Chuyªn ®Ò thùc tËp
Tín dụng ngân hàng mang bản chất của quan hệ tín dụng. Đó là quan hệ vay mượn dựa trên
nguyên tắc hoàn trả cả gốc, cả lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng
tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng hai bên cùng có lợi, có nghĩa là trong
quan hệ tín dụng người cho vay chỉ chuyển nhượng quyền sử dụng cho người đi vay, sau
một thời gian nhất định theo thoả thuận người đi vay sẽ hoàn trả lại cho người đi vay, sau
một thời gian nhất định theo thoả thuận người đi vay sẽ hoàn trả lại người cho vay một
khoản tiền nhất định. Sự hoàn trả này không đơn thuần là bảo tồn về mặt giá trị vốn tín
dụng mà còn tăng thêm dưới hình thức lợi tức.
-Tín dụng ra đời, tồn tại và phát triển cùng với nền sản xuất hàng hoá, có thể nói tín dụng ra
đời làm cho quan hệ sản xuất hàng hoá phát triển mạnh phù hợp với thị trường, hay có thể
nói tín dụng là một nhân tố không thể thiếu để phát triển sản xuất hàng hoá.
-Những lượng tiền nhàn rỗi tạm thời được tập trung và đáp ứng nhu cầu vốn, kịp thời phục
vụ cho sản xuất và lưu thông, những lượng tiền nhàn rỗi có thể huy động trong dân hay
nhiều nguồn khác để cho sản xuất và lưu thông được diễn ra liên tục không bị gián đoạn
làm cho sản xuất và lưu thông phát triển làm cho xã Hội ngày càng phát triển về mặt kinh
tế.
-Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, tín dụng ngày càng phát triển cả về nội
dung và hình thức, nội dung của tín dụng rất đa dạng và hình thức thì ngày càng nhiều, nội
dung và hình thức tín dụng phát triển giúp phát triển nền kinh tế hàng hoá nói riêng và nền
kinh tế nói chung.
Vậy tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn giữa một bên là các ngân hàng, các tổ chức
tín dụng với bên kia là các doanh nghiệp và cá nhân khác là một nghiệp vụ tài sản có của
ngân hàng được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả có lãi.
2)Đặc điểm và vai trò của vốn tín dụng NHNN&PTNT đối với phát triển kinh tế Hộ.
2.1) Đặc điểm.
-Trong nền kinh tế hàng hoá, đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình sản xuất kinh
doanh của các đơn vị là không hoàn toàn giống nhau.
-Do nhu cầu về vốn của các đơn vị tập thể, cá nhân khác nhau làm nảy sinh hiện tượng chủ
yếu phổ biến là trong cùng một thời gian có những đơn vị kinh tế phát sinh nhu cầu về vốn
tiền tệ cần được đáp ứng và bổ sung với khối lượng và thời gian nhất định.
-Để đầu tư vốn cho nông nghiệp, nông thôn mang lại hiệu quả kinh tế cao, cần phải hiểu rõ
những đặc điểm của đầu tư vốn. Đặc điểm của vốn đầu tư cho nông nghiệp nông thôn trước
hết biểu hiện ở đặc điểm hoạt động của vốn. Do đặc thù của sản xuất nông nghiệp, vốn, sự
huy động của vốn và sự hoạt động của vốn tín dụng cũng có đặc điểm riêng:
+Nông nghiệp là ngành có nhiều đặc điểm mang tính đặc thù, trong đó tính nặng nhọc,
phức tạp của lao động, tính sinh lời thấp và tính rủi ro cao của sản xuất là những đặc điểm
có tính đặc trưng nhất. Với những đặc điểm này, nông nghiệp là ngành cần lượng vốn đầu
tư lớn, nhưng lượng vốn trong nội bộ ngành ít sức thu hút từ các ngành, lĩnh vực khác của
nền kinh tế quốc dân rất kém. Vì vậy nguồn vốn đầu tư qua ngân sách, nguồn vốn tín dụng
ưu đãi có ý nghĩa hết sức quan trọng.
+Nông nghiệp là ngành sản xuất sinh học, vì vậy ngoài những tư liệu lao động có nguồn
gốc kỹ thuật còn có những tư liệu lao động có nguồn gốc sinh học( cây trồng, vật
nuôi )những tư liệu lao động này, một mặt thay đổi gia strị sử dụng thưo quy luật sinh học,
5
Chuyªn ®Ò thùc tËp
mặt khác chúng không thể có sự khôi phục từng bộ phận như máy móc. Hơn nữa chu kỳ
sản xuất của cây trồng, vật nuôi khá phức tạp. Tuỳ thuộc từng loại mà chu kỳ sản xuất dài
ngắn khác nhau( loại ngắn cũng phải 3 tháng, có loại thời gian kiến thiết cơ bản dài tới 7
năm, chu kỳ kinh tế tới 40 năm như cây cao su) những yêu cầu về vốn theo đặc điểm trên
rất nghiêm ngặt. Vì vậy, chính sách đầu tư và cung cấp vốn phải tuân thủ và phù hợp với
từng loại cây trồng vật nuôi theo những đặc tính sinh học đó.
+Hoạt động sản xuất nông nghiệp, nông thôn lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên. Bởi vì
sự tác động của vốn vào quá trình sản xuất và hiệu quả kinh tế của nó không phải là trực
tiếp mà là gián tiếp thông qua đất, cây trồng, vật nuôi. Để đầu tư vốn có hiệu quả, cơ cấu và
lượng vốn phải phù hợp với yêu cầu của từng loại đất đai, từng đối tượng sinh học.
Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, môi trường sinh thái ngày càng xấu đi, điều kiện tự nhiên
ngày càng khắc nghiệt hơn làm cho tính rủi ro sản xuất ngày càng cao, tổn thất ngày càng
lớn và khó lường trước được. Trong bối cảnh đó vốn đầu tư cho nông nghiệp cần một
lượng rất lớn, nhiều khi đầu tư khó thu hồi (đầu tư cho phòng Hộ), khả năng rủi ro của vốn
rất cao.
+Ngoài ra tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp một mặt làm cho sự tuần hoàn và luân
chuyển vốn chậm chạp, sự cần thiết phải dự trữ đáng kể trong thời gian tương đối dài vốn
lưu động( giống, thức ăn gia súc, phân bón….)làm cho vốn ứ đọng. Mặt khác đã tạo ra sự
cần thiết tập trung hóa cao hơn các phương tiện kỹ thuật cho một lao động nông nghiệp(đặc
biệt ở các nước kinh tế phát triển), vì vậy, yêu cầu vốn cho nông nghiệp, nông thôn thường
phải bổ sung một lượng lớn.
Đối với những nước có nền kinh tế kém phát triển, các Hộ nông dân chủ yếu sống bằng
nông nghiệp như Việt Nam, trong tình trạng thu nhập của từng Hộ và từng người còn thấp
khả năng tích luỹ trong nội bộ nông dân nhỏ, lực nội sinh không đủ giúp họ thoát ra sự
nghèo đói vì thế nông dân( kể cả những Hộ được coi là giàu) đang cần một lượng vốn lớn
để phát triển sản xuất.
Ở nước ta thời gian qua ngân sách nhà nước đã dành một số vốn đáng kể để đầu tư cơ bản
cho nông nghiệp( thuỷ lợi, khai hoang, xây dựng các vùng kinh tế mới, xây dựng cơ sở
quốc doanh, xây dựng các trạm trại kỹ thuật, các cơ sở chăn nuôi thú y…), nếu tính theo
giá 1990, vốn đầu tư cho nong nghiệp bình quân mỗi năm ở giai đoạn 1976-1985 là 732 tỷ
đồng, giai đoạn 1976-1980 là 704 tỷ đồng, giai đoạn 1981-1985 là 732 tỷ đồng, giai
đoạn1986-1990 là 673 tỷ đồng, tuy nhiên, nếu so với yêu cầu, với sự đóng góp của nông
nghiệp nông thôn cho nền kinh tế quốc dân thì mức đầu tư như trên là quá thấp, trên thực tế
những năm đó hàng năm nông nghiệp, nông thôn sáng tạo ra khoảng 50% thu nhập quốc
dân, nhưng tỷ trọng vốn ngân sách đầu tư cho nông nghiệp, kể cả thuỷ lợi năm cao nhất
mới chiếm 21,2% ( thường ở mức 18%) trong khi đó, cơ sở vật chất của nông nghiệp còn ở
trong trình độ thấp, nhất là ở các vùng trung du và miền núi(ở các vùng này, diện tích đất
nông nghiệp được tưới tiêu nước chỉ đạt 26,3% trang bị kỹ thuật đạt 27% yêu cầu).
Đầu tư vốn qua tín dụng cho nông nghiệp, nông dân cũng mới đáp ứng 50%-60% nhu cầu,
hiện nay, đại bộ phận nông dân thiếu vốn sản xuất và có nhu cầu vay vốn,nhưng nguồn vốn
cấp cho ngân hàng nông nghiệp cho vay chủ yếu thoả mãn với các điều kiện của doanh
nghiệp nông nghiệp của nhà nước, nhiều nông dân ( kể cả các trang trại) chưa dám vay
hoặc chưa được nguồn vốn nay, hiện nay có 2 ý kiến tría ngược nhau, phía nông dân cho
6
Chuyªn ®Ò thùc tËp
rằng thủ tục vay còn phiền hà, nông dân khó vay vốn ngân hàng, phía ngân hàng cho rằng
nông dân không tiếp cận và không có nhu cầu vay vốn. Nguồn vốn ưu đãi chủ yếu phục vụ
cho các Hộ nghèo, mức thu hút thấp và việc sử dụng vốn rất kém hiệu quả, số vốn cho vay
dài hạn và trung hạn dành cho nông nghiệp, nông thôn ở mức thấp(5%-6% tổng vốn tín
dụng cho nông nghiệp) và chủ yếu cho các hoạt động phi sản xuất, thực thi các chính sách
ưu đãi như cho vay tôn cao nền nhà ở đồng bằng sông cửu long, xây dựng giao thông nông
nghiệp, nông thôn…Đây là những vấn đề rất bức xúc đòi hỏi chính sách đầu tư vốn phải
xem xét một cách thấu đáo và giải quyết một cách thoả đáng.
+Đa số Hộ vay vốn tín dụng với lượng vốn nhỏ, họ không giám vay khoản lượng vốn lớn
một phần là do phía ngân hàng nông nghiệp không dám cho các Hộ vay lượng vốn lớn do
lo sợ Hộ sẽ trả lãi và gốc chậm không đúng thời gian ảnh hưởng đến lượng vốn của ngân
hàng, một phần do tâm lý e ngại của người dân không dám vay lượng vốn lớn họ chỉ dám
vay lượng vốn nhỏ để sản xuất kinh doanh nhỏ ở nông thôn hay để đầu tư vào sản xuất
nông nghiệp nhưng với lượng vốn nhỏ, nhưng không phải Hộ nào cũng thế có những Hộ
sản xuất kinh doanh nhỏ muốn vay vốn lớn để mở rộng sản xuất kinh doanh, chẳng hạn ở
khu công nghiệp Minh Đức có Hộ làm nghề giấy tiền vay vốn ngân hàng nghiệp với lượng
vốn là 100-200 triệu để đầu tư mở rộng sản xuất .
+Vay vốn của ngân hàng nông nghiệp của các Hộ sử dụng vào nhiều mục đích, có Hộ đầu
tư để gieo trồng chăn nuôi, có Hộ đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhỏ chẳng hạn như: làm
giấy tiền và hàng mã, hay làm đồ gỗ truyền thống,vay vốn ngân hàng không nhất quyết là
phải đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp mà có thể đầu tư vào lĩnh vực phi nông
nghiệp vì vốn của ngân hàng nông nghiệp dùng để phát triển nông thôn làm sao để nông
thôn phát triển theo đúng định hướng của nhà nước, làm cho nông thôn ngày càng phát
triển thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, góp phần nâng cao dân trí hay thu
nhập bình quân đầu người ở Việt Nam ngày càng tăng cao.
+Khả năng sử dụng vốn vay của các Hộ: có Hộ sử dụng vốn vay một cách linh động thời
gian thu hồi vốn ngắn lãi nhanh hoàn trả nợ ngân hàng thậm chí còn trước thời hạn, tuy
nhiên cũng có Hộ sử dụng vốn vay trì trệ, đa số những Hộ sử dụng vốn vay trì trệ dơi vào
các Hộ sản xuất nông nghiệp thuần tuý vì do đặc điểm sản xuất nông nghiệp phụ thuộc
nhiều vào điều kiện tự nhiên, mặt khác là do trình độ sản xuất của các Hộ đó là thấp.
+Tính rủi ro của các Hộ sản xuất nông nghiệp thuần tuý là tương đối cao, thời gian thu hồi
vốn chậm, trong khi đó tính rủi ro của các Hộ sản xuất phi nông nghiệp là thấp hơn vì họ
không phù thuộc vào điều kiện tự nhiên nhiều mà họ chỉ phụ thuộc vào nhu cầu thị trường
vì thế họ sẽ sản xuất sao cho phù hợp với nhu cầu thị trường hay làm thế nào để thu hồi vốn
và có lãi một cách nhanh nhất,tóm lại tính rủi ro trong sản xuất nông nghiệp là rất cao, tính
rủi ro vốn trong sản xuất phi nông nghiệp là rất thấp.
2.2) Vai trò.
Như ta đã biết tín dụng ngân hàng là mối quan hệ giữa ngân hàng và các tổ chức tín dụng
khác với doanh nghiệp và cá nhân. Tín dụng ngân hàng giữ vai trò quan trọng trong sự
nghiệp phát triển kinh tế Hộ, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cách toàn diện.
-Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất đối với Hộ.
-Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất kinh tế Hộ.
7
Chuyªn ®Ò thùc tËp
-Tín dụng ngân hàng là công cụ hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp và các ngành nghề khác ở
nông thôn.
-Tín dụng ngân hàng góp phần đẩy mạnh quá trình đa dạng hoá kinh tế nông nghiệp- nông
thôn.
-Tín dụng ngân hàng hạn chế hiện tượng cho vay nặng lãi ở nông thôn, góp phần quan
trọng đặc biệt vào công cuộc xoá đói giảm nghèo của Đảng và nhà nước.
-Tín dụng ngân hàng kiểm soát bằng đồng tiền và thúc đẩy người nông dân thực hiện hạch
toán kinh tế.
-Tín dụng ngân hàng góp phần xoá đói giảm nghèo đối với Hộ nghèo ở nông thôn hiện nay.
Vốn là điều kiện cần thiết và không thể thiếu được thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh
của mọi ngành trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn vì vậy, việc đầu tư vốn cho nông
nghiệp nông thôn có vai trò hết sức quan trọng, điều đó được biểu hiện:
-Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất vật chất quan trọng và cơ bản của nền
kinh tế quốc dân. Khác với các ngành sản xuất khác, nông nghiệp là ngành sản xuất sinh
học, phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên. Vì vậy, đây là ngành cần lượng vốn lớn,
nhưng lợi nhuận của ngành thấp, tính rủi ro cao. Trong điều kiện sản xuất hàng hoá chi
phối, những người sản xuất sẽ tập trung đầu tư vào những ngành, những lĩnh vực có lợi
nhuận cao, dẫn đến một số ngành đầu tư mang hiệu quả thấp sẽ không được chú ý phát
triển. Nông nghiệp nông thôn là ngành và lĩnh vực rơi vào tình trạng đó, do vậy, nông
nghiệp nông thôn phát triển nhanh hay chậm phụ thuộc rất lớn vào việc đầu tư của nhà
nước, trong đó có đầu tư vốn.
Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn là yếu tố quyết định để phát huy tiềm năng về đất đai,
sức lao động và các nguồn lợi tự nhiên khác nhằm cải biến nông nghiệp, nông thôn từng
bước theo kịp với các ngành, các lĩnh vực khác trong phát triển kinh tế xã Hội.
-Ngoài những vấn đề trên, nông nghiệp, nông thôn còn là ngành, lĩnh vực chứa đựng nhiều
mối quan hệ kinh tế- xã Hội phức tạp. Đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn còn giải quyết
các vấn đề xã Hội nan giải (xóa đói giảm nghèo, bài trừ các hủ tục lạc hậu…), thực hiện
các chính sách xã Hội, một vấn đề hết sức quan tâm ở hầu hết các nước và các tổ chức quốc
tế.
Đối với nước ta, đầu tư cho nông nghiệp nông thôn có vai trò hết sức quan trọng ngoài vấn
đề nêu trên còn do:
-Nông nghiệp nông thôn nước ta có vị trí rất quan trọng. Trong nhiều năm chúng ta chỉ chú
ý đến nông nghiệp, lãng quên địa bàn nông thôn: Vì vậy kinh tế nông thôn nước ta chủ yếu
là thuần nông với cơ sở vật chất nghèo nàn, kết cấu hạ tầng thấp kém, sự cách biệt giữa
nông thôn và thành thị, giữa nông nghiệp với các ngành ngày càng lớn.
-Những năm trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung khi chú ý đầu tư cho nông
nghiệp, chúng ta cũng có những sai lầm trong nội dung và phương thức đầu tư, vì vậy hiệu
quả của vốn đầu tư chưa cao. Những năm gần đây, nhờ có những thay đổi về nội dung và
phương thức đầu tư, nông nghiệp, nông thôn đã đạt được những kết quả đáng khích lệ và
những bước tiến đáng kể, tuy vậy, vẫn ở trình độ phát triển thấp, đời sống nhân dân nông
thôn còn thấp kém( nhất là ở vùng núi) sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn vẫn còn lớn
và có xu hướng tăng.
8
Chuyªn ®Ò thùc tËp
Từ những vấn đề nêu trên, để thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển sản xuất hàng hoá
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, từng bước xoá bỏ sự cách biệt với thành thị và
các ngành khác, vốn đóng vai trò hết sức quan trọng, nông thôn nước ta hiện nay đang thiếu
vốn để sản xuất, để mở rộng ngành nghề và dịch vụ, để xây dựng kết cấu hạ tầng. Cần thiết
phải đầu tư vốn cho nông nghiệp, nông thôn( một địa bàn rất quan trọng) nhằm thực hiện
thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế- xã Hội của đất nước đến năm 2010 như nghị quyết
đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã vạch ra.
3)Chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả của vốn tín dụng NHNN&PTNT cho phát triển
kinh tế Hộ.
Để đánh giá hiệu quả của vốn tín dụng cho phát triển kinh tế Hộ ở đây chúng ta phải đánh
giá kết quả và hiệu quả của đất đai, lao động, tư liệu sản xuất, mặt khác kinh tế Hộ ở đây
bao gồm Hộ sản xuất trồng trọt, chăn nuôi và phi nông nghiệp vì vây ta phải đánh giá tất cả
các vấn đề nêu trên.
*Đánh giá kết quả và hiệu quả của tổ chức sử dụng đất đai.
Hiệu quả kinh tế của tổ chức sử dụng đất đai phản ánh trình độ và hiệu quả sản xuất của
sản xuất nông nghiệp ở mỗi Hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp, đồng thời phản ánh trình
độ tổ chức sử dụng các nguồn lực trong đơn vị. Trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp,
đất đai có vai trò hết sức quan trọng. Vì vậy đánh giá trình độ và hiệu quả kinh tế của tổ
chức sử dụng yếu tố nguồn lực đất đai cũng có vai trò quan trọng, đánh giá kết quả và hiệu
quả tổ chức sử dụng đất đai cho phép phát hiện các hoạt động kinh doanh đất đai không
hợp lý, những khả năng cho phép phát hiện các hoạt động kinh doanh không hợp lý, những
khả năng chưa được khai thác nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai, đây là cơ sở quan
trọng nâng cao hiệu quả kinh tế chung của các Hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
Đánh giá trình độ và hiệu quả kinh tế của tổ chức sử dụng đất đai thông qua hệ thống chỉ
tiêu sau:
-Chỉ tiêu phản ánh trình độ tổ chức sử dụng:
+Diện tích đất canh tác, đất nông nghiệp tính trên một nhân khẩu và một lao động nông
nghiệp, chỉ tiêu này phản ánh trình độ tổ chức sử dụng đất đai theo lao động của Hộ sản
xuất kinh doanh nông nghiệp.
+Tổng quỹ đất nông nghiệp và đất có khả năng nông nghiệp trong Hộ sản xuất kinh doanh
nông nghiệp.
+Hệ số sử dụng ruộng đất, chỉ tiêu này phản ánh việc sử dụng diện tích trồng trọt trên diện
tích canh tác, thể hiện ở việc thực hiện tăng vụ và có khả năng tăng vụ của Hộ sản xuất
kinh doanh nông nghiệp.
+Những chỉ tiêu phản ánh trình độ thâm canh, khai thác chất lượng của đất đai như: hao phí
lao động, mức độ bón phân vô cơ, hữu cơ, mức độ chủ động tưới tiêu nước…
+Ngoài ra, trong phân tích người ta sử dụng các chỉ tiêu phản ánh trình độ sử dụng đất đai
cho mục đích phục vụ sản xuất nông nghiệp như tỷ lệ đất đai sử dụng vào các hoạt động
thuỷ lợi( trong đó có diện tích kênh mương được kiên cố hoá…), giao thông, trồng rừng
phòng Hộ…
-Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế của tổ chức sử dụng đất đai.
9
Chuyªn ®Ò thùc tËp
+Năng suất đất đai: được tính bằng giá trị sản lượng hay sản lượng hàng hoá tính trên cơ sở
đất canh tác, hay đất gieo trồng nông nghiệp. Hiện nay người ta đang có phong trào cánh
đồng 50 triệu/ha/năm để đánh giá hiệu quả sử dụng đất đai.
+Năng suất cây trồng tính cho diện tích trồng từng loại cây trồng.
+Lợi nhuận tính trên cơ sở diện tích đất gieo trồng nông nghiệp hay đất canh tác.
Việc đánh giá kết quả và hiệu quả sử dụng đất đai được tính theo từng năm, từng vụ. Để
đánh giá người ta tính toán các chỉ tiêu xem xét các nhân tố ảnh hưởng và sử dụng các
phương pháp thống kê, phân tích hoạt động kinh tế để đánh giá. Các nhân tố ảnh hưởng đến
trình độ tổ chức và hiệu quả kinh tế của tổ chức sử dụng đất đai trong các Hộ sản xuất kinh
doanh nông nghiệp bao gồm:
+Đặc tính tự nhiên của đất đai: đó là các đặc điểm về thổ nhưỡng, nông hoá và địa hình gắn
liền với các yếu tố về thời tiết khí hậu và thuỷ văn…
+Trình độ thâm canh và việc áp dụng các thành tựu tiến bộ công nghệ vào sản xuất.
+Phương hướng kinh doanh, trình độ bố trí lựa chọn cây trồng.
+Các vấn đề thị trường.
+Các nhân tố mang tính xã Hội, nhân văn của từng vùng.
*Đánh giá kết quả và hiệu quả của tổ chức sử dụng lao động.
Muốn sử dụng lao động hợp lý cần phải thực hiện tốt các biện pháp sau:
-Xác định đúng đắn phương hướng sản xuất kinh doanh.
Phương hướng sản xuất kinh doanh đúng đắn là phương hướng cho phép khai thác đầy đủ
có hiệu quả các nguồn lực sản xuất trong đó đặc biệt là nguồn nhân lực. Để sử dụng hợp lý
nguồn nhân lực phương hướng sản xuất kinh doanh của Hộ sản xuất kinh doanh nông
nghiệp phải theo hướng chuyên môn hoá và phát triển đa dạng nhiều ngành, nếu Hộ sản
xuất kinh doanh nông nghiệp có phương hướng chuyên môn hoá quá cao sẽ tạo ra tính thời
vụ rõ rệt và làm tăng nguy cơ rủi ro cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh, làm giảm
hiệu quả sử dụng các nguồn lực nông nghiệp. Phát triển đa dạng nhiều ngành hợp lý không
những tạo điều kiện sử dụng sức lao động đều đặn, quanh năm mà còn làm cho việc huy
động nguồn lao động được nhiều hơn, đồng thời cho phép sử dụng thời gian lao động trong
năm nhiều hơn.
-Bố trí lao động hợp lý.
Để sử dụng lao động có hiệu quả, điều quan trọng trước hết là phải bố trí lao động hợp lý,
lao động nhiều nhưng bố trí không hợp lý, sai ngành nghề đào tạo, không phù hợp với sức
khoẻ và giới tính, tuổi tác…tức là không theo tiêu chuẩn lựa chọn thì năng suất và hiệu quả
công tác sẽ không cao thậm chí sẽ giảm đi, người lao động không phấn khởi, không yên
tâm, kém nhiệt tình trong quá trình làm việc, vì vậy bố trí lao động trong Hộ sản xuất kinh
doanh nông nghiệp phải tuân theo tiêu chuẩn, theo đặc điểm ngành nghề, theo tính chất sản
phẩm và định mức lao động. Đối với việc bố trí sử dụng cán bộ quản lý nhất là cán bộ lãnh
đạo doanh nghiệp nhà nước, cần tổ chức công tác bầu chọn hoặc lấy phiếu thăm dò cán bộ,
công nhân viên. Một vấn đề cần lưu ý khi xét tiêu chuẩn bố trí cán bộ hay nhân viên cần
tránh tư tưởng chạy theo hình thức, tiêu chuẩn gì cần thiết đối với từng công việc cụ thể thì
đề ra xem xét bố trí, tiêu chuẩn gì không cần thiết thì không đề ra…
-Tổ chức công tác khoán và hợp đồng lao động.
10
Chuyªn ®Ò thùc tËp
Để nâng cao tinh thần trách nhiệm và hiệu quả đối với nhiệm vụ và công việc được giao
cần thực hiện tốt công tác khoán và hợp đồng lao động.
Hiện nay các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp đang thực hiện hai hình thức khoán cơ
bản là khoán công việc cho từng tổ nhóm, người lao động và khoán sản phẩm cuối cùng
cho tổ, nhóm, người lao động và Hộ gia đình.
Tuỳ theo tính chất công việc, sản phẩm, trình độ tổ chức quản lý của cán bộ mà các hình
thức khoán trong Hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp cũng rất khác nhau, tuy nhiên áp
dụng hình thức nào thì vẫn rất cần công tác quản lý, kiểm tra giám sát của các cán bộ quản
lý cơ sở sản xuất kinh doanh, không đề ra tình trạng khoán trắng mà thực chất là buông
lỏng quản lý.
Đối với hợp đồng lao động hiện nay của các cơ sở sản xuất kinh doanh cũng cần vận dụng
nhiều hình thức hợp đồng lao động, tuy nhiên xu hướng chung đều dài hạn và tăng loại
hình hợp đồng thời hạn.
-Tăng cường công tác quản lý nâng cao ý thức trách nhiệm và kỷ luật lao động.
Hiện nay rất nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp, công tác quản lý lao động chưa
tốt, nhất là ở các doanh nghiệp nhà nước vì vậy tình trạng người lao động chưa có ý thức
trách nhiệm và kỷ luật lao động chưa cao, hiện tượng làm việc tuỳ tiện, vô nguyên tắc
không phải là hiện tượng cá biệt. Tất cả những vấn đề nêu trên tất yếu dẫn đến sự lãng phí
về thời gian làm việc, tài sản, tiền của xã Hội và của các cơ sở sản xuất kinh doanh. Vì vậy
tăng cường công tác quản lý nâng cao ý thức trách nhiệm và kỷ luật lao động là một biện
pháp quan trọng nhằm sử dụng đầy đủ hợp lý lao động. Để tăng cường công tác quản lý và
kỷ luật lao động phải xác định rõ chức năng nhiệm vụ trong từng bộ phận, nhiệm vụ từng
cá nhân. việc bố trí và sử dụng cán bộ, người lao động phải đúng khả năng, tiêu chuẩn và
định mức lao động đề r, phải tăng cưòng công tác kiểm tra và cương quyết xử lý các trường
hợp vi phạm, đặc biệt là đối với cấp lãnh đạo, lãnh đạo cấp cao xử lý càng nặng, nếu cùng
một hành vi viphạm khuyết điểm. Kỷ luật phải gắn liền với khen thưởng, hoàn thành tốt
nhiệm vụ phải được thưởng( kể cả thưởng vật chất và tinh thần) tăng cường công tác giáo
dục chính trị, tư tưởng nhất là giáo dục về truyền thống.
Ngòai những biện pháp nêu trên còn có những biện pháp khác như:
-Lựa chọn đúng hình thức tổ chức lao động.
-Tổ chức hợp lý quá trình lao động sản xuất.
-Thực hiện tốt chế độ trả công lao động hợp lý.
-Xây dựng và thực hiện định mức lao động.
-Đào tạo và đánh giá cán bộ và người lao động.
*Đánh giá kết quả và hiệu quả của tổ chức sử dụng tư liệu sản xúât.
-Đánh giá kết quả và hiệu quả của tổ chức sử dụng tài sản cố định.
Để đánh giá hiệu quả của việc tổ chức sử dụng tài sản cố định, có thể dùng các loại chỉ tiêu
sau:
Chỉ tiêu trực tiếp
+Năng suất máy tính theo công thức.
N=K/T
Trong đó N- là năng suất máy tính trên một đơn vị thời gian.
K- là khối lượng công việc của máy làm trong một năm.
11
Chuyªn ®Ò thùc tËp
T-là số thời gian hao phí máy trong một năm.
-Hao phí thời gian để hoàn thành một đơn vị công việc bằng máy tính theo công thức:
t=T/K
Trong đó: t- là hao phí thời gian để hoàn thành đơn vị công việc.
+Giá thành một đơn vị công việc theo công thức:
G=C/K
Trong đó:G- là giá thành đơn vị công việc.
C- là chi phí sản xuất khi tiến hành công việc.
Chỉ tiêu gián tiếp.
+Số lao động và sức kéo được giải phóng do áp dụng máy móc và công cụ cải tiến.
+Mức tăng năng suất cây trồng và sản phẩm gia súc.
+Mức tăng sản lượng, sản lượng hàng hoá.
+Mức hạ giá thành nông sản phẩm.
+Mức tăng năng suất lao động tích luỹ.
+Mức tăng thu nhập và đời sống của người lao động…
Chú ý những chỉ tiêu trên đây là những chỉ tiêu gián tiếp và các chỉ tiêu này do rất nhiều
nguyên nhân tác động vào, không chỉ do việc tổ chức và sử dụng tài sản cố định.
-Đánh giá hiệu quả tổ chức sử dụng tài sản lưu động.
Đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản lưu động thường được xem xét trên hai mặt:
+Mức độ đầu tư tài sản bằng hiện vật và bằng giá trị trên 1 ha gieo trồng như; phân bón, hạt
giống, thuốc trừ sâu, xăng dầu, mỡ…
+Kết quả sản xuất do đầu tư sử dụng tài sản lưu động mang lại( sự gia tăng của năng suất,
sản lượng trồng trọt, chăn nuôi, chế biến…)
*Đánh giá kết qủa và hiệu quả của tổ chức sản xuất kinh doanh trồng trọt.
Đánh giá kết quả và hiệu quả của sản xuất kinh doanh trồng trọt bao gồm đánh giá hiệu quả
kinh tế của từng loại cây trồng và hiệu quả kinh tế trồng trọt nói chung của cơ sở sản xuất
kinh doanh.
Các chỉ tiêu thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả kinh tế của một loại cây trồng gồm:
Giá trị sản lượng, giá trị sản lượng hàng hoá tính trên một đơn vị diện tích trồng trọt.
-Giá thành đơn vị sản phẩm.
-Năng suất lao động( tính bằng hiện vật và giá trị)
-Lợi nhuận tính trên một đơn vị sản phẩm, một đơn vị diện tích trồng trọt, một người lao
động, một đồng chi phí.
để đánh giá kết quả và hiệu quả của kinh tế trồng trọt nói chung của cơ sở sản xuất kinh
doanh các chỉ tiêu chính thường được sử dụng là:
-Gía trị sản lượng, giá trị sản lượng hàng hoá ngành trồng trọt trên một đơn vị diện tích
trồng trọt, một người lao động, một đồng chi phí.
-Lợi nhuận ngành trồng trọt tính trên một đơn vị diện tích trồng trọt, một người lao động,
một đồng chi phí.
Khi đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất kinh doanh trồng trọt để việc đánh giá có cơ sở
khoa học cần chú ý vấn đề sau:
-Sử dụng số liệu và kết quả sản xuất trồng trọt nhiều năm của cơ sở sản xuất kinh doanh.
12
Chuyªn ®Ò thùc tËp
Phân tích các chỉ tiêu phải gắn liền với việc xem xét điều kiện ruộng đất( tốt, xấu…)điều
kiện khí hậu thời tiết, ảnh hưởng của thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường vật tư sản
xuất ảnh hưởng của các chính sách kinh tế…tới kết quả sản xuất.
*Đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế của kinh doanh chăn nuôi.
Đánh giá hiệu qủa kinh tế của kinh doanh chăn nuôi là công việc cần thiết để thấy rõ hiện
trạng công tác tổ chức kinh doanh chăn nuôi, tìm ra những khâu, những hoạt động chưa
hợp lý trong quá trình kinh doanh, để có những biện pháp khắc phục nâng cao hiệu quả
kinh doanh chăn nuôi.
Đánh giá hiệu quả kinh tế của kinh doanh bao gồm đánh giá từng sản phẩm chăn nuôi và
hiệu quả kinh tế chăn nuôi chung của các Hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp. trong đánh
giá hiệu quả kinh tế của kinh doanh chăn nuôi theo từng sản phẩm cần đi sâu đánh giá từng
giai đoạn chăn nuôi( theo từng nhóm vật nuôi) và theo từng loại yếu tố sử dụng vào quá
trình chăn nuôi.
Các chỉ tiêu chung đánh giá hiệu quả kinh tế của kinh doanh chăn nuôi:
-Gía trị sản phẩm chăn nuôi tính trên 1 cơ sở diện tích đất đai dành cho chăn nuôi.
-Gía trị sản phẩm chăn nuôi tính cho 1 lao động, 1 ngày công, 1 đồng chi phí chăn nuôi.
-Lợi nhuận từ hoạt động chăn nuôi nói chung tính cho 1 lao động, 1 ngày công, 1 đơn vị chi
phí chăn nuôi.
Đánh giá hiệu quả kinh tế cho một sản phẩm chăn nuôi cụ thể tính thêm các chỉ tiêu sau:
-Năng suất vật nuôi thể hiện ở trọng lượng tăng thêm trên 1 tuần, 1 tháng, 1 năm tuỳ theo
loại vật nuôi, hoặc trọng lượng tăng thêm trên 1 cơ sở thức ăn.
-Gía thành sản phẩm chăn nuôi.
*Đánh giá kết qủa và hiệu quả của tổ chức các hoạt động phi nông nghiệp trong các Hộ sản
xuất kinh doanh nông nghiệp.
-Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế của tổ chức kinh doanh các hoạt động phi nông
nghiệp trong các Hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
Muốn đánh giá đầy đủ toàn diện và chính xác hiệu quả kinh tế của các hoạt động phi nông
nghiệp trong các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp cần phải đánh giá hiệu quả kinh tế
của từng hoạt động, từng loại dịch vụ và của toàn thể các hoạt động.
việc đánh giá thông qua hệ thống các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế, nhưng khi tính toán và
phân tích các chỉ tiêu cần lưu ý:
+Việc tính toán các yếu tố chi phí: nhiều yếu tố đầu vào của các hoạt động phi nông nghiệp
trong các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp là các sản phẩm( bao gồm cả săn phẩm
chính và các sản phẩm phụ) của hoạt động phi nông nghiệp. việc xác định giá cả yếu tố đầu
vào cần tuân theo các yêu cầu tính toán theo quy định hạch toán kê toán trong nông nghiệp.
+Khi phân tích các chỉ tiêu cần xem xét mối tương quan giữa kết quả và chi phí và mục
đích tổ chức các hoạt động phi nông nghiệp trong các cơ sở sản xuất kinh doanh nông
nghiệp. Làm rõ sự tác động của các hoạt động phi nông nghiệp đến sự phát triển của các
hoạt động nông nghiệp, mức độ tận dụng các nguồn lực của các cơ sở sản xuất kinh doanh
nông nghiệp do sự tác động của các hoạt động phi nông nghiệp.
+Việc phân tích cũng phải tiến hành qua nhiều năm để thấy rõ xu hướng phát triển, sự tác
động của các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của các hoạt động phi nông nghiệp
13
Chuyªn ®Ò thùc tËp
trong cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp, cần so sánh các chỉ tiêu của cơ sở sản xuất
kinh doanh này với các cơ sở sản xuất kinh doanh khác để có kết luận khách quan.
-Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của việc tổ chức các hoạt động phi nông
nghiệp trong các Hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp.
+Gía trị sản lượng và giá trị sản lượng hàng hoá tính trên 1 lao động, 1 đồng vốn, 1 đồng
chi phí sản xuất của hoạt động hay nhóm hoạt động phi nông nghiệp. Việc tính toán giá trị
sản lượng các hoạt động sản xuất có phần đơn giản hơn(được quy định theo các nguyên tắc
của thống kê kinh tế). Tuy nhiên, hiện nay người ta dùng chỉ tiêu giá trị sản xuất ( giá trị
sản phẩm chính, sản phẩm phụ và sản phẩm dở dang), giá trị sản lượng hàng hoá ( giá trị
sản xuất trừ đi giá trị sản phẩm dở dang), giá trị sản lượng hàng hoá thực tế ( giá trị của
những hàng hoá thực tế bán ra). Vì vậy khi tính toán ta có thể sử dụng 2 chỉ tiêu: Gía trị
sản xuất và giá trị sản phẩm hàng hoá thực tế để tính toán các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế.
Đối với các hoạt động dịch vụ: việc tính toán giá trị sản lượng, giá trị sản lượng hàng hoá
có phức tạp hơn và được quy định cho từng loại hoạt động. Đối với hoạt động xây dựng, có
2 phương pháp tính( theo yếu tố và theo mức độ hoàn thành) Đối với hoạt động thương mại
tính bằng số chênh lệch giữa doanh số bán ra trong kỳ với trị giá vốn hàng bán ra và phí
vận tải thuê ngoài. Với hoạt động du lịch, giá trị sản xuất bằng các doanh thu phục vụ. Với
hoạt động vận tải, giá trị sản xuất bằng doanh thu vận chuyển hoặc dịch vụ vận chuyển.
Các chỉ tiêu giá trị sản lượng và giá trị sản lượng hàng hoá tính trên 1 lao động, 1 đồng vốn,
1 đồng chi phí sản xuất của một hoạt động hay nhóm hoạt động phi nông nghiệp thể hiện
mối tương quan giữa kết quả sản xuất với một yếu tố hay một nhóm yếu tố đầu vào. Vì
vậy, tuỳ theo chỉ tiêu mức độ phản ánh hiệu quả có khác nhau. Tuy nhiên, giữa chúng có
điểm chung là giá trị của các chỉ tiêu trên càng lớn, hiệu quả kinh tế càng cao.
+Lợi nhuận và lợi nhuận tính trên 1 lao động, 1 đồng vốn, 1 đồng chi phí cho 1 hoạt động
hay 1 nhóm hoạt động theo quy định của kế toán và thống kê. Về nguyên tắc nó được tính
bằng giá trị sản xuất trừ đi chi phí cho các hoạt động sản xuất hay dịch vụ đó. Lợi nhuận và
tỷ suất lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh bản chất hiệu quả kinh tế nói chung, hiệu quả kinh tế
của các hoạt động phi nông nghiệp trong cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp. Về tiêu
chuẩn đánh giá: lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận càng lớn, hoạt động của các hoạt động phi
nông nghiệp có hiệu quả càng cao.
+ Gía thành cơ sở sản phẩm hay dịch vụ của các hoạt động phi nông nghiệp. Đây cũng là
chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế, nhưng phản ánh mối tương quan ngược( chi phí và kết
quả). Vì vậy giá thành sản phẩm và dịch vụ càng thấp thì hiệu quả kinh tế của các hoạt
động phi nông nghiệp càng cao.
III)Nội dung tín dụng của NHNN&PTNT cho phát triển kinh tế Hộ.
1)Huy động vốn( các nguồn )
NHNN&PTNT huy động vốn bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ, vàng và các công cụ khác
theo quy định của pháp luật dưới các hình thức sau:
*Vốn điều lệ: là vốn được cấp lúc mới thành lập.
*Vốn huy động: là nguồn vốn ngân hàng phục vụ Hộ huy động các tổ chức cá nhân ở trong
và ngoài nước.
-Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn của một tầng lớp dân cư trong và ngoài nước.
-Tiền gửi của các tổ chức kinh tế- xã Hội.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét