Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, bước ngoặt quyết định của cách mạng Việt Nam

1. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, bước ngoặt quyết định của
cách mạng Việt Nam.
Tháng 3-1935 Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng đã họp tại một địa
điểm ở phố Quan Công, Ma Cao (Trung Quốc). Trên cơ sở đánh giá tình
hình thế giới và trong nước, Đại hội đề ra 3 nhiệm vụ chủ yếu của toàn Đảng
trong thời gian trước mắt là: Củng cố và phát triển Đảng; tranh thủ quần
chúng rộng rãi; chống chiến tranh đế quốc. Đại hội đã thông qua Nghị quyết
chính trị và Điều lệ Đảng; thông qua các nghị quyết về vận động công nhân,
nông dân, thanh niên, phụ nữ, binh lính và các nghị quyết về công tác liên
minh phản đế, công tác trong các dân tộc thiểu số, về đội tự vệ và cứu tế đỏ.
Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng có ý nghĩa lịch sử quan trọng; Đại
hội đã đánh dấu sự khôi phục được hệ thống tổ chức của Đảng từ Trung
ương đến địa phương, từ trong nước ra ngoài nước, thống nhất phong trào
đấu tranh cách mạng của công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân khác
dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Sau Đại hội đại biểu lần thứ nhất, nhiều đồng chí Trung ương bị bắt; công
tác của Ban Chấp hành Trung ương do Ban chỉ huy ở nước ngoài đảm
nhiệm.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng Cộng sản Đông Dương
họp từ ngày 11 đến ngày 19 tháng 2 năm 1951, tại xã vinh quang, huyện
Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang.
Đại hội đã thông qua nghị quyết khẳng định: Đường lối đoàn kết toàn dân,
kháng chiến trường kỳ giành độc lập, dân chủ là hoàn toàn đúng đắn. Trong
điều kiện lịch sử mới, Đại hội chủ trương xây dựng ở mỗi nước Việt Nam,
Lào, Cămpuchia, một Đảng cách mạng thích hợp với hoàn cảnh cụ thể, để
lãnh đạo cuộc kháng chiến từng nước đến thắng lợi hoàn toàn. Ở Việt Nam,
Đại hội quyết định xây dựng Đảng Lao động Việt Nam. Kế thừa truyền
thống của Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng Lao động Việt Nam đảm
nhận sứ mệnh lịch sử trọng đại vừa tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến của
nhân dân ta, vừa có nghĩa vụ giúp đỡ các Đảng cách mạng ở Lào và
Cămpuchia đấu tranh thắng lợi.
Trên cơ sở tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn hơn 20 năm lãnh đạo cách
mạng nước ta, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của phong
trào cách mạng thế giới, Báo cáo Bàn về cách mạng Việt Nam của đồng chí
Trường Chinh đã phân tích rõ tính chất, những mâu thuẫn trong xã hội Việt
Nam và chỉ rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam là tiêu diệt bọn đế
1
quốc xâm lược, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất,
xóa bỏ hình thức bóc lột phong kiến, làm cho người cày có ruộng, tiến lên
chủ nghĩa xã hội. Báo cáo xác định lực lượng cách mạng Việt Nam gồm giai
cấp công nhân, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản và giai cấp tư sản dân
tộc. Động lực của cách mạng Việt Nam bao gồm giai cấp công nhân, giai
cấp nông dân và giai cấp tư sản, chủ yếu là công nhân và nông dân. Lực
lượng lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân. Báo cáo Bàn vè cách mạng
Việt Nam là một văn kiện lịch sử rất quan trọng, đã bổ sung hoàn chỉnh và
phát triển lý luận của Đảng ta về cách mạng dân tộc, dân chủ do giai cấp
công nhân lãnh đạo, tiến hành trong điều kiện một nước thuộc địa, nửa
phong kiến.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng đánh dấu một mốc quan trọng
trong quá trình lãnh đạo và trưởng thành của Đảng ta. Đường lối do Đại hội
đề ra đã đáp ứng yêu cầu trước mắt của kháng chiến và yêu cầu lâu dài của
cách mạng và thực sự là những đóng góp quý báu vào kho tàng lý luận cách
mạng nước ta.
Đại hội lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 5-9-1960 đến
ngày 10-9-1960. Đồng chí Hồ Chí Minh Chủ tịch Đảng đã khái quát nhiệm
vụ mới của cách mạng Việt Nam và chỉ rõ “Đại hội lần này là Đại hội xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hoà bình thống nhất nước
nhà”. Báo cáo Chính trị nêu rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là
giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực
hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, góp phần xây dựng một nước
Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giầu mạnh. Vì vậy
nhiệm vụ trước mắt của cách mạng miền Nam là đoàn kết toàn dân, kiên
quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn
thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính
quyền liên hợp dân tộc dân chủ ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, các
quyền tự do dân chủ và cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững hoà bình, thực
hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần
bảo vệ hoà bình ở Đông-Nam-Á và trên thế giới. Báo cáo nhấn mạnh tính
chất lâu dài, gian khổ và phức tạp của cách mạng miền Nam và quá trình
giành thắng lợi của cách mạng miền Nam là quá trình phát triển từ thấp đến
cao, kết hợp nhiều hình thức đấu tranh, lấy việc xây dựng, củng cố, phát
triển lực lượng cách mạng của quần chúng làm cơ sở.
Báo cáo Chính trị đã phân tích một cách sâu sắc về đường lối cách mạng xã
hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền
Bắc trước hết phải biến miền Bắc thành căn cứ vững chắc cho cách mạng cả
nước, giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà. Báo cáo chính trị chỉ rõ
nội dung cơ bản của công cuộc cải tạo xã hội chủ và xây dựng chủ nghĩa xã
2
hội của miền Bắc, đó là một quá trình cải biến cách mạng về mọi mặt nhằm
đưa miền Bắc từ nền kinh tế chủ yếu dựa trên sở hữu cá thể về tư liệu sản
xuất tiến lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên sở hữu toàn dân và sở hữu
tập thể, từ chế độ sản xuất nhỏ tiến lên chế độ sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Đường lối chung của cách mạng miền Bắc trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ
nghĩa xã hội là: Đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước nồng nàn và
truyền thống phấn đấu anh dũng, lao động cần cù của nhân dân ta, đồng thời
tăng cường đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa anh em, để đưa miền Bắc
tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời
sống ấm no, hạnh phúc, củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc
đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà, góp phần tăng cường phe
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới.
Tiếp theo Báo cáo Chính trị, đồng chí Lê Đức Thọ đọc báo cáo về việc sửa
đổi Điều lệ Đảng. Báo cáo chỉ rõ trước tình hình mới, yêu cầu cơ bản của
việc xây dựng Đảng là phải ra sức củng cố Đảng về mặt tư tưởng và tổ chức,
phải giữ vững và nâng cao hơn nữa tính chất giai cấp và tính chất tiên phong
của Đảng để nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng, bảo
đảm cho Đảng có khả năng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo quản lý kimh tế và
văn hoá, xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và làm tròn nghĩa
vụ lãnh đạo cuộc đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.
Trong diễn văn bế mạc Đại hội của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người khẳng
định: Đại hội lần thứ hai đã đưa kháng chiến đến thắng lợi. Chắc chắn rằng
Đại hội lần thứ III này sẽ là nguồn ánh sáng mới, lực lượng mới cho toàn
Đảng và toàn dân ta xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu
tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà.
Đại hội lần thứ IV của Đảng là Đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải
phóng dân tộc; là Đại hội tổng kết những bài học lớn của cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước, là Đại hội thống nhất Tổ quốc đưa cả nước tiến lên con
đường xã hội chủ nghĩa. Đại hội họp từ ngày 14 đến 20-12-1976 tại Hà Nội.
Báo cáo Chính trị đã tổng kết quá trình đấu tranh anh dũng, bền bỉ, liên
tục và thắng lợi vẻ vang của quân và dân ta chống lại cuộc chiến tranh xâm
lược lớn nhất và vô cùng ác liệt của đế quốc Mỹ để giải phóng miền Nam
thống nhất nước nhà. Báo cáo cũng chỉ rõ những nguyên nhân đưa đến thắng
lợi và những bài học có giá trị để lại cho Đảng và nhân dân ta.
Trên cơ sở phân tích mọi mặt tình hình của đất nước khi bước vào sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội; Đại hội xác định đường lối chung của cách mạng
xã hội chủ nghĩa là: Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm
chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng :
Cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư
3
tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học-kỹ thuật là then chốt; đẩy
mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ
nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá
mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; xoá bỏ chế độ người bóc lột
người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu; không ngừng đề cao cảnh giác, thường
xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã
hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất
và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế
giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở
đường lối chung, Báo cáo vạch rõ đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa; phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm
1976-1980. Đại hội cũng đã nêu ra những nhiệm vụ cụ thể về kinh tế, xã hội,
an ninh, quốc phòng và công tác xây dựng Đảng. Đại hội quyết định đổi tên
đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam và thông qua Điều lệ mới của Đảng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng họp từ ngày 27 đến ngày
31-3-1982 tại Thủ đô Hà Nội. Báo cáo khẳng định: Thành công rực rỡ của
Đảng ta và nhân dân ta là đã nhanh chóng thống nhất nước nhà về mặt nhà
nước, thiết lập hệ thống chuyên chính vô sản trong cả nước và thực hiện
nhiều chính sách thúc đẩy quá trình thống nhất về mọi mặt, tạo nên cuộc
sống hòa hợp dân tộc, chan hòa từ Bắc đến Nam. Thắng lợi của hai cuộc
chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là thắng lợi có ý nghĩa lịch sử hết sức to lớn. Báo
cáo nêu bật những thành tựu trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa; đồng thời
xác định rõ hai nhiệm vụ chiến lược là: Xây dựng thành công chủ nghĩa xã
hội; sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đại
hội khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa và
đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa do Đại hội lần thứ IV của
Đảng vạch ra.
Báo cáo về công tác xây dựng Đảng đã nhấn mạnh công tác xây dựng Đảng
có vị trí đặc biệt quan trọng và chỉ rõ nhiệm vụ then chốt của công tác xây
dựng Đảng hiện nay là tiếp tục nâng cao tính giai cấp công nhân, tính tiên
phong của Đảng, xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ
chức nhằm bảo đảm thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng, nâng cao năng
lực lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo
vệ Tổ quốc, làm cho Đảng ta luôn luôn giữ vững bản chất cách mạng và
khoa học, một Đảng thật sự trong sạch, có sức chiến đấu cao, gắn bó chặt
với quần chúng.
Đại hội đại biểu lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam họp tại Thủ đô
Hà Nội từ ngày 15 đến ngày 18-12-1986.
Trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội nhận định năm
4
năm qua là một chặng đường đầy thử thách đối với Đảng và nhân dân ta.
Chúng ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm an ninh chính trị
và thực hiện nghĩa vụ quốc tế đã giành được những thắng lợi to lớn. Khẳng
định những thành tựu, đồng thời Đại hội cũng chỉ rõ tình hình kinh tế - xã
hội nước ta đang có nhiều khó khăn, chúng ta chưa thực hiện được mục tiêu
do Đại hội lần thứ V đề ra là về cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn
định đời sống của nhân dân.
Đại hội lần thứ VI của Đảng nhấn mạnh: Để khắc phục được khuyết điểm,
chuyển biến được tình hình, Đảng ta trước hết phải thay đổi nhận thức, đổi
mới tư duy. Phải nhận thức đúng đắn và hành động phù hợp với hệ thống
quy luật khách quan. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình, Đại hội đề ra
đường lối đổi mới. Trước hết là đổi mới cơ cấu kinh tế. Xây dựng và củng
cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành
phần kinh tế. Đổi mới cơ ché quản lý kinh tế, thực hiện các chính sách xã
hội. Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, nâng cao hiệu
quả quản lý của Nhà nước. Nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng.
Đổi mới đội ngũ cán bộ, kiện toàn các cơ quan lãnh đạo và quản lý. Đổi mới
phong cách làm việc, giữ vững các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt trong
Đảng. Nâng cao chất lượng đảng viên, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu
cực và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng.
Đại hội lần thứ VI của Đảng đã hoạch định đường lối đổi mới toàn diện, sâu
sắc và triệt để. Đó là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng và toàn dân, thể hiện
tinh thần trách nhiệm cao của Đảng trước đất nước và dân tộc. Đường lối do
Đại hội VI đề ra thể hiện sự phát triển tư duy lý luận, khả năng tổng kết và tổ
chức thực tiễn của Đảng mở ra thời kỳ mới của sự nghiệp cách mạng nước ta
trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng họp tại Thủ đô Hà
Nội từ ngày 24 đến ngày 27-6-1991 Báo cáo đánh giá việc thực hiện đổi
mới hơn 4 năm trên các lĩnh vực đời sống xã hội, đề ra phương hướng nhiệm
vụ chủ yếu trong 5 năm (1991-1995). Công cuộc đổi mới đã đạt được những
thành tựu bước đầu: Tình hình chính trị của đất nước ổn định. Nền kinh tế có
những bước phát triển đã đạt được những tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện
các mục tiêu của 3 chương trình kinh tế, bước đầu hình thành nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước, huy động được nguồn lực sản xuất của xã hội, tốc độ lạm
phát được kiềm chế, đời sống của một bộ phận nhân dân được cải thiện.
Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
5
chủ nghĩa xã hội; Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội đến năm
2000; Báo cáo xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng.
Đại hội lần thứ VII là Đại hội của trí tuệ - đổi mới, dân chủ - kỷ cương -
đoàn kết.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra
từ ngày 28-6 đến ngày 1-7-1996 tại Thủ đô Hà Nội.
Báo cáo Chính trị đã khẳng định những thành tựu quan trọng đã đạt được:
Đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế, hoàn thành vượt mức nhiều mục tiêu
chủ yếu của kế hoạch 5 năm. Tạo được một số chuyển biến tích cực về mặt
xã hội. Giữ vững ổn định chính trị, củng cố quốc phòng, an ninh. Thực hiện
có kết quả một số đổi mới quan trọng về hệ thống chính trị. Phát triển mạnh
mẽ quan hệ đối ngoại, phá thế bao vây cấm vận, tham gia tích cực vào đời
sống cộng đồng quốc tế.
Đảng cũng chỉ rõ những khuyết điểm, yếu kém: Nước ta còn nghèo và kém
phát triển. Chúng ta chưa thực hiện tôt cần kiệm trong sản xuất, tiết kiệm
trong tiêu dùng, dồn vốn cho đầu tư phát triển. Tình hình xã hội còn nhiều
vấn đề tiêu cực. Nạn tham nhũng, buôn lậu, lãng phí của công chưa ngăn
chặn được. Tiêu cực trong bộ máy nhà nước, đảng và đoàn thể, trong các
doanh nghiệp nhà nước…nghiêm trọng kéo dài. Việc lãnh đạo xây dựng
quan hệ sản xuất mới có phần vừa lúng túng vừa buông lỏng. Chậm tháo gỡ
những vướng mắc về cơ chế, chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho
doanh nghiệp nhà nước nâng cao hiệu quả hoạt động phát huy vai trò chủ
đạo trong nền kinh tế quốc dân. Quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội còn yếu.
Hệ thống chính trị còn nhiều nhược điểm. Năng lực và hiệu quả lãnh đạo của
Đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của nhà nước, hiệu quả hoạt động của các
đoàn thể chính trị, xã hội chưa nâng lên kịp với đòi hỏi của tình hình.
Trên cơ sở phân tích những đặc điểm nổi bật của tình hình thế giới và
trong nước, Đại hội định ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2000 và 2020 của sự
nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là: Tiếp tục nắm
vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc,
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mục tiêu của công nghiệp hóa,
hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật
chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao,
quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh.
Về công tác xây dựng Đảng, Báo cáo Chính trị khẳng định, toàn bộ thành
tựu và khuyết điểm của công cuộc đổi mới gắn liền với trách nhiệm lãnh đạo
và hoạt động của Đảng. Sự lãnh đạo và hoạt động của Đảng là một nhân tố
quyết định tạo ra những thành tựu đổi mới. Thắng lợi của công cuộc đổi mới
6
chứng tỏ Đảng ta tiếp tục giữ vững và phát huy được bản lĩnh và kinh
nghiệm của các thời kỳ trước, lãnh đạo có kết quả công cuộc xây dựng và
bảo vệ đất nước trong tình hình hết sức phức tạp.
Đại hội lần thứ IX của Đảng là “Đại hội của trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi
mới” họp tại Hà Nội từ ngày 19 đến 22-4-2001, Đánh giá kết quả thực hiện
kế hoạch 5 năm 1996-2000, Báo cáo Chính trị khẳng định 5 nhóm thành tựu
quan trọng: Kinh tế tăng trưởng khá; văn hóa - xã hội có những tiến bộ; đời
sống nhân dân tiếp tục được cải thiện; tình hình chính trị, xã hội cơ bản ổn
định; quốc phòng và an ninh được tăng cường; công tác xây dựng Đảng
được chú trọng; hệ thống chính trị được củng cố; quan hệ đối ngoại không
ngừng được mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế được tiến hành chủ động và
đạt nhiều kết quả. Bên cạnh những thành tựu, Đại hội cũng chỉ rõ những
khuyết điểm, yếu kém: Nền kinh tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và
sức cạnh tranh thấp; một số vấn đề văn hóa, xã hội bức xúc và gay gắt chậm
được giải quyết; cơ chế chính sách không đồng bộ và chưa tạo động lực
mạnh để phát triển; tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị,
đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm
trọng.
Đại hội xác định mô hình kinh tế tổng quát của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam là phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa; đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đại hội xác định động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn
dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng
lãnh đạo.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ
ngày 18-4 đến ngày 25-4-2006 tại Thủ đô Hà Nội. Đồng chí Tổng Bí thư
Nông Đức Mạnh đọc Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
IX “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức
mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta
ra khỏi tình trạng kém phát triển”. Các Văn kiện trình Đại hội: Báo cáo
Chính trị; Báo cáo về phương hướng phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-
2010; Báo cáo công tác xây dựng Đảng; Báo cáo về một số vấn đề bổ sung
sửa đổi Điều lệ Đảng và dự thảo Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi); Báo cáo
về kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII trên lĩnh
vực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong nhiệm kỳ
Đại hội IX và Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa IX.
Đại hội xác định mục tiêu và phương hướng tổng quát của 5 năm 2006-
7
2010 là: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy
sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và
sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; phát
triển văn hóa; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; tăng cường quốc phòng
và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập kinh
tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị-xã hội; sớm đưa nước ta ra khỏi tình
trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Đại hội X của Đảng nêu cao ý chí sắt đá của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân,
triệu người như một, năng động và sáng tạo, nắm bắt thời cơ, vượt qua thách
thức, quyết tâm đổi mới toàn diện và mạnh mẽ theo con đường xã hội chủ
nghĩa, nhằm thực hiện bằng được mục tiêu “ dân giầu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh”.
Lịch sử Việt Nam
a. năm1931
Thời kỳ sau Xô Viết Nghệ Tĩnh, phong trào cách mạng gặp phải sự khủng
bố cực điểm của thực dân Pháp. Đứng trước tình thế khó khăn ấy, Đảng vẫn
kiên trì hoạt động với sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân khắp nước. Nhờ thế
phong trào đấu tranh vẫn được tiếp tục dưới nhiều hình thực khác nhau.
b. năm1940
Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ vào tháng 9/1939, nước Pháp bị phát xít
Đức chiếm đóng, nhà nước Pháp đầu hàng. Trong khi ấy tại châu á Phát xít
Nhật bành trướng thế lực của mình, muốn hất cẳng Pháp ra khỏi Đông
Dương.
Phát xít Nhật cho quân đánh vào Lạng Sơn (9/1940). Nhân dịp quân Pháp
đang bối rối, nhân dân Bắc Sơn cướp khí giới của quân Pháp, đứng lên thành
lập chính quyền cách mạng tại Bắc Sơn. Chính quyền cách mạng tịch thu
của cải của thực dân Pháp đem chia cho người nghèo. Quần chúng gia nhập
lực lựng quân đội rất đông và thành lập được đội quân du kích Bắc Sơn.
Nhưng thực dân Pháp thỏa hiệp cùng Nhật, củng cố lực lượng. Thực dân
Pháp được Nhật trao lại Lạng Sơn, thẳng tay đàn áp, giết chết hàng loạt
người dân. Tuy thế đội du kích Bắc Sơn vẫn tồn tại để rồi sau đó hợp với các
đội du kích khác mà trở thành đội du kích đầu tiên của Việt Minh.
Trong thời kỳ thế chiến thứ hai, nhân dân Việt Nam vừa bị Pháp đô hộ,
vừa bị Nhật bóc lột, đó là tình trạng mà các nhà viết sử thường gọi là "một
cổ hai tròng". Trước tình hình khẩn trương đó, Nguyễn ái Quốc về nước
8
triệu tập hội nghị Trung ương Đảng tại Pác Bó để hạ quyết tâm giải phóng
cho được các dân tộc Đông Dương khỏi ách Pháp Nhật.
Ngày 22/12/1944 Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân ra đời dưới
chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, đẩy mạnh phong trào đấu tranh chính trị kết
hợp với võ trang.
b. năm1945
Tháng 5/1945 Phát xít Đức thua trận. Nhật đầu hàng quân đồng minh vô
điều kiện. Tình hình biến chuyển có lợi cho cách mạng Việt Nam. Đảng họp
hội nghị toàn quốc vào ngày 13/8/1945 ở Tân Trào (Tuyên Quang) quyết
định Tổng khởi nghĩa
Mùa hè năm 1945, ngay sau khi Nhật đầu hàng phe Đồng Minh, chính
phủ Pháp dùng nhiều biện pháp để quay trở lại Đông Dương. Một đạo quân
viễn chinh được thành lập do tướng Leclerc chỉ huy. Đô đốc d'Argenlieu làm
Cao ủy Pháp tại Đông Dương.
Vào những ngày đầu của tháng 9 năm 1945, quân Anh đổ bộ vào Sài Gòn
với danh nghĩa Đồng Minh để tước khí giới Nhật nhưng kỳ thật mở đường
cho Pháp trở lại Việt Nam. Ngày 23/9/1945 với sự giúp sức của quân Anh,
quân Pháp chiếm được trụ sở UBND Nam Bộ rồi mở rộng chiến tranh ra
toàn Nam Bộ, Campuchia và miền Nam Trung Bộ. Ngày 6/3/1946, Chủ tịch
Hồ Chí Minh ký hiệp định Sơ bộ
Việt Nam đã áp dụng biện pháp nhân nhượng với đối phương khi ký Hiệp
ước sơ bộ và Tạm ước, nhưng thực dân Pháp không tôn trọng các thỏa ước
ấy, ngày càng lấn tới, ráo riết đánh chiếm nhiều nơi. Đêm 19/12/1946 cuốc
kháng chiến toàn quốc bùng nổ.
Tháng 3/1947 d'Argenlieu bị triệu hồi về Pháp, Emile Bollaert thay thế,
xúc tiến việc lập chính phủ bù nhìn Bảo Đại, cắt đứt mọi đàm phán với
chính phủ Việt Nam và lập kế hoạch tấn công Việt Bắc.
Tháng 10/1947, 12.000 quân Pháp mở cuộc tiến công qui mô vào vùng
giải phóng Việt Bắc
Đầu tháng 9 năm 1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi toàn thể Vệ
Quốc Đoàn, bộ đội địa phương, dân quân du kích và nhân dân tích cực tham
gia chiến dịch. Ngày 16/9, chiến dịch bắt đầu. chiến dịch Cao Bắc Lạng kết
thúc thắng lợi,
9
e.Năm 1954
Cuộc kháng chiến chống đế Quốc Mỹ (1954-1975)
Sau hiệp định Genève, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bắt đầu chuyển sang
giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa. Miền Bắc gặp một số khó khăn
nhưng đồng thời cũng có những thuận lợi cơ bản. Khó khăn lớn nhất là nền
kinh tế lạc hậu, lại bị tàn phá nặng nề sau gần trăm năm lệ thuộc và 15 năm
chiến tranh.
Sau khi quân Pháp thất bại tại Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève được ký
kết, đế quốc Mỹ gạt hẳn thực dân Pháp ra khỏi miền Nam Việt Nam, trực
tiếp thực hành ý đồ xâm lược của mình. Tháng 6.1954 đế quốc Mỹ ráo riết
tiến hành việc hất cẳng thực dân Pháp, đưa Ngô Đình Diệm từ Mỹ về thành
lập chính phủ bù nhìn, triển khai kế hoạch phá hoại việc thi hành Hiệp định
Genève.
Cuối năm 1959 cuộc đấu tranh của miền Nam chuyển hướng thành cuộc đấu
tranh vũ trang.
Đầu năm 1964, đế quốc Mỹ thực hiện kế hoạch mới, đó là kế hoạch
Johnson-Mac Namara nhằm bình định miền Nam trong vòng hai năm (1964-
1965
f. Năm 1965
Cuối năm 1965 số quân Mỹ và chư hầu đưa vào miền Nam lên đến hơn
20 vạn cùng với vũ khí, phương tiện chiến tranh tối tân. "Chiến tranh cục bộ
Tết Mậu Thân, vào ngày 30 và 31.1.1968 quân và dân miền Nam đồng
loạt tiến công và nổi dậy ở 64 thành phố và thị xã
Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, đế quốc Mỹ bị tấn công
từ nhiều phía, ngay cả trong nội bộ nước Mỹ. Phong trào chống chiến tranh
xâm lược Việt Nam dấy lên khắp nước Mỹ. Hạ nghị viện Mỹ đòi phải rút tất
cả quân Mỹ ở Việt Nam về nước trong thời gian ngắn nhất. Nixon phải hứa
sẽ chấm dứt chiến tranh trong vòng sáu tháng, cho ra đời cái gọi là "Học
thuyết Nixon" và chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh". Theo chiến lược
này, lúc đầu quân Mỹ và quân ngụy vẫn là hai lực lượng chiến lược rồi sau
đó Mỹ rút dần quân viễn chinh và chư hầu, tăng thêm quân ngụy.Mỹ tăng
10

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét