong nước vi phạm sở hữu công nghiệp bằng việc lắp ráp xe,nhái kiểu dáng xe
của người khác,dán nhãn mác của mình bán ra thị trường.Dù rằng có thể cảm
thông,chia sẻ với lo toan bươn chải của các Doanh nghiệp nhưng cũng không
nên vì “cái khó bó cái khôn” để rồi cứ “làm bậy”.Thực tế này ngày càng làm
đậm thêm thực trạng đã không mấy sáng sủa của ngành xe máy nước ta, đòi hỏi
phải sớm đưa ra những quyết định đúng đắn và sáng suốt.
Chiến lược phát triển công nghiệp xe máy đến năm 2010 là “sẽ không
thành lập Doanh nghiệp mới.khuyến khích các Doanh nghiệp hiện có liên
doanh,liên kết hình thành những cơ sở sản xuất có quy mô công nghiệp chuyên
môn hoá,hợp tác hoá cao,thành lập các tập đoàn xe máy,tập trung chết tạo động
cơ, đầu tư cho tư vấn thiết kế và chuyển giao công nghệ;xây dựng thương hiệu
xe máy Việt Nam đủ sức cạnh tranh”.

Từ trên 50 Doanh nghiệp,nay còn 20 Doanh nghiệp trụ lại,trừ số 10 Doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì hơn 10 Doanh nghiệp này hầu hết là Doanh
nghiệp tư nhân ra đời theo Luật Khuyến khích đầu tư trong nước,hoạt động theo
Luật Doanh nghiệp dưới hình thức các Công ty trách nhiệm hữu hạn,Công ty cổ
phần có qui mô vừa và nhỏ. Để chiến lược trên trở thành hiện thực có nghĩa là
các Doanh nghiệp phải tiến hành “Cuộc cách mạng đầu tư” tức là công nghệ chế
tạo sẽ là “xương sống “ hoạt động của Doanh nghiệp;mặt khác về công tác quản
lí, điều hành cũng nhiều việc phải bàn,phải làm để xúc tiến hỗ trợ các Doanh
nghiệp thực sự có hiệu quả.

Chiến lược phát triển đến năm 2010 với mục tiêu đáp ứng nhu cầu trong
nước bình quân 1,3 triệu chiếc xe/năm,tỉ lệ nội địa hoá toàn xe trên 90%,động cơ
trên 80% vào năm 2010 xuất khẩu 300 nghìn xe,quả là một viễn cảnh sáng sủa
cho ngành công nghiệp xe máy ở nước ta.Tuy nhiên sự chậm trễ đổi mới từ cả 2
phía,các Doanh nghiệp xe máy cũng như vai trò quản lí điều hành để tạo lập môi
trường đầu tư trong nước nói chung,với công nghiệp xe máy nói riêng thật thông
thoáng,cởi mở và bình đẳng thì xe máy “made in Việt Nam” vẫn là sự mong đợi.
1.3.2.Khó khăn khi đăng ký sở hữu kiểu dáng xe máy.
Vạn sự bất tín…
Như thừa nhận từ không ít Doanh nghiệp,phần lớn xe máy tiêu thụ mạnh
trên thị trường, được người tiêu dùng ưa chuộng đều có kiểu dáng mẫu mã của
xe Nhật Bản. Đây là yếu tố hấp dẫn khiến nhiều nhà sản xuất không phải đầu tư
tốn kém cho thiết kế kiểu dáng mà vẫn có xe đẹp để bán.Và lâu nay,tình trạng xe
máy nhái kiểu dáng các hãng tên tuổi nước ngoài, được tiêu thụ tràn lan trên thị
trường là một thực tế không thể phủ nhận và điều này là nguyên cớ dẫn tới một
số vụ kiện tụng về nhãn hiệu,kiểu dáng xe máy trong thời gian qua.Chính vì
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
vậy,trong nhiều năm qua,các cơ quan quản lý không khỏi e dè khi xem xét cấp
chứng nhận sở hữu kiểu dáng cho Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xe gắn
máy Việt Nam.

Những thực ra, đó chỉ là những “con sâu làm rầu nồi canh”.Nhiều Doanh
nghiệp vẫn cho rằng,nếu bản thân họ sản xuất các mẫu xe được thị trường ưa
chuộng,dễ bán thì vẫn dễ bị nghi ngờ là vi phạm sở hữu kiểu dáng công
nghiệp.Thực tế đã chứng minh rất nhiều mẫu xe đưa đến Cục Sở hữu trí tuệ để
đăng ký kiểu dáng bị từ chối thẳng thừng vì “không khác biệt cơ bản” với mẫu
xe đã được cấp đăng ký,hoặc “có khác biệt cơ bản nhưng lắp ráp từ linh kiện
phổ biến rộn rãi.”.Vậy xe máy của chúng tôi phải thế nào mới có thể được công
nhận là khác biệt cơ bản với những xe máy của hãng khác?”. Đại diện một
Doanh nghiệp đã phải thốt ra đầy bức xúc tại cuộc gặp gỡ Doanh nghiệp lắp
ráp,sản xuất xe máy,do Hiệp hội xe đạp,xe máy Việt Nam(VBMA) tổ chức.Bởi
thực tế,Doanh nghiệp không thể cứ bỏ tiền cho sáng chế rồi lại nhận được cái lắc
đầu từ cơ quan cấp văn bằng bảo hộ!
Tắc vì đâu?
Theo ông Hoàng Văn Tân,Phó Cục trưởng cục Sở hữu trí tuệ,Cục chủ yếu
giám định kiểu dáng xe qua ảnh các phụ tùng nhựa của xe đăng ký vì…Cục
không có kho chứa(?!).Còn máy xe và các phụ tùng khác thì thuộc lĩnh vực sáng
chế.Cũng theo ông Tân,trong số 169 đơn yêu cầu bảo hộ sở hữu kiểu dáng xe
máy(103 Doanh nghiệp nước ngoài,66 Doanh nghiệp trong nước )chỉ có 69 mẫu
được cấp chứng nhận,trong đó thật đáng buồn : Doanh nghiệp trong nước chỉ
bảo hộ được 9 mẫu(khoảng 13%!).Quả thực ,sở hữu kiểu dáng xe máy hiện đang
là lĩnh vực tranh chấp nổi cộm nhất trong tất cả các tranh chấp hàng hoá thương
mại với 55 đề nghị thẩm định kiểu dáng xe từ các cơ quan công an,thanh tra
chuyên ngành,quản lý kinh tế(chiếm 22% tổng số vụ việc yêu cầu thẩm định để
xử lý tranh chấp trong lĩnh vực hàng hoá).
Việc đăng ký khó khăn một phần cũng là do có quá nhiều đầu mối liên
quan đến các vấn đề sở hữu trí tuệ gồm cơ quan công an,thanh tra chuyên
ngành,quản lý thị trường,Sở Khoa học công nghệ,Cục Sở hữu trí tuệ,Toà án…và
có tới trên 50 đơn vị giám định hàng hoá khiến Doanh nghiệp phải cùng lúc gửi
đơn đến nhiều nơi. Ông Tân cho biết thêm: Cục Sở hữu trí tuệ không phải là cơ
quan duy nhất có chức năng giám định và kết luận vi phạm sở hữu công
nghiệp.Tất cả 64 Sở Khoa học công nghệ tại các tỉnh thành đều có quyền giám
định và kết luận nhưng tất cả các nơi đều dồn về Cục Sở hữu trí tuệ.Nhiều vụ
việc,cơ quan quản lý kinh tế trình kết luận của Sở Khoa học công nghệ thì
không được các bên kiện tụng chấp nhận mà lại yêu cầu phải có kết luận của
Cục Sở hữu trí tuệ.Việc cứ dồn về Cục Sở hữu trí tuệ(số lượng đơn năm 2004
tăng hơn năm 2003 37%)nên Cục không thể giải quyết nhanh được. Để giải
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
quyết bức xúc đó,Hiệp hội xe đạp,xe máy Việt Nam đã đưa ra ý tưởng thiết kế
một số kiểu dáng do Hiệp hội đứng tên sở hữu.Các Doanh nghiệp hội viên có
thể sử dụng các thiết kế này vào sản xuất.
Ông Lê Anh Tuấn,Phó Chủ tịch Hiêp hội xe đạp,xe máy Việt Nam cho
rằng : sản phẩm ngày càng đòi hỏi phải có chất lượng,thương hiệu và uy tín với
thị trường.Kiểu làm ăn chộp giật,sản phẩm kém chất lượng sẽ không tồn tại
được.Về ý tưởng đầu tư cho một số kiểu dáng chung của các Doanh nghiệp
trong Hiệp hội xe đạp,xe máy Việt Nam, ông Tuấn cho biết, ý tưởng đã có
những thực hiện thì không dễ. Để tạo ra một kiểu dáng mới là liên quan đến vấn
đề kinh tế.Hiệp hôi đã suy nghĩ đến việc này và đang kêu gọi các Doanh nghiệp
nhưng các Doanh nghiệp chưa có chính kiến rõ ràng.Bởi lẽ,các Doanh nghiệp có
sản xuất ra thì cũng muốn giữ bí mật kinh doanh,vả lại,nếu phải bỏ ra hàng trăm
ngàn USD để có một kiểu dáng mới,chưa thấy lợi đâu mà đã phải chi tiền ra thì
Doanh nghiệp cũng không muốn.Vì vậy,Chính phủ cần phải có giai đoạn quá độ
và toạ điều kiện cho Doanh nghiệp đầu tư thiết kế kiểu dáng xe gắn máy của họ.

2.Hãng xe máy Yamaha.
2.1.Một số nét về Yamaha Việt Nam:
“Lý lịch trích chéo” của hãng :
Tên công ty Công ty Yamaha Motor Việt Nam
Văn phòng chính và nhà
máy
Xã Trung Giã, Huyện Sóc Sơn, Hà Nội
Giấy phép đầu tư Số 2029/GP
Thành lập Ngày 01 tháng 04 năm 1999
Vốn pháp định 24.250.000 USD
• Công ty Yamaha Motor (Nhật Bản) (46%)
• Tổng công ty Lâm nghiệp Việt Nam và nhà máy
cơ khí cờ đỏ (Việt Nam) (30%)
• Công ty công nghiệp Hong Leong Industries
Berhad
(Malaysia) (24%)
Sản phẩm Xe máy
Diện tích 100.000m
2
Diện tích xây dựng 22.000 m
2
Số nhân công 1057 nhân công
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Logo của hãng :

Phương châm của Yamaha:
“ Chúng tôi – Yamaha Motor Viet Nam (YMVN) sẽ bằng mọi nỗ lực để trở
thành một thành viên tích cực của cộng đồng Việt Nam nhanh chóng góp phần
vào sự nghiệp phát triển công nghiệp Việt nam trong lĩnh vực sản xuất xe gắn
máy.
Phương châm của chúng tôi dựa trên cơ sở “hướng vào thị trường và hướng vào
khách hàng”. Phương châm này bắt nguồn từ chính các ý kiến phản hồi của
khách hàng và sẽ chuyển tải tới các Đại lý và các bên có liên quan của Yamaha
Motor Việt Nam.
Với phương châm này, chúng tôi sẽ thỏa mãn bội phần sự mong đợi của khách
hàng về cả chất lượng và các dịch vụ hậu mãi. Nhờ đó, cuối cùng chúng tôi sẽ
tạo được “Kando” – nghĩa là chiếm lĩnh trái tim khách hàng, vốn nằm trong
phương châm toàn cầu của Tập đoàn Yamaha.”
2.2.Các sản phẩm của Yamaha.
Yamaha tuy mới chỉ xuất hiện trên thị trường Việt Nam được hơn 6 năm
nhưng có thể nói,hãng đã có những tiến bộ vượt bậc trong việc đưa sản phẩm
của mình vào thị trường Việt Nam. Điều này thể hiện rất rõ khi ta đi ra ngoài
đường,rất nhiều những xe của Yamaha “chạy đi chạy lại” mà phổ biến là Nouvo
và JupiterV…
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Các sản phẩm của Yamaha đang có mặt trên thị trường:
Bảng giá các loại xe :
Loại xe Giá(VND)
1 Amore 16.000.000
2 Classico 17.000.000
3 JupiterV (vành đúc) 26.200.000
4 JupiterV đĩa 2003 25.200.000
5 JupiterV đùm 2003 24.000.000
6 JupiterV Limited Edition 26.700.000
7 JupiterV RC 2004 26.200.000
8 Nouvo Limited Edition 22.000.000
9 Maximo 18.000.000
1
0
Nouvo 2003-2004 21.000.000
11 Neo Nouvo 24.000.000
12 Neo Nouvo CW 25.000.000
13 Neo Nouvo RC 25.200.000
14 New Maximo 19.000.000
15 SiriusV đĩa 2003 21.500.000
16 SiriusV đùm 2003 20.500.000
2.2.1.Sirius
Đây là loại xe có mặt sớm nhất tại Việt Nam của Yamaha:
Dung tích xi lanh :101.8cc
Độ cao yên xe : 750mm
Dung tích bình xăng: 5 lit
Động cơ : 4 thì,1 xy lanh,SOHC,làm mát tự nhiên bằng không khí
Loại truyền động : Số không tròn,4 số
Màu sắc : Đỏ, Đỏ đô,Lục,Trắng,Xám,Xanh
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Từ khi xâm nhập thị trường Việt Nam cho đến nay thì Yamaha đã cho ra
đời tới 7 kiểu xe Sirius, đó là các loại : Sirius 1999,Sirius 2000,Sirius
2001,Sirius R 2001,Sirius R 2002,SiriusV đĩa 2003,SiriusV đùm 2003.Hiện nay
thì hãng chỉ còn sản xuất 2 đời mới nhất của xe này là SiriusV đĩa 2003 và
SiriusV đùm 2003.
Ưu điểm của xe là khá bắt mắt,màu xe là những màu nổi,giá cả phải
chăng Nhưng loại xe này không được ưa chuộng lắm ở Hà Nội,SiriusV được
bán nhiều ở các tỉnh khác,những nơi có mức sống thấp hơn.
2.2.2.Jupiter
Đây là loại xe ra đời sau Sirius tuy nhiên lại có những bước đột phá hơn
hẳn Sirius :
Xe Jupiter
Dung tích xilanh : 101.8 cc
Độ cao yên xe : 770mm
Dung tích bình xăng : 4.5 lit
Động cơ : 4 thì,1 xy lanh,SOHC,làm mát tự nhiên bằng không khí
Loại truyền động : Số không tròn,4 số
Màu sắc : Đỏ, Đỏ đô,Lục,Xám,Xanh.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét