Thứ Sáu, 28 tháng 3, 2014

Biết người philippe girardet


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Biết người philippe girardet ": http://123doc.vn/document/549082-biet-nguoi-philippe-girardet.htm


Biết Ngƣời Philippe Girardet
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
Riêng chúng tôi, cũng nhờ may mắn có dịp đọc qua quyển “La Personnalité Humaine” của F.
Achille và M. Boll mà thấy thích thú nghiên cứu về tâm lý học và cũng đặng hiểu nó một cách rõ
ràng hơn. Chúng tôi cũng đã thử áp dụng tâm lý học một cách ích lợi trong nhiều ngành mà chúng tôi
đã có dịp trình bày với độc giả hai quyển “Nghề Bán Hàng” và “Tâm Lý Ái Tình”. Cũng từ lâu rồi,
chúng tôi có ý định giới thiệu lý thuyết của hai giáo sƣ ấy với độc giả trong nƣớc nhƣng chƣa biết
phải trình bày thế nào cho dễ hiểu vì nếu dịch thẳng quyển “La Personnalité Humaine” của F.
Achille và M. Boll ra Việt văn thì chắc không bổ ích bao nhiêu vì hai nhà tâm lý học này trình bày
thuyết của họ theo lối các nhà bác học nghĩa là đứng trên tầm hiểu biết của họ mà giải thích, bất chấp
trình độ hiểu biết của phần đông độc giả, thì học chăng chỉ có ích cho một số hiếm ngƣời đã từng gần
gũi với nhiều loại sách tâm lý. Tình cờ chúng tôi có dịp đọc quyển “La Connaissance Des Hommes”
của Philippe Girardet trong đó tác giả cũng có ý định nhƣ chúng tôi là thử giải thích thuyết ấy cho đa
số ngƣời đọc có thể hiểu, lẽ dĩ nhiên là cho độc giả Pháp, và thử áp dụng thuyết ấy vào đời sống thực
tiễn.

Ông Philippe Girardet đã viết một quyển sách chúng tôi định viết. Không phải mất thì giờ để làm lại
công việc đã có ngƣời khác làm và làm rất hay, chúng tôi thấy chỉ việc xin phép tác giả cho dịch sách
ấy ra Việt văn là có thể thực hiện ý định của mình. Tác giả đã vui lòng cho phép và hôm nay quý độc
giả có dịp đọc quyển “Biết Ngƣời”, tâm lý học áp dụng vào đời sống thực tiễn, sớm hơn chúng tôi đã
tiên liệu.
Sở dĩ chúng tôi dịch quyển “Biết Ngƣời” vì muốn giới thiệu với độc giả một khoa học rất hữu ích:
Tâm lý học, mà nhất là vì đó là một quyển sách phổ thông kho học đã đặng viết bằng một lối văn hết
sức giản dị, dễ hiểu. Đó là một thí nghiệm chứng tỏ ngƣời ta có thể giảng giải những khoa học khúc
chiết bằng một lối văn thông thƣờng cho mọi ngƣời có thể đọc và hiểu. Tác giả có nói rõ ý định của
mình ở chƣơng đầu sau đây. Riêng về phần tác giả, chúng tôi nhận thấy ông đã đạt mục đích một
cách rực rỡ. Những ai từng có dịp đọc qua quyển “La Personnalité Humaine” của F. Achille và M.
Boll và quyển“La Connaissance Des Hommes” của Philippe Girardet ắt cũng phải đồng ý với chúng
tôi rằng chính ông sau này đã giúp chúng ta hiểu rõ lý thuyết của Delmas và M. Boll còn hơn hai
ngƣời cha đẻ ra thuyết ấy.
Nhƣng về phần dịch giả, chúng tôi có đạt đƣợc mục đích ấy chăng? Điều đó cũng còn tùy sự rộng
lƣợng của độc giả. Khoa tâm lý học đối với chúng ta còn mới quá, sách về tâm lý chƣa có bao nhiêu,
chúng ta lại thiếu cả những danh từ về tâm lý học. Vì thế trong sách này mỗi khi phải dùng đến một
danh từ hơi chuyên môn hoặc chƣa đƣợc thống nhất chúng tôi có chua thêm tiếng Pháp để độc giả có
dịp đối chiếu và ở phần sau sách chúng tôi có làm một tự vựng giải thích các danh từ ấy.

Biết Ngƣời Philippe Girardet
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
Tin rằng một khi đã hiểu qua những khó khăn ấy, quý độc giả chẳng những sẽ không “quá nghiêm
khắc” đối với chúng tôi mà còn sẵn lòng chỉ bảo cho những khuyết điểm và chúng tôi xin có lời
thành thật cảm ơn trƣớc.



Dịch giả cẩn chí
Tháng 5/1956

Philippe Girardet
Biết Ngƣời
Dịch giả: Phạm Cao Tùng
Phần I - Chương 1
CÁ TÍNH CỦA CON NGƢỜI

NHỮNG LỢI ÍCH CỦA TÂM LÝ HỌC

Một điều hơi lạ, trong việc đào luyện con ngƣời, ngƣời ta không mấy quan tâm đến môn tâm lý học.
Trong chƣơng trình học vấn, ngƣời ta không đếm xỉa đến nó hoặc chỉ dạy phớt qua. Có lẽ ngƣời ta
nghĩ rằng những lớp triết học mà một số ít sinh viên ban trung học có dịp theo đuổi, là những hành lý
đầy đủ để họ xông pha trên trƣờng đời. Ngoài ra ngƣời ta phó thác họ cho đời chỉ dạy.
Theo ý kiến một vài nhà giáo dục, ch úng ta nhồi nhét vào trí óc của trẻ em quá nhiều tri thức. Chúng
ta muốn nhào nặn khối óc của chúng trở thành một bộ bách khoa toàn thƣ “sống”, nhƣng chúng ta
quên dạy chúng cái khoa học cốt yếu, quên trao cho chúng cái chìa khóa có thể mở các cánh cửa: tâm
lý học.

Ngoại trừ bị giam hãm suốt đời trong một phòng thí nghiệm hoặc trong một xƣởng máy, chúng ta
luôn luôn cần nhờ đến ngƣời khác để áp dụng những điều hiểu biết của mình hoặc đối phó với sự thờ
ơ, ghét vơ của họ.

Nên chúng ta dốt đặc về tâm lý học, nếu chúng ta không hiểu về những định luật bất dịch chi phối
những thị dục của con ngƣời, nếu chúng ta không đặng dẫn dắt bởi những chân lý đã từng thí
Biết Ngƣời Philippe Girardet
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
nghiệm, thì với hiểu biết của chúng ta rất có thể đƣa chúng ta tới thất bại. Chúng ta có thể nói không
sợ lầm rằng: sự hiểu biết của mọi ngƣời có đắc dụng chăng là tùy thuộc sự thấu đáo về tâm lý của họ.

Kiến nghiệm và khoa học:
Đành rằng, kinh nghiệm của sự đời cũng có thể giúp chúng ta nhận xét để hiểu biết ngƣời. Thƣờng
gần gũi với ngƣời đồng loại, chúng ta có thể phán đoán về họ, nếu chúng ta có chút ít khả năng về
việc đánh giá con ngƣời.

Nhƣng chúng ta đừng lầm lộn việc áp dụng thực tiễn một khoa học với khảo cứu những nguyên tắc
của nó. Cái kinh nghiệm chúng ta thâu rút khi chung đụng với đời có thể hợp thành một phƣơng
pháp kinh nghiệm. (Phương pháp kinh nghiệm là phương pháp chỉ được căn cứ vào những kinh
nghiệm, không chịu tìm hiểu nguyên do, khác với phương pháp thực nghiệm căn cứ trên những thí
nghiệm khoa học. Thí dụ Đông y dựa vào phương pháp kinh nghiệm và Tây y sau khi trải qua giai
đoạn kinh nghiệm, đã tiến đến giai đoạn thực nghiệm). Dù không có ý khinh rẻ phƣơng pháp kinh
nghiệm, chúng ta cũng phải nhận thấy nó có lắm bất tiện. Muốn dùng đặng nó chúng ta phải trả một
giá khá đắt: phải trải qua những lỗi lầm, đau thƣơng, phải mất bao nhiêu thời giờ, bao nhiêu cố gắng.
Đó là chƣa kể muốn áp dụng đặng những kinh nghiệm ấy chúng ta phải có đôi chút khả năng thiên
nhiên; trái lại, phƣơng pháp thực nghiệm căn cứ trên những nền tảng khoa học có thể giúp ích cho
một số đông ngƣời có những khả năng tầm thƣờng.

Ở ngoài đời, chúng ta đã từng thấy có ngƣời văn hóa rất kém (mà chúng tôi đã đặt cho họ cái tên hơi
bất công là “những ngƣời sơ đẳng”) đã chiếm đặng những địa vị khả quan trong xã hội. Có nên vì đó
mà kết luận rằng văn hóa không cần thiết để thành công?

Có lắm tay ngang thiếu học chuyên môn những cũng cạy cục rất tài để có thể ráp nỗi một bộ máy vô
tuyến truyền thanh rắc rối. Tuy không biết qua về lý thuyết nhƣng nhờ có mó tay vào thực hành nên
họ cũng có thể bàn về “tần số”, về “cuộn xen”, về “máy phát sóng”… một cách khá rành rẽ. Có phải
vì thế mà chúng ta nên cho rằng muốn học về vô tuyến điện không cần phải học qua phần lý thuyết?
Chắc chắn là không ai sẽ nghĩ nhƣ thế, vì ai ai cũng thấy rõ, một tay ngang thiếu cơ sở khoa học mà
ráp nổi bộ máy truyền thanh ấy, ắt đã mất bao nhiêu thì giờ, bao nhiêu dọ dẫm và bao nhiêu nhẫn nại
mới có thể đạt đến đích, đó là chƣa kể hắn phải có nhiều tài quan sát. Một kỹ sƣ điện học, trái lại chỉ
cần vài giờ suy nghĩ là có thể ráp xong máy ấy nhờ áp dụng những hiểu biết về lý thuyết mà ông ta
đã thu thập đƣợc khi học ở trƣờng.

Biết Ngƣời Philippe Girardet
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
Biết người:
Bí quyết của thành công, trong đời sống cũng nhƣ doanh nghiệp gồm hai chữ “Biết Ngƣời”. Ở đây
chúng ta không nên hiểu hai chữ “thành công” với cái nghĩa hẹp hòi là thâu đoạt đƣợc nhiều tiền của,
nhiều danh vọng, mà nên hiểu rộng là sự tiến bộ về tri thức cũng nhƣ về vật chất, là sự hoàn thành
một cách hợp lý cái nhiệm vụ mà đời sống đã vạch cho mình.
Một ngƣời bán hàng, một thƣơng gia dù sẵn có nhiều khả năng thể chất hoạt động tâm thần cũng
chƣa ắt đã dễ thành công nếu họ thiếu đức mẫn tiệp, thiếu hiểu biết về tâm lý học để có thể gợi sự
thèm thuồng của khách hàng.
Một kỹ sƣ khôi nguyên ở trƣờng bách khoa xuất thân rất có thể thất bại trong những công trình của
mình, nếu họ không biết gì về cá tính của những nhân viên làm việc dƣới tay họ.
Một doanh nghiệp có thể suy sụp dù rằng đƣợc điều khiển bởi một viên giám đốc có tài, nếu ông ta
lầm lỗi trong việc tuyển chọn những nhân viên cần thiết giúp ông ta làm tròn nhiệm vụ.
Một tay cuộc chê đi chào mời khách hàng bảo hiểm nhân mạng, dù rằng có biết rõ sự ích lợi về mặt
xã hội của việc bảo hiểm, cũng chƣa ắt đã có thể khuyến dụ khách hàng ký hợp đồng nếu hắn không
biết cách trình bày những lý lẽ một cách khéo léo để cho khách hàng gật đầu.
Một ngƣời có thể có tài viết văn, nhƣng làm báo lại rất dở nếu họ không hiểu tâm lý quần chúng.
Một họa sĩ dù có sẵn thiên tƣ cũng cần thấu đáo cá tính của ngƣời mẫu mới mong đạt đƣợc sắc diện
của ngƣời ấy nổi. Một nghị sĩ phải thấu hiểu cử tri của mình. Một trạng sƣ: những thân chủ của
mình. Một y sĩ: những bệnh nhân của mình. Một sĩ quan: những quân sĩ của mình. Một vị thuyền
trƣởng: đoàn thủy thủ của mình. Chỉ có nhân viên thu thuế là… không cần hiểu những tên dân đen.
Trong đời sống thực tiễn, những cuộc xào xáo trong gia đình, những xích mích giữa bạn bè, những
bất mãn do ngƣời giúp việc bất tín gây ra, những thất vọng về đƣờng tình duyên thƣờng có nguyên
do bởi sự dốt nát về tâm lý học.
Nhƣ chúng ta đã thấy, bất luận trong ngành sinh hoạt nào, chúng ta cũng cần biết rõ cá tính của
những ngƣời mà chúng ta có liên lạc gần hay xa.
Nghiên cứu về tâm lý học chẳng những giúp ích chúng ta rất nhiều trong phạm vi chức nghiệp, ngoài
ra nó còn giúp chúng ta thâu đoạt nhiều kết quả thiết thực trên đƣờng giao thiệp.
Ngày nay, tâm lý học là một khoa học có thể truyền dạy cũng nhƣ bao nhiêu khoa học khác. Với một
bộ óc thông minh trung bình ngƣời ta cũng có thể học và hiểu nó. Nó cũng không bắt buộc ngƣời học
phải có số vốn về triết học. Nó căn cứ trên những yếu chỉ và những nguyên tắc có lẽ còn giản dị hơn
môn hình học hoặc vật lý học. Ngƣời đã có một cơ sở tâm lý học sẽ dễ mà rút tỉa những cái hay trong
mớ kinh nghiệm mà đời sống sẽ đƣa đến cho họ sau này. Họ sẽ dễ thông cảm, mau hiểu ngƣời đồng
loại hơn cũng nhƣ viên kỹ sƣ điện học dễ mò ra những bí quyết của vô tuyến điện hơn một tay ngang
chỉ dựa vào mớ kinh nghiệm.
Biết Ngƣời Philippe Girardet
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net

Lối văn “triết học”:
Nói cho đúng, việc đọc sách khảo cứu về tâm lý học thƣờng dễ làm cho ngƣời dù hiếu học đến đâu
cũng đâm ra chán nản. Nản vì “lối văn triết học” mà phần nhiều tác giả sách này quen dùng, lối văn
mà A. Abalat đã chỉ trích gắt gao trong mấy tác phẩm bàn về nghệ thuật viết văn. Kể ra “lối văn triết
học” này có thể so sánh với “lối văn sở cẩm” mà André Thérive đã từng chế giễu. Và có khi nó còn
tệ hơn, vì trong lối văn sau này, những danh từ dùng sai nghĩa song ngƣời ta còn có thể đoán đƣợc
chứ đọc “lối văn triết học” thì chẳng khác gì đọc sấm ký, bởi tác giả thƣờng khéo che đậy một cái
trống không to tƣớng dƣới một lớp danh từ khúc mắc có vẻ khoa học.
Đành rằng văn của Bergson (Nhà triết học Ly Lạp) cũng tối mò song ít ra chúng ta còn thƣởng thức
đặng cách bố trí chặt chẽ những ức thuyết rất tân kỳ của ông. Dù vậy, tôi cũng mạn phép trách ông
điều này là ông đã không biết làm cho một ngƣời chỉ có óc thông minh trung bình hiểu đặng tƣ tƣởng
ông. Muốn hiểu ông, phải đọc qua những sách diễn giải tƣ tƣởng ông.
Tôi vốn nghi kỵ những lối văn chuyên môn dành riêng cho từng khoa học. Vì ngƣời ta rất dễ lạm
dụng nó để lòe đời và nhƣ vậy ngƣời ta chỉ cần học qua một mớ thuật ngữ là có thể bàn đến nhiều
vấn đề vô lý dƣới cái vẻ sành sỏi.
Anatole France nói rất đúng: “Sự dốt nát sở dĩ có là do trong ngôn ngữ chúng ta còn lắm danh từ
nghĩa không đƣợc đích xác”.
Trong quyển “Luận Về Trí Năng Con ngƣời” nhà đại tƣ tƣởng Locke đã nói: “Muốn cho ngƣời ta
thâu nhận những chủ nghĩa phi lý hoặc kỳ hoặc, không có cách gì hay bằng bao phủ những lý thuyết
ấy dƣới một lớp danh từ tối nghĩa, mù mờ hoặc không định rõ nghĩa”.
Tôi tin rằng ngƣời ta có thể bàn giải nhiều vấn đề mắc mỏ bằng một lối văn thông thƣờng, với những
danh từ thông dụng, chỉ dùng đến những thuật ngữ khi chúng ta không tìm thấy trong ngôn ngữ
thông thƣờng một danh từ tƣơng đƣơng và nếu phải dùng đến một danh từ chuyên khoa ít ra chúng ta
phải định nghĩa nó cho rành mạch.
Đó cũng là quy tắc mà chúng tôi cố gắng theo khi soạn ra sách này. Chúng tôi đƣợc sung sƣớng nếu
tất cả bạn đọc đều có thể hiểu chúng tôi, dù là ngƣời chỉ có sức học cơ sở sơ học.
Có cần gì phải nói không phải một khi gấp quyển sách này lại mà quý bạn đọc đã trở thành một nhà
tâm lý sành sỏi.
Việc dọ dẫm, khảo xét cá tính con ngƣời là một công việc tế nhị vì mỗi con ngƣời là mỗi trƣờng hợp
riêng biệt.
Nhƣng muốn giải đáp bài toán, ít ra cần phải biết những định lý căn bản. Đây chỉ là một mớ tài liệu
về khoa học của tâm hồn mà chúng tôi ƣớc mong rằng nó sẽ giúp cho những ai muốn tìm hiểu bài
giải về cá tính con ngƣời.
Biết Ngƣời Philippe Girardet
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net

Philippe Girardet
Biết Ngƣời
Dịch giả: Phạm Cao Tùng
Phần I - Chương 2
CÁ TÍNH CỦA CON NGƢỜI

NHỮNG PHƢƠNG PHÁP CỦA TÂM LÝ HỌC

Đi xem một cuộc triển lãm hội hoạ, chúng ta nhận thấy các bức tranh trƣng bày chẳng những khác
nhau về đề tài, về khuôn khổ mà còn khác nhau rất nhiều về sắc độ. Bức thì màu sắc rực rỡ, bức lờ
mờ, hoặc lộng lẫy, hoặc vui hoặc buồn. Có bức thì đơn sắc, có bức lại gồm có nhiều màu sắc đối
chọi nhau một cách ngộ nghĩnh, có bức hình dáng chẳng khác gì một tấm thảm.
Tuy thế, tất cả những bức tranh ấy đều đặng tạo nên với một ít màu chính, lúc nào cũng thế.
Cá tính của con ngƣời cũng giống nhƣ các bức tranh nói trên. Tuy nó hiện ra dƣới bao nhiêu sắc thái
nhƣng tựu trung nó cũng chỉ đặng tạo nên bởi một ít bẩm màu căn bản. Chính sự phối hợp vô cùng
phức tạp của những bẩm chất này đã làm cho có sự khác nhau giữa loài ngƣời, làm thành bao nhiêu
hạng ngƣời.
Tâm lý học nhằm hai mục tiêu: Tìm xem đâu là những bẩm chất cốt yếu của con ngƣời và sau khi đã
định rõ giá trị mỗi bẩm chất ở một ngƣời, sẽ tiên đoán thái độ, lối xử sự của ngƣời ấy.

Hai cá tính của con người:
Từ lâu rồi ngƣời ta đã ngờ ngợ rằng những yếu tố cấu thành cá tính con ngƣời có thể phân làm hai
loại. Ngƣời ta nhận thấy một cách mơ hồ rằng trong thâm tâm của mỗi ngƣời đều có một cái gì vững
vàng, suốt đời không thay đổi và bao phủ trên cái cái phần ấy, nhƣ một cái mặt nạ, còn có một cá
tính khác, uyển chuyển hơn, biến hóa hơn, lại chịu ảnh hƣởng của những biến cố bên ngoài.
Một trong những thắng lợi của tâm lý học hiện giờ là đã chỉ định một cách rõ rệt rằng trong mỗi
ngƣời đều có hai cá tính.
Lúc chào đời chúng ta mang sẵn trong ngƣời cái cá tính thiên nhiên. Những yếu tố của nó làm nòng
cốt cho cái khí chất và cái trí tuệ của chúng ta. Cái cá tính thứ nhì đƣợc gọi là cá tính tập thành bởi
nó đƣợc kết thành do những hiện tƣợng bên ngoài, do tất cả những biến cố của đời sống.
Đôi khi các nhà khoa học cũng gọi nó là “bản ngã căn bản”, “bản ngã ngoại diện”. Nhƣng chúng ta
Biết Ngƣời Philippe Girardet
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
xin miễn dùng những tiếng “lóng” ấy và chỉ có thể nói một cách giản dị là mỗi ngƣời khi sinh ra đời
đều có nhận đƣợc một số dụng cụ hoặc tốt hoặc xấu, đó là cá tính thiên nhiên. Dƣới ảnh hƣởng của
những hiện tƣợng đời sống, họ sẽ dùng những công cụ ấy để xây dựng cá tính tập thành.
Bây giờ chúng ta hãy xem xét cái cá tính thiên nhiên ấy làm bằng những gì? Lúc sinh ra đời, chúng
ta đã nhận đƣợc những dụng cụ gì? Những bẩm chất nào là những bẩm chất căn bản? Bao nhiêu câu
hỏi mà bấy lâu nay ngƣời ta không tìm ra lời giải.
Tuy thế, từ lúc nào cũng nhƣ lúc nào, con ngƣời luôn luôn muốn tìm hiểu lý do những hành động của
mình. Họ tự dò la, khảo sát, tự thú. Họ đã ghi chép kết quả của những cuộc khảo sát này trong bao
nhiêu sách vở: tiểu thuyết, ký sự, khái luận, khảo cứu và thu thập rất nhiều tài liệu song chẳng đi đến
một kết quả khả quan nào. Không thể xếp thành loại mớ tài liệu ấy, cũng không thể rút ra những quy
tắc tổng quát. Ngay việc đặt để và định nghĩa các danh từ, những tác giả cũng chƣa đồng ý thay.
Việc dùng “phƣơng pháp nội quan” để tìm hiểu tâm lý con ngƣời đã thất bại.
Vì sao? Bởi khi ngƣời ta chỉ trông qua một bức tranh thì không tài nào có thể phân định những màu
căn bản mà họa sĩ đã dùng để vẽ bức tranh ấy. Hẳn thí dụ rằng loài ngƣời chƣa biết thuật hội họa. Có
thể nào qua một bức tranh chúng ta phân tách nổi trong bức tranh ấy có bao nhiêu chất màu xanh, và
cách phân phối màu xanh ấy ra sao? Chúng ta có biết màu xanh là màu căn bản chăng? Chắc là
không, cho đến khi chúng ta tìm ra một phƣơng pháp có thể làm nổi bật ra một màu này hoặc một
màu khác trong bảy màu của cầu vòng. Lúc bấy giờ chúng ta mới rõ: chỉ có bảy màu chính, bảy màu
căn bản, cách phân phối những màu ấy ra sao, và chúng ta biết rõ tất cả các sắc do sự pha trộn của
hai hoặc nhiều màu trổ ra.
Cách nhà tâm lý học hiện giờ đã tìm ra một thứ “thuốc thử” na ná nhƣ thể để phân tách rõ rệt những
yếu tốt tạo thành cá tính con ngƣời. Thuốc thử đó là bệnh điện.

Thuốc thử của bệnh điên:
Nếu khoa học tâm lý về con ngƣời ngày nay đã có một nền tảng vững chắc đó là nhờ công trình của
nhiều nhà chuyên về bệnh tinh thần nhƣ Ernest Dupré chẳng hạn và nhất là nhờ những phát minh của
hai nhà bác học: Giáo sƣ F. Achille Delmas, một tâm y sĩ có tiếng và giáo sƣ Marcel Boll, một nhà
khoa học mà cũng là môt nhà văn, một nhà phê bình nhiều ngƣời biết đến.
Họ đáng cho chúng ta ghi ân. Chính họ là những ngƣời sáng tạo ra nền tâm lý học tân thời. Chẳng
những họ đã lập ra một lối phân loại rất hợp lý về các bẩm chất căn bản của cá tính con ngƣời, ngoài
ra họ cũng là những ngƣời đầu tiên đã phân biệt có hai loại tâm lý học: Một thứ tâm lý học tịnh
khảo sát về cá tính thiên nhiên và các tính tập thành. Một thứ tâm lý học động khảo sát về lối cƣ xử,
thái độ của con ngƣời. Nói một cách khác, có thứ tâm lý học chuyên khảo xét về các bộ phận của
guồng máy lại có thứ chuyên khảo về cách vận dụng của guống máy ấy.
Biết Ngƣời Philippe Girardet
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
Chính tôi đã căn cứ trên lý thuyết của hai nhà khoa học ấy để xây dựng cái nền tảng vững chắc của
sách này, và trong bao nhiêu áp dụng mà tôi đã đề cập trong sách này tôi chƣa hề thấy lý thuyết ấy
sai chạy ở một điểm nào.
Muốn hiểu rõ tại sao ngƣời ta có thể dùng ngƣời điên để phân tích tâm trí của ngƣời có đủ lý trí,
chúng ta cần hiểu qua về những chứng bệnh tinh thần và cách xếp loại của nó.
Xƣa kia ngƣời ta không biết gì về bệnh điên cả. Thấy ngƣời nào nói xàm nói nhảm hoặc có những
hành động kỳ dị, ngƣời ta cho rằng họ điên hoặc khùng, không hơn không kém. Tuy rằng ngƣời ta đã
nhận thấy có nhiều chứng cuồng tâm, loạn óc song không ai buồn nghiên cứu những bệnh ấy. Cho
đến cuối thế kỷ XVIII ngƣời ta vẫn còn xem những ngƣời điên nhƣ loài ác thú, ngƣời ta cùm xích họ
lại, họ sống một đời sống đáng thƣơng hại.
Đến đầu thế kỷ XIX, mới có một nhà y sĩ từ tâm biết nghiêng mình xuống số phẩn hẩm hiu của
những ngƣời bạc phúc ấy. Đó là ông Pinel. Ôngƣời đã kéo họ ra khỏi chốn cực hình, đã bắt đầu
nghiên cứu về họ một cách hợp lý.
Suốt thế kỷ gần đây, nhiều ngƣời khác đã tiếp tục việc khảo cứu này và ngày ngay, khoa tâm y học
tức là khoa học nghiên cứu về các chứng bệnh tinh thần đã tiến bộ một cách khả quan. Những công
cuộc nghiên cứu liên tục này đã giúp ngƣời ta tìm ra một lối xếp loại rất quan trọng: Phân chia các
chứng bệnh tinh thần ra làm hai nhóm riêng biệt: Những bệnh do thương tích gây ra và những
bệnh do thể tạng tức là do sự cấu thành của thể chất tạo nên.

Những bệnh điên do thương tích gây ra:
Những bệnh điên do thƣơng tích có những đặc điểm cốt yếu sau đây:
Con bệnh luôn có những vết thƣơng trong óc, ngƣời ta tìm thấy những vết thƣơng này khi mổ thây
ngƣời chết để khám nghiệm.
Có thể đây là một chứng bệnh tập thành chứ không phải do thiên bẩm, vì những vết thƣơng này phát
ra sau khi con ngƣời đã sinh ra hoặc nếu sớm hơn, thì cũng là khi bào thai đã tƣợng hình.
Tùy theo vết thƣơng có tính chất vĩnh viễn hay tạm bợ, ngƣời ta sẽ chia những bệnh do thƣơng tích
này làm hai loại:
Loại đầu gồm những chứng mất trí, ngu đần, động kinh, bất toại, điên cuồng, lẩm cẩm vì già nua.
Loại sau gồm những bệnh điên phát sinh bởi một vết thƣơng hoặc một chất độc (rƣợu, thuốc phiện
v.v…).
Những bệnh này thƣờng đều bất trị, trừ những bệnh thuộc loại thứ hai và ở trƣờng hợp mà chất độc
chỉ gây những thƣơng tích nhẹ.

Những bệnh điên do thể tạng gây ra:
Biết Ngƣời Philippe Girardet
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
Những bệnh tinh thần thuộc nhóm thứ hai, tức là những bệnh điên do thể tạng sinh ra, mới đáng cho
ngƣời muốn nghiên cứu về tâm lý học quan tâm hơn.
Những bệnh thuộc nhóm này có hai thuộc tính:
Nó do thiên bẩm. Mầm gốc những chứng bệnh ấy đã sẵn có trong ngƣời con bệnh từ lúc họ mới lọt
lòng. Rất có thể và thƣờng khi nhƣ thế, bệnh ấy chƣa phát triển đầy đủ lúc con bệnh còn thơ ấu, bởi
sự phát triển ấy có thể hoặc sớm hoặc muộn, tuy nhiên ngƣời ta luôn luôn nhận thấy điều này là
những bệnh ấy do thể tạng của con bệnh tức là do cơ cấu thể chất mà họ có sẵn từ lúc họ ra chào đời.
(Giáo sư F. Achille Delmas định nghĩa cơ cấu tâm bệnh như thế này: Đó là một nhóm xu hướng tâm
thần nhất định, thuộc cá tính thiên nhiên của con bệnh, phát triển lúc người ấy mới sinh ra, và suốt
đời họ, bộc lộ bởi những phản ứng mạnh hay yếu… nó có thể đi đến những chứng bệnh thần kinh
tuần hoàn, thuyên giảm trong chốc lát hoặc tiệm tiến (nghĩa là bệnh điên phát triển trong một thời kỳ
gần hay xa hoặc tuần tự mà tiến). – Bài phúc trình về tâm bệnh học ở hội nghị Limoges, từ ngày 25
đến 30 tháng 7 năm 1932.
(Còn vấn đề: Bằng cách nào và do đâu bệnh điên có thể phát sinh từ một cư cấu tâm bệnh thì người
ta chỉ hiểu lờ mờ. Trong bản phúc trình nói trên, giáo sư Delmas chỉ thử tìm cách giải).
Những con bệnh này không mang vết thƣơng tích nào trong óc cả. Khi ngƣời ta khám tử thi một
ngƣời bệnh điên thuộc nhóm này, ngƣời ta thấy óc họ chẳng khác gì óc một ngƣời lành mạnh. Rất có
thể sự giống nhau ấy chỉ có ở mặt ngoài, còn nếu có chỗ khác nhau thì những phƣơng tiện tìm tòi
hiện giờ cũng chƣa cho phép chúng ta nhận thấy những đặc điểm của các khối óc bệnh hoạn ấy.
Điều quan trọng cũng là điều cốt yếu trong việc nghiên cứu của chúng ta là những chứng bệnh ấy chỉ
là sự lệch lạc, sự phát triển quá độ hoặc sự khuyết kém những yếu tố căn bản tạo thành cá tính của
một ngƣời lành mạnh.
Ở ngƣời lành mạnh, những yếu tố ấy pha trộn, phối hợp lẫn nhau một cách điều hòa khó lòng cho
chúng ta phân biệt.
Ở những con bệnh tinh thần trái lại tính cách bất thƣờng của những yếu tố ấy làm cho nó nổi bật lên
trên cá tính, nhờ đó chúng ta rất dễ thấy.
Vì thế chúng ta có thể dùng những bệnh “điên” thuộc nhóm sau này nhƣ một thứ “thuốc thử” mà
chúng tôi đã nói ở trƣớc. Một khi có thể phân biệt và xếp những chứng bệnh ấy thành loại thì chúng
ta cũng đã biết rõ có bao nhiêu bẩm chất căn bản tạo thành cá tính con ngƣời. Công trình nghiên cứu
của hai ông F. A Delmas và M. Boll là đã xác định lối phân loại ấy.

Philippe Girardet
Biết Ngƣời
Biết Ngƣời Philippe Girardet
Tạo Ebook: Nguyễn Kim Vỹ Nguồn truyện: vnthuquan.net
Dịch giả: Phạm Cao Tùng
Phần I - Chương 3
CÁ TÍNH CỦA CON NGƢỜI


NHỮNG CHỨNG BỆNH TINH THẦN DO THỂ TẠNG GÂY RA

Có thể chia những bệnh này làm ra năm loại. Dƣới đây chúng ta sẽ nghiên cứu riêng từng loại.

Chứng cuồng vọng (paranoie):
Loại này là do sự cuồng vọng của óc đòi hỏi gây ra, y học gọ nó là bệnh paranoia, nhƣng xét theo
nguồn gốc thì danh từ này đặt chƣa thật xác nghĩa, bởi theo tiếng Hy Lạp thì paranoia có nghĩa là “lý
luận lạc đề”.
Chúng ta cứ gọi là bệnh “cuồng vọng” cho dễ hiểu.
Ngƣời bị cuồng vọng luôn luôn đòi hỏi hơn những quyền lợi hoặc quyền hạn mà họ có. Họ tự ban
cho mình những tài sản phi thƣờng, tự đặt cho mình những tƣớc vị không thể tƣởng tƣợng. Họ mong
chờ những gia tài kếch sù, tự xƣng là vua là hoàng đế đôi khi là Thƣợng Đế. (Ông N. P. Thiên vương
nào đó mà vừa rồi báo chí có nói đến, đã tự gán cho mình ba cấp bằng thạc sĩ và tự xưng là hoàng
đế Việt Nam, rõ là một con bệnh cuồng vọng (1956).
Và đƣơng nhiên họ không bao giờ đoạt đƣợc những gì mà họ tƣởng rằng họ phải có, hoặc có quyển
hƣởng, nên họ đâm ra bất mãn, tƣởng rằng mình bị ngƣợc đãi hoặc bị những kẻ thù tƣởng tƣợng ám
hại. Sự cuồng loạn của tinh thần bị ngƣợc đãi là kết quả đƣơng nhiên của bệnh cuồng vọng.
Những con bệnh cuồng vọng này cũng nhƣ những con bệnh sẽ đƣợc kể dƣới đây, mới xét ra chúng ta
không thấy vẻ gì tỏ ra là ngƣời cuồng trí, nhƣng họ có thể trở nên nguy hiểm. Bởi nhƣ đã nói trƣớc,
họ cho rằng nỗi khổ tâm, những thất vọng của họ là do những kẻ thù địch vô danh gây ra, và một
ngày kia họ có thể nhận thấy kẻ thù địch ấy ở một cá nhân hoặc ở những ngƣời nào đó để rồi họ sẽ
trả thù lại. Những án mạng do ngƣời cuồng vọng gây ra khó mà đo lƣờng bởi tính họ vốn hay ngờ
vực nên không có ai là tri kỷ, không ai biết đƣợc ý định của họ.

Chứng gian ác (la perversité):
Sự thác loạn của tâm đức tức là bệnh gian ác thuộc loại thứ hai. Ngƣời mắc phải bệnh này mất cả
giác quan luân lý, họ không biết luân thƣờng đạo lý là gì nữa. Họ có những hành động phản xã hội
và nhƣ vậy không vì một nguyên do nào cả.
Trong loại này chúng ta có thể kể những ngƣời điên khát máu, giết ngƣời không gớm tay, đốt nhà

Thứ Năm, 27 tháng 3, 2014

Kĩ thuật lớp 5 k1(2009)


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Kĩ thuật lớp 5 k1(2009)": http://123doc.vn/document/550119-ki-thuat-lop-5-k1-2009.htm


Giáo án Môn Kỹ thuật
Th nm ngy 2 thỏng 10 nm 2008
K THUT
Tiết 4: THấU DU NHN ( T2)
I . Mục tiêu
- HS thc hnh thờu du nhõn trờn vi
- Thờu c mi du nhõn ỳng k thut
- Bit cỏch ỏnh giỏ sn phm
II. đồ dùng dạy học
- Hp dựng
III. các hoạt động dạy học
A .Kim tra bi c
- Mi thờu du nhõn dựng lm gỡ ?
B. D y b i m i
1. Gii thiu b i
2. Hng dn thc h nh
Ho t ng 3 : Thc h nh
- Yờu cu HS nhc li cỏc bc thờu du
nhõn?
- Yờu cu HS thao tỏc li cỏc bc trờn vi
- GV h thng li cỏc bc thờu du nhõn
v lu ý HS mt s im sau:
+ Cỏc mi thờu phi v luõn phiờn trờn 2
ng du, khi rỳt ch phi rỳt t t khụng
rỳm ch do co kộo mnh
- HS thc hnh thờu mi du nhõn
- GV quan sỏt hng dn thờm cho cỏc em yu
- 3-4 HS nhc li
- C lp nhn xột
- HS quan sỏt nhn xột bn ó
thc hin ỳng cỏc bc cha
- HS nhc li
- HS thờu 2 ng trờn vi
Hot ng 4 : ỏnh giỏ sn phm
- Cỏc nhúm trng by sn phm lờn mt bn
- Gi 2HS c tiờu chớ ỏnh giỏ sn phm
- GV chn c 1 t trng ti gm4 em cựng giỏo viờn ỏnh giỏ sn phm
theo 2 mc : Hon thnh A, khụng hon thnh B
4. Cng c -dn dũ
-HS thu dn dựng . Chun b mt s dng c n ung cho tiờt sau.
Giáo viên Nguyễn Thị Thanh
5
Giáo án Môn Kỹ thuật
Th nm ng y 9 tháng 10 n m 2008
K THUT
Tiết 5 : MT S DNG C NU N V N UNG
TRONG GIA èNh
I Mục tiêu
HS cn phi
- Bit c im , cỏch s dng , cỏch bo qun mt s dng c nu n v n
ung thụng dng trong gia ỡnh
- Cú ý thc bo qun , gi v sinh an ton trong quỏ trỡnh s dng dng c
un v n ung
II. đồ dùng dạy học
- Tranh v mt s dng c nu n v n trong gia ỡnh SGK
III. các hoạt động dạy học.
A. Kim tra bi c : Kim tra đ dựng ó chun b
-Nhn xột s chun b ca HS
2 . Hot ng bi mi
*Hot ng 1; Xỏc nh dng c nu n : un , nu , n ung
- Trong gớa ỡnh em cú cỏc dng c
no dựng un ?
- Bp un dựng lm gỡ?
- Kể tờn 1 s dng c nu n?
-Cỏc dng c nu cú tỏc dng gỡ?
-k tờn mt s dng c dựng by
thc n v n ung ?
- HS nờu : bp ga , bp lũ , bp than ,
bp ci
- Cung cp nhit lm chớn cỏc loi thc
n
- ni, xong , cho .
- nu chớn thc n
- a bỏt, thỡa .cc,chộn
* Hot ng 2: c im v cỏch s dng , bo qun
* Cho HS tho lun nhúm Cỏc nhúm tho lun ghi kt qu vo nhỏp theo mu
sau
Loi dng c
Tờn cỏc dng c Tỏc dng Cỏc s dng - bo
qun
Bp un
Dng c nu
Dng c by thc n
Dng c ct thỏi
Cỏc dng c khỏc
-Yờu cu HS tho lun
- GV nhn xột chung
- HS tho lun nhúm 4,điền vào bảng
- i din nhúm trỡnh by
-Cỏc nhúm khỏc nhn xột -b sung
Hot ng 3: ỏnh giỏ kt qu
-Em hóy nờu cỏch s dng cỏc loi bp un trong gia ỡnh em
Giáo viên Nguyễn Thị Thanh
6
Giáo án Môn Kỹ thuật
- Nờu tỏc dng ca mt s dng c nu n trong gia ỡnh em v cỏch bo
qun?
3. Cng c -dn dũ
-Nhn xột gi hc; Dn dũ : chun b cho bi sau nu n
Th nm ngy 16 thỏng 10 nm 2008
K THUT
TIT 6: CHUN B NU N
I. Mục tiêu:
- HS nêu đợc những công việc chuẩn bị nấu ăn
- Biết cách thực hiện một số công việc chuẩn bị nấu ăn.
- Có ý thức giúp đỡ gia đình
II. Đồ dùng dạy học:
- Tranh ảnh thực phẩm thông thờng
- Phiếu học tập. .
III. Các hoạt động dạy học
A.Kiểm tra bài cũ:
- Kể một số dụng cụ nấu ăn và ăn uống trong
gia đình.?
- Nêu tác dụng và cách bảo quản bếp đun ?
B.Dạy bài mới:
1.Giới thiệu bài: Nêu yêu cầu của tiết học
2.Tìm hiểu bài:
*Hoạt động 1: Công việc chuẩn bị nấu ăn
- yêu cầu HS đọc SGK
- Kể tên các công việc cần thực hiện khi
chuẩn bị nấu ăn ?
- GV chốt: để có thực phẩm tơi, ngon, sạch
cần phải chọn thực phẩm phù hợp và sơ chế
thực phẩm.
* Hoạt động 2: Cách thực hiện
a) Cách chọn thực phẩm:
- Học sinh đọc nội dung mục 1 và quan sát
hinh 1
- Việc lựa chọn thực phẩm nhằm mục đích
gì?
- Cách chọn thực phẩm nh thế nào để đảm
bảo đủ lợng đủ chất dinh dỡng trong bữa ăn?
- Dựa vào hình 1, hãy kể tên những loại thực
phẩm gia đình em thờng lựa chọn ?
- Nêu cách lựa chọn những thực phẩm mà em
- Học sinh nêu
- Học sinh nêu
- Học sinh đọc SGK và trả lời.
- Chọn thực phẩm, sơ chế thực
phẩm
- Học sinh đọc bài và quan sát
hình 1 SGK
-Nhằm đảm bảo cho bữa ăn có
đủ chất dinh dỡng, đủ lợng
- Thực phẩm phải sạch và an toàn
phù hợp với khẩu vị của gia đình
- Học sinh nêu: rau , củ , quả
- Học sinh nêu
Giáo viên Nguyễn Thị Thanh
7
Giáo án Môn Kỹ thuật
biết ?
-GV hớng dẫn học sinh cách lựa chọn một số
loại thực phẩm thông thờng nh: rau xanh, củ,
quả, cá, thịt.
- Vì sao chúng ta phải lựa chọn thực phẩm?
b) Cách sơ chế thực phẩm:
- Sơ chế thức ăn nhằm mục đích gì ?
- Nêu công việc thờng làm trớc khi :
+ Luộc rau ?
+ Rang tôm ?
+ Kho thịt ?
+ Rán đậu ?
- GV chốt: Trớc khi chế biến một món ăn, ta
phải loại bỏ những phần không ăn đợc và làm
sạch thực phẩm.
- Nêu mục đích của việc sơ chế thực phẩm ?
Hoạt động 3: Đánh giá
- em hãy nêu các công việc chuẩn bị nấu ăn?
- Khi tham gia giúp đỡ gia đình nấu ăn , em
đã làm những công việc gì ?
3. Củng cố - dặn dò:
- Giáo viên nhận xét chung,về thực hiện nh
bài học
- Chuẩn bị bài Nấu cơm
-Vì mỗi loại thực phẩm có tính
chất khác nhau nên phải lựa chọn
theo cách khác nhau
- mục đích làm sạch thực phẩm
làm thức ăn có mùi vị thơm ngon
- Học sinh quan sát tranh và liên
hệ thực tế
- Học sinh làm nhóm 4
- Các nhóm trình bày
- Cả lớp nhận xét
- Học sinh nêu,đọc ghi nhớ SGK
- 2-3 Học sinh nối tiếp nhau nêu
-Nhặt rau .thái thịt ,vo gạo
Thứ năm ngày 23 tháng 10 năm 2008
kỹ thuật
Tiết7: Nấu cơm
I. Mục tiêu:
-Học sinh biết cách nấu cơm bằng bếp đun.
- Vận dụng những kiến thức đã học để nấu cơm giúp đỡ gia đình
II. Đồ dùng dạy học:
- Tranh minh hoạ SGK. .
III: Các hoạt động dạy học chủ yếu:
A. Kiểm tra bài cũ:
- Nêu các công việc cần thực hiện
- Học sinh nêu, cả lớp nhận xét
Giáo viên Nguyễn Thị Thanh
8
Giáo án Môn Kỹ thuật
khi chuẩn bị nấu ăn ?
- Vì sao cần sơ chế thực phẩm tr-
ớc khi nấu ăn ?
B. Dạy bài mới:
1.Giới thiệu bài: Giaó viên nêu
yêu cầu tìm hiểu cách nấu cơm
bằng bếp đun.
B. Tìm hiểu bài
*Hoạt động 1: Các cách nấu cơm
ở gia đình
- ở gia đình em nấu cơm theo cách
nào ?
- Giáo viên nêu có 2 cách nấu cơm
chủ yếu:
+ Nấu bằng nồi trên bếp đun.
+ Nấu bằng nồi cơm điện.
* Hoạt động 2:
Cách nấu cơm bằng bếp đun
- Yêu cầu Học sinhđọc SGK và trả
lời các câu hỏi sau ;
1.Kể tên các dụng cụ , nguyên liệu
và chuẩn bị nấu cơm bằng nồi trên
bếp đun
2. Nêu công việc chuẩn bị nấu cơm
và cách thực hiện?
3.Trình bày cách nấu cơm bằng
bếp đun
4. Theo em, nấu cơm bằng bếp đun
muốn cơm chín đều cần chú ý
khâu nào ?
5. Cách nấu cơm bằng bếp đun có
nhợc điểm gì ?
- Vì sao khi nớc cạn phải giảm nhỏ
lửa ?
- Giáo viên nêu:
+ Chọn nồi đáy dày.
+ Lợng nớc vừa phải ( theo tỷ lệ đã
định )
+ Giảm nhỏ lửa khi cơm đã cạn.
- Yêu cầu HS thực hiện các bớc
chuẩn bị nấu ăn bằng bếp đun?
3. Củng cố - dặn dò:
- Học sinh nêu
- Mở SGK
- Học sinh trả lời :nấu bằng củi ,nấu bằng
ga ,nấu bằng nồi cơm điện
- Quan sát tranh minh hoạ SGK
- Học sinh đọc mục 1 và quan sát tranh
hình 1, 2, 3 (SGK) thảo luận nhóm 5
- Đại diện nhóm trình bày,cả lớp nhận xét
bổ sung
- nồi , củi , gạo , nớc , rá
- Rửa nồi , vo gạo
-Vo gạo ,cho nớc vào vừa đủ rồi cho lên
bếp đun đến khi cạn sau đó để nhỏ lửa
- Lợng nớc vừa phải, chọn nồi đáy dày, khi
cơm cạn để nhỏ lửa
- Nhợc điểm là nồi nhọ , cơm hay bị khê
- Học sinh nêu: Để cơm không bị khê
- Học sinh làm theo nhóm đã chuẩn bị.
Giáo viên Nguyễn Thị Thanh
9
Giáo án Môn Kỹ thuật
- Giáo viên chốt lại cách nấu cơm
bằng bếp đun:
-Về nhà giúp đỡ bố mẹ nấu cơm,
chuẩn bị cho bài tiết sau.

Thứ năm ngày 30 tháng 10 năm 2008
Kỹ thuật
Tiết 8: Nấu cơm(Tiếp)
I. Mục tiêu:
- Học sinh biết cách nấu cơm bằng nồi cơm điện
- Có ý thức giúp đỡ gia đình.
II. Đồ dùng dạy học:
- Tranh minh hoạ SGK. .
III. Các hoạt động dạy học :
Hoạt động của giáo viên Hoạt động của học sinh
A. Kiểm tra bài cũ:
- Nêu các bớc chuẩn bị nấu cơm
bằng bếp đun? Nêu cách thực
hiện?
B. Dạy bài mới:
1. Giới thiệu bài: Nêu yêu cầu tìm
hiểu cách nấu cơm bằng bếp điện.
2. Tìm hiểu bài
Hoạt động 3: Cách nấu cơm bằng
nồi cơm điện .
- So sánh nguyên liệu, dụng cụ nấu
cơm bằng bếp đun và nồi cơm điện
?
- Nêu cách nấu cơm bằng nồi cơm
điện ?
- So sánh với cách nấu cơm bằng
bếp đun
-Nấu cơm bằng đạt cần đạt yêu cầu
gì?
- Giáo viên nêu cần ớc lợng nớc
theo một tỷ lệ nhất định.
- 2 học sinh
- Học sinh mở SGK
- Học sinh đọc mục hai SGK và quan sát
hình 4
- Giống nhau: gạo, rá, chậu, nớc để vo
gạo.
- Khác nhau: Nồi đun khác nồi điện
- Học sinh trả lời :làm sạch gạo , cho nớc
vào vừa đủ, cắm điện.
- Học sinh quan sát tranh minh hoạ và nêu
- Khác nhau: Đổ nớc và gạo vào nồi rồi
cắm điện đến khi cơm cạn nớc nồi tự động
chuyển sang nấc ủ. Sau 8 - 10 phút thì
cơm chín.
- Cơm chín đều , dẻo
Giáo viên Nguyễn Thị Thanh
10
Giáo án Môn Kỹ thuật
- Học sinh thao tác chẩn bị và nấu
cơm bằng nồi cơm điện
- GV theo dõi uốn ắn
* Hoạt động 4: Đánh giá kết quả
học tập
- Yêu cầu Học sinh thảo luận các
câu hỏi sau:
- Có mấy cách nấu cơm ? Đó là
cách nào ?
- Em chọn cách nấu cơm nào khi
giúp đỡ gia đình ? Vì sao
3. Củng cố - dặn dò:
- GV chốt lại cách nấu cơm bằng
nồi cơm điện:
-Về giúp đỡ bố mẹ nầu cơm
Chuẩn bị cho bài Luộc rau
- 2 học sinh lên thao tác , cả lớp theo dõi
bổ sung
- HS thảo luận nhóm5
- Có hai cách nấu cơm: nấu cơm bằng bếp
củi ,nấu cơm bằng nồi cơm điện
- Nấu bằng nồi cơm điện vì dễ thực hiện.
- Đại diện nhóm trình bày. Cả lớp nhận
xét
- 2 Học sinh đọc ghi nhớSGK
Thứ năm ngày 6 tháng 11 năm 2008
Kỹ thuật
Tiết 9 : Luộc rau
I. Mục tiêu:
- Học sinh biết cách thực hiện các công việc chuẩn bị qua các bớc luộc rau.
-Có ý thức giúp đỡ gia đình
II. Đồ dùng dạy học:
- Tranh minh hoạ SGK. .
III. Các hoạt động dạy học
Hoạt động của giáo viên
A. Kiểm tra bài cũ
- Nêu cách nấu cơm bằng nồi cơm
điện ? khi nấu cần lu ý điều gì ?
B. Dạy bài mới:
1.Giới thiệu bài: Giáo viên nêu yêu
cầu tìm hiểu cách luộc rau.
2.Tìm hiểu bài
*Hoạt động 1: Công việc chuẩn bị
luộc rau:
- Nêu những công việc phải làm khi
luộc rau ?
- Nêu tên các nguyên liệu và đồ dùng
khi luộc rau ?
- ở gia đình em thờng luộc những loại
Hoạt động của học sinh
-2 Học sinh nêu, cả lớp nhận xét bổ
sung
- Học sinh mở SGK
- Nhặt rau,rửa , lấy nớc vào nồi
- Quan sát hình 1 trả lời
+ Rau, rổ đựng, nồi luộc, đũa, chậu
Giáo viên Nguyễn Thị Thanh
11
Giáo án Môn Kỹ thuật
rau nào ?
- Nêu cách sơ chế rau trớc khi luộc ?
- Goị HS thực hành cách sơ chế
- GV nhận xét, uốn nắn.
* Hoạt động 2: Cách luộc rau
- Nêu cách luộc rau ?
- Đun to lửa khi luộc rau có tác dụng

- Giáo viên nêu
+ Cho ít muối hoặc bột canh vào nớc
luộc rau cho rau xanh và đặm
+ Tuỳ khẩu vị từng ngời mà luộc cho
rau chín tới hoặc chín mềm.
- Khi luộc rau chín cần làm gì ?
- GV kết luận chung
3. Củng cố - dặn dò:
- GV chốt nội dung bài học.
-Về thực hành luộc rau ở nhà , chuẩn
bị bài Rán đậu
rửa.
- HS liên hệ thực tế trả lời
- Quan sát hình 2 trả lời
Nhặt bỏ lá già , cuống lá , rửă sạch
- 2 học sinh lên bảng thực hiện các
thao tác sơ chế rau.
- Các nhóm để các loại rau lên bàn và
thực hành sơ chế
- Học sinh quan sát hình 3 và liên hệ
thực tế, học sinh trả lời
- Rau có màu xanh.
- Quan sát hình 4 trả lời
+ Vớt rau chín bày vào đĩa,dỡ cho rau
tơi đều
- 2 học sinh đọc ghi nhớ SGK.
Thứ năm ngày13 tháng 11 năm 2008
Kỹ thuật
Giáo viên Nguyễn Thị Thanh
12
Giáo án Môn Kỹ thuật
Tiết 10 Bày, dọn bữa ăn trong gia đình
I.Mục tiêu:
HS cần phải:
-Biết cách bày, dọn bữa cơm trong gia đình
-Có ý thức giúp gia đình bày, dọn trớc và sau bữa ăn.
II.Đồ dùng dạy học
Cách bày dọn bữa ăn trong SGK
III.Các hoạt động dạy học
A.Kiểm tra bài cũ
Nêu các yêu cầu cần đạt đợc khi luộc rau ?
GVnhận xét chung
B. Dạy bài mới
1. Giới thiệu bài
2.Tìm hiểu bài
a.Bày món ăn và dụng cụ ăn uống trớc bữa ăn .
-Yêu cầu HS quan sát hình 1 và đọc
thông tin trong SGK để trả lời các câu
hỏi sau:
HS đọc thông tin, quan sát hình 1 và
thảo luận nhóm 4 các câu hỏi
Đại diện các nhóm trình bày
+Nêu mục đích của việc bày món ăn
và dụng cụ ăn uống trớc bữa ăn .
-Làm cho bữa ăn hấp dẫn ,thuận tiện
và vệ sinh .
+Gia đình em thờng bày món ăn và
dụng cụ ăn uống ở đâu ?
-Một số HS nêu
+Nêu cách sắp xếp các món ăn và
dụng cụ ăn uống trớc bữa ăn ở gia đình
.
-Sắp đủ dụng cụ ăn uống cho mọi ngời
trong gia đình,các dụng cụ dùng chung
đặt cạnh món ăn
GV tóm tắt một số cách bày bàn ăn
phổ biến ở nông thôn .
+Nêu yêu cầu của việc bày dọn trớc
bữa ăn
Sắp đủ dụng cụ
Lau khô từng dụng cụ
Đặt theo vị trí ngồi ăn của từng ngời
Sắp xếp các món ăn sao cho đẹp và
thuận tiện
+ở gia đình em thờng bày thức ăn và
dụng cụ ăn uống cho bữa ăn nh thế
nào ?
-Một số HS nêu
*GV kết luận :Bày món ăn và dụng cụ
ăn uống trớc bữa ăn một cách hợp lý
giúp mọi ngời ăn uống đợc thuận
tiện ,vệ sinh .
b.Thu dọn sau bữa ăn
Yêu cầu HS đọc bài Một HS đọc ,cả lớp theo dõi ở SGK
+Nêu mục đích của việc thu dọn sau
bữa ăn.
Làm cho nơi ăn uống của gia đình
sạch sẽ ,gọn gàng sau bữa ăn.
Giáo viên Nguyễn Thị Thanh
13
Giáo án Môn Kỹ thuật
+Nêu cách thu dọn sau bữa ăn ở gia
đình em .
-HS liên hệ và trả lời
+Nêu cách thu dọn sau bữa ăn nêu
trong SGK
Dồn thức ăn thừa
Xếp các dụng cụ vào mâm
Nhặt sạch cơm và thức ăn ở chỗ vừa ăn
+Em hãy so sánh cách thu dọn sau bữa
ăn nêu trong SGK và cách thu dọn sau
bữa ăn ở gia đình em.
Một số HS nối tiếp nhau nêu
GV nhận xét và hớng dẫn cách thu dọn
sau bữa ăn ở SGK
GV phổ biến cho HS khi cho thức ăn
vào tủ lạnh cần phải đợc đậy kín .
c. Đánh giá kết quả học tập
+Em hãy nêu tác dụng của việc bày
món ăn và dụng cụ ăn uống trớc bữa
ăn .
-Làm cho bữa ăn hấp dẫn ,thuận tiện
và hợp vệ sinh .
+Em hãy kể tên các công việc em có
thể giúp gia đình trớc và sau bữa ăn .
HS nêu
GV nhận xét và khen ngợi HS biết
giúp đỡ gia đình .
3.Củng cố- dăn dò
-GV nhận xét tiết học ,về giúp đỡ gia đình bày dọn bữa ăn.
-Chuẩn bị bài tiết sau.
Thứ năm ngày20 tháng 11 năm 2008
Kỹ thuật
Tiết 11 Rửa dụng cụ nấu ăn và ăn uống
I.Mục tiêu:
HS cần phải:
-Nêu đợc tác dụng của việc rửa dụng cụ nấu ăn và ăn uống trong gia đình .
-Biết cách rửa sạch dụng cụ nấu ăn và ăn uống trong gia đình
-Có ý thức giúp gia đình .
II.Đồ dùng dạy học
Hình minh hoạ trong SGK
III.Các hoạt động dạy học:
A.Kiển tra bài cũ
Nêu tác dụng của việc bày món ăn và dụng cụ ăn uống trớc bữa ăn .
GV nhận xét và củng cố lại cách làm.
B.Dạy bài mới
1.Giới thiệu bài
2 Tìm hiểu bài
a,Mục đích và tác dụng của việc rửa
Giáo viên Nguyễn Thị Thanh
14

Cách đặt tên con hay đây


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Cách đặt tên con hay đây": http://123doc.vn/document/551389-cach-dat-ten-con-hay-day.htm


Contents
Contents 1
ĐẶT TÊN CON THEO CÁC LOẠI HOA 1
6 THANH CỦA TIẾNG VIỆT 9
ÂM DƯƠNG - NGŨ HÀNH CỦA TIẾNG VIỆT 10
TƯƠNG ỨNG CỦA SÁU THANH TIẾNG VIỆT VỚI NGŨ HÀNH 11
ÂM DƯƠNG CỦA THANH TRONG NGÔN NGỮ VĂN HỌC 12
NGŨ HÀNH NẠP ÂM 16
ĐẶT TÊN CON THEO CÁC LOẠI HOA
Dùng hoa để đặt tên cho con, đầu tiên phải hiểu rõ tính cách, đặc điểm của các loài hoa, để
từ đó có thể hiểu rõ được ý nghĩa của loài hoa mà bạn dùng để đặt tên cho con mình, và để
các bạn có thể sáng tạo ra một cái tên cũng không kém phần ý nghĩa để đặt riêng cho con
mình. Chúng tôi xin giới thiệu những loài hoa phổ biến nhất với tư cách tên người, và cũng
là những loài hoa nổi tiếng, đẹp và rất giàu ý nghĩa.
Từ xưa tới nay, các loài hoa là một trong những ứng cử viên sáng giá thường được người Việt
Nam và Trung Quốc dùng để đặt tên, đặc biệt họ thích dùng hoa để so sánh với vẻ đẹp của người
con gái, ví dụ như: Mai, Đỗ Quyên, Thủy Tiên, Mẫu Đơn…, bởi bản thân hoa có ý nghĩa phong
phú, có thể nói mỗi loài hoa mang một ý nghĩa riêng của mình. Ở một số nước còn có “quốc hoa”
của mình, như Mẫu Đơn được tôn vinh là “quốc sắc thiên hương” tượng trưng cho sắc vẻ của
đất nước Trung Quốc, Anh Đào tượng trưng cho Nhật Bản, người Chilê lại yêu thích loài
hoa Bách Hợp (chỉ mọi sự đều hòa hợp, tốt lành)… Có thể nói rằng người nào đặt tên con theo
tên các loài hoa là người rất am hiểu và yêu quý các loài hoa.
Nếu dùng hoa để đặt tên cho con, đầu tiên phải hiểu rõ tính cách, đặc điểm của các loài hoa, để từ
đó có thể hiểu rõ được ý nghĩa của loài hoa mà bạn dùng để đặt tên cho con mình, và để các bạn
có thể sáng tạo ra một cái tên cũng không kém phần ý nghĩa để đặt riêng cho con mình. Chúng tôi
xin giới thiệu những loài hoa phổ biến nhất với tư cách tên người, và cũng là những loài hoa nổi
tiếng, đẹp và rất giàu ý nghĩa.
HOA MAI: Nhà thơ Viên Mai thời Tống (Trung Quốc) đã miêu tả về cốt cách kiên cường, hương
thơm êm dịu của hoa Mai như sau: Trong khi các loài hoa khác phải cúi đầu khuất phục trước giá
rét tê tái của mùa đông khắc nghiệt thì chỉ có hoa Mai vẫn kiên cường ngẩng cao đầu, nở những
bông sặc sỡ sắc màu. Và sắc màu thanh khiết nhưng đầy tự tin ấy choáng ngợp không gia u tối,
lạnh lẽo của đêm đông giá rét, nó như thắp sáng lên ngọn lửa ấm cho các loài hoa khác.
Hoa Mai hay còn gọi là “Xuân Mai” là loài
hoa từ màu sắc, hương thơm đến tư thế đều
khiến các loài hoa khác phải ngưỡng mộ. Có
rất nhiều người thích hoa Mai và cũng có rất
nhiều người lấy hoa Mai để đặt tên, ví dụ như
Hiểu Mai, Đông Mai, Tú Mai, Ngọc Mai,
Nguyệt Mai, Tố Mai, Hoàng Mai… Những
cái tên này rất dễ nghe, nhưng nếu thấy nhiều
người đặt tên như thế thì bạn hoàn toàn có thể
tìm hiểu thêm ý nghĩa của loài hoa này (hoa Mai không những có cái thanh tao, trong trắng của
tuyết, mà còn có mùi hương quyến rũ, lan tỏa) để tự sáng tạo ra một cái tên thật hay và mang nét
đặc trưng nhất của loài hoa này cho con mình.
HOA MẪU ĐƠN- được tôn vinh là “quốc sắc thiên hương” tượng trưng cho sắc vẻ của đất nước
Trung Quốc
HOA ĐỖ QUYÊN: Đỗ Quyên hay còn gọi là ánh Sơn Hồng, hoa Ứng Xuân, mọc rộng rãi ở vùng
Tây Nam Trung Quốc, là một trong những loài hoa nổi tiếng, đẹp vào hiếm. Ở Việt Nam, loài hoa
này mọc rất nhiều ở vách đá của một thác nước nổi tiếng trong rừng quốc gia Bạch Mã, thác Đỗ
Quyên – dòng thác mang tên loài hoa này.
Đỗ Quyên có thể phân ra làm nhiều loài như Đỗ Quyên tuyết, Đỗ Quyên gấm vân, Đỗ Quyên cảo
nguyệt… nở vào hai mùa xuân, hạ trong năm. Hoa có hình hoa sen, hình hoa cúc, hình hoa Tú Cầu
dáng hoa mẫu đơn, dáng hoa nguyệt quý… với màu sắc hết sức phong phú như màu hồng nhạt,
hồng đậm, hồng đào, màu đỏ, trắng, vàng, màu da cam, xanh. Đỗ Quyên là một loài cây chịu được
giá rét, có thể sống được 100 năm, một cây có thể nở hơn 1000 bông hoa. Hoa Đỗ Quyên thời kì
nở rộ đẹp lộng lẫy mê hồn.
Dùng hoa Đỗ Quyên làm tên, ngoài tên gọi Đỗ Quyên, còn có thể tách ra và có thể lựa chọn sắc
thái màu sắc để kết hợp lại, ví dụ Hồng Quyên, Bạch Quyên, Hoàng Quyên… Hoặc bạn có thể lấy
cách gọi nho nhã của Đỗ Quyên để đặt tên như Thiên Hương, ví dụ Trương Thiên Hương, Trịnh
Thiên Hương.
THỦY TIÊN: Thủy Tiên cũng được liệt vào hàng Top 10 hoa đẹp nhất Trung Quốc. Cành của
Thủy Tiên thẳng và trên cành đó mọc ra 4-8 bông hoa nhỏ màu trắng, mùi thơm của hoa tỏa ra sẽ
làm ngây ngất lòng người. Đặc tính của Thủy Tiên là mùi hương không quyến rũ, nhưng dáng hoa
lại thướt tha yểu điệu như thần như tiên. Thủy Tiên, với đặc tính này của mình, rất xứng đáng để
bạn chọn làm tên cho con gái mình.
BÁCH HỢP (HUỆ TÂY): Cây hoa Bách Hợp cao khoảng 1m, hoa nở vào mùa hạ, có thể nở từ
một đến bốn bông trên cùng một cành, hoa có màu trắng sữa, mùi rất thơm.
Hai chữ “Bách Hợp” là ý chỉ mọi sự được hòa thuận, tốt lành, nên nhiều người khi tặng hoa cho
bạn bè thường chọn mua hoa Bách Hợp. Tức là hoa này có hàm ý cát tường, nên chọn loài hoa này
để đặt tên cho con là rất hợp lý, chỉ có điều hai chữ Bách Hợp nghe có vẻ giống tên nam giới mà
thôi.
HOA LÊ (LÊ HOA): Hoa Lê thuộc họ cây Tường Vi, có màu trắng, thời kì hoa nở rực rỡ nhất thì
toàn bộ cây được bao bọc bởi màu trắng xóa như tuyết, trông rất đẹp mắt.
Trong lịch sử đã không ít danh nhân miêu tả đặc tính của hoa Lê:
một loài hoa thanh khiết, trắng trong. Lấy chứ hoa Lê để đặt tên
tương đối dễ nghe, ví dụ như: Phạm Lê Hoa, Phan Lê Hoa, Hà
Lê Hoa…
HỢP LAN (HỢP HOAN, DẠ LÝ HƯƠNG): Hợp Lan cũng có thể gọi là “cây dạ hợp”. Cây
Hợp Hoan này có thân cao khoảng 16m, trên ngọn cây có hình ô, lá nhỏ và hoa chỉ nở về đêm.
Hợp Hoan là loài hoa rất đẹp, thuộc dạng khó kiếm. Khi hoa Hợp Hoan nở vào những đêm mùa
hạ, đưa hoa lên mũi ngửi bạn sẽ cảm nhận được ngay mùi hương quyến rũ lòng người của nó.
Lấy tên Hợp Lan, hoặc Hợp Hoan để đặt tên cho con thì có nghĩa
là cầu mong cho gia đình được vui vẻ.
HOA ĐẠI LỆ: Hoa Đại Lệ cũng có thể gọi
là hoa Đỗ Quyên thiên tiếu. Đại Lệ có khoảng 3000 loài và là loài hoa
nổi tiếng trên thế giới. Hoa chia làm hai loại là hoa đơn và hoa kép.
Loài hoa này có hình dáng giống hoa Thược Dược, hình cầu, hình tổ
ong… màu sắc vô cùng phong phú: màu phấn hồng, hồng tím, màu trắng,
màu vàng.
Bạn có thể dùng hai chữ Lệ Hoa từ tên hoa này để đặt tên cho con.
CÁT TƯỜNG THẢO: Cát Tường Thảo thuộc họ cây bách hợp. Loài
hoa này có chiều cao từ 25 đến 35cm, màu xanh đậm, nhưng đến mùa
đông và hạ thường xanh nhạt. Cát Tường Thảo thường nở hoa vào
mùa hạ hoặc mùa thu, hoa có màu đỏ tía và có mùi rất thơm, quả của
cây có hình cầu sắc đỏ, điều hay của loài cây này là nhìn lá có thể
đoán được quả.
Lấy Cát Tường Thảo để đặt tên có thể giản lược thành hai từ “Cát
Thảo”, vì bản thân chữ cát đã bao hàm nghĩa là Cát Tường (may mắn).
Tên Cát Thảo có thể hơi lạ nhưng rất dễ nghe và hay nữa.
HOA NGỌC TRÂM: Nhà thơ Xuân Diệu đã tả về
hoa Ngọc Trâm như sau:
Lá biếc đơn sơ, cánh nuột nà,
Rung rinh trên nước một cành hoa.
Ngọc Trâm còn được gọi là “Ngọc xuân bồng”, thuộc họ cây Bách Hợp. Ngọc Trâm có chiều cao
từ 75cm trở lên, nở hoa màu trắng và nở vào ban đêm. Hoa có mùi thơm rất ngào ngạt.
Để con mang tên hoa Ngọc Trâm là cách đặt
tên khá phổ biến của nhiều người.
HOA TRƯỜNG XUÂN: Hoa Trường Xuân
có nguồn gốc ở châu Phi. Chiều cao của hoa
khoảng 60cm, tán hoa có màu đỏ sẫm của hoa
hồng, giống khác của loài hoa này là Bạch
hoa và Bạch hoa hồng tâm, các giống hoa này
đều vô cùng xinh đẹp nho nhã.Hoa Trường
Xuân là loài hoa cỏ thuộc diện đẹp nhưng nhã
nhặn. Nếu bạn thích con mình xinh đẹp nho
nhã bạn có thể lấy tên của hoa Trường Xuân
đặt cho con bạn. Cách gọi khác của loài hoa
này là Sơn Phàm.
HOA TRÀ (SƠN TRÀ): Hoa Sơn Trà cũng được gọi là hoa Trà, hoa Nại đông (hoa chịu
được mùa đông giá rét). Lá hoa trà có nhiều loại: lá đơn, lá kép, lá nửa đơn nửa kép. Hoa có dáng
hoa mai, hoa sen, hoa mẫu đơn với màu sắc đa dạng không kém gì hoa Đỗ Quyên: màu hồng đậm,
hồng phớt, hồng đào, màu trắng ngọc, trắng sữa, và một số hoa có màu lốm đốm, màu vằn trên
cánh hoa. Trong số các màu của hoa thì màu hồng là quý phái trang trọng nhất gọi là “Kim Trà”.
Vào đời Kim Đường (Trung Quốc), Trà được mệnh danh là loài hoa làm ngây ngất lòng người.
Dùng hoa Trà để đặt tên cho con, bạn có thể học tập cách tưởng tượng phong phú lãng mạn của
người Trung Quốc như: nếu họ Chu có thể đặt tên con gái là Chu Kim Trà. Hoặc có thể dùng cách
gọi khác của hoa Sơn Trà là “Hải Hồng” để đặt tên gọi như Nguyễn Hải Hồng (hoa Trà màu hồng)

HOA NGUYỆT QUẾ: Nguyệt Quế hay còn
gọi là hoa Trường Xuân, Hồng Nguyệt
Nguyệt là loài hoa rất nổi tiếng trên thế giới,
vì nó vừa có hương lại vừa có sắc. Nguyệt
Quế, với hơn 20.000 loài, được xếp vào một
trong 10 loài hoa nổi tiếng của người Trung
Quốc. Hoa có nhiều màu sắc như: màu trắng,
màu phấn hồng, màu hồng đào, màu mận
chín… Nguyệt Quế có khả năng chịu giá rét
cao. Thân cây cao từ 2m trở lên. Vòng nguyệt
quế, làm từ hoa Nguyệt Quế, đã được dùng
làm phần thưởng cho người chiến thắng tại
các cuộc thi đấu Olympic của người Hy Lạp
cổ đại.
Để con mình mang tên hoa Nguyệt Quế là điều rất tuyệt
vời. Nhưng căn cứ vào các loài hoa Nguyệt Quế khác
nhau (Nguyệt Quế Hòa bình, Nguyệt Quế Vân hương,
Nguyệt Quế Minh tinh siêu cấp, Chi Nguyệt Quế, Quế
Thanh…) bạn cũng có thể đặt cho con những cái tên
khác có nguồn gốc từ loài hoa này như Vân Hương, Hòa
Bình…
HOA HẢI ĐƯỜNG: Theo sự tích, Hải Đường mang tên vị linh mục Kamelia, một người châu
Âu đã đến Nhật Bản truyền đạo. Hải Đường còn được gọi là Hải Đường Lê Hoa. Cây hoa Hải
Đường cao khoảng 8m, khi còn là nụ, hoa Hải Đường có màu trắng, còn khi đã nở thành hoa thì có
màu hồng. Có nhiều loại Hải đường khác nhau: Hải Đường Trắng, Hải Đường Đỏ…
Các văn nhân Trung Quốc trước kia đã gọi Hải
Đường là “mắt xanh”, họ miêu tả loài hoa này
giống như má hồng của các thiếu nữ khi thẹn
thùng hay xấu hổ với ai đó. Hải Đường là loài
hoa vừa thuần khiết vừa quý phái nhưng màu sắc
của hoa lại không kém phần tươi mới, nên Hải
Đường rất thích hợp để đặt tên cho những người
con gái đẹp.
HOA TỬ VI: Tử Vi là loài hoa rất lâu tàn, không
dễ gì bị tàn úa. Thời gian hoa nở đến khi hoa tàn có khi kéo dài từ hai tháng đến nửa năm. Hoa Tử
Vi có nhiều màu sắc: hồng, trắng, xanh thẫm, đỏ thẫm… Loài hoa này có nhiều giống khác như
Ngân Vi, Thuý Vi. Vì hoa rất lâu tàn nên nó còn có một tên gọi nhã xưng khác là Hồng Bách Nhật.
Dưới góc độ tên của hoa thì Tử Vi là một cái tên đẹp, mĩ miều, bạn có thể lấy tên Tử Vi, hoặc
Ngân Vi, Thuý Vi để đặt tên cho con mình.
PHÙ DUNG: Trái với Tử Vi, Phù Dung là loài hoa sớm nở tối tàn.
Nhưng điều đặc biệt lý thú của loài hoa này là tự đổi màu theo thời
điểm: buổi sáng tinh mơ hoa có màu trắng phớt, đến giữa trưa có màu
đỏ đậm, còn lúc chiều tà hoa lại ngả màu đỏ sẫm, và trên một cành
cây vừa có hoa màu đỏ lại vừa có hoa màu trắng. Có người nói rằng
nếu được ngắm cây Phù Dung đương độ khoe sắc với cảnh cả hoa
trắng lẫn hoa đổ nở cùng một cành mới cảm thấy hết được vẻ tuyệt
vời mà thiên nhiên ban tặng cho con người.
Khi lấy Phù Dung để đặt tên bạn có thể dùng trực tiếp hai chữ “Phù
Dung” hoặc chỉ cần một chữ “Dung” rồi kết hợp với một chữ khác
đều được.
MỘC LAN: Mộc Lan còn có tên gọi khác là hoa Nữ nương vì gắn với câu
chuyện về nàng Mộc Lan xinh đẹp. Mộc Lan vì thương cha già yếu, thương em
trai còn nhỏ dại nên đã giả trai thay cha tòng quân đi đánh giặc. Sau ngày chiến
thắng mọi người mới biết Mộc Lan là nữ. Xúc động trước tấm lòng cao đẹp của
nàng, tên nàng đã được tạc vào lịch sử như một dấu ấn anh hùng của người phụ
nữ Trung Quốc.
Mộc Lan còn có thể gọi là “Tử Ngọc Lan”, Hồng Ngọc Lan. Cây Lan cao
khoảng 5m, nụ hoa giống như đầu cây bút viết, hoa Mộc Lan có màu trắng bên trong và màu tím ở
bên ngoài. Lấy trực tiếp hai chữ Mộc Lan đặt tên cho con không chỉ có ý nghĩa là hoa nữ nương,
mà còn mang ý nghĩa là nữ anh hùng dân tộc Trung Quốc.
HOA HỒNG VÀ
HOA TƯỜNG
VI: Hoa Hồng là
loài cây lá rụng
thuộc họ cây
Tường Vi. Hồng
cao khoảng 2m,
cành hồng thường
rất nhiều gai, hoa
Hồng có nhiều màu sắc như hồng tím, hồng trắng, hồng đỏ, hồng vàng, hồng cam, hồng nhung.
Hoa hồng có hương thơm ngào ngạt, có thể chế biến thành nước hoa. Đặc tính của loài hoa này là
thích ánh sáng mặt và chịu được giá lạnh. Người phương Tây quan niệm hoa Hồng là loài hoa hàm
chứa tình cảm nhiều nhất, nên hai người yêu nhau thường tặng nhau hoa Hồng để bày tỏ tình cảm.
Lấy hoa Hồng để đặt tên có thể mang nghĩa là: có cái tình sâu nặng, có cái đẹp và cả mùi thơm
nữa.
Tường Vi cũng thuộc loài cây lá rụng, hoa Tường
Vi có màu trắng hoặc màu phấn hồng, hoa có
nhiều loại: Tường Vi thập tỉ muội, Tường Vi phấn
đoàn… Tường Vi là loài hoa không chịu được
trong phòng ấm, mà thích dãi dầu với mưa nắng,
rèn rũa để có sức sống mạnh mẽ. Những người
thích tính cách này của Tường Vi có thể để con
mình mang tên loài hoa này. Bạn có thể dùng chữ
Tường (Tường Anh) hoặc cả hai chữ Tường Vi để
đặt tên cho con đều được.
GIỚI THIỆU VỀ KHOA HỌC ĐẶT TÊN
Việc đặt tên có ý nghĩa vô cùng quan trọng, cái tên có vai trò ảnh hưởng rất nhiều đến vận mệnh
của cả một đời người. Cái tên của mỗi người chính là biểu tượng phản ánh toàn bộ chủ thể bản
thân con người ấy. Cái tên cũng dùng rất nhiều trong giao tiếp, trong học tập, sinh hoạt, công việc
hàng ngày. Vì lẽ đó, cái tên tạo thành một trường năng lượng có ảnh hưởng vô cùng quan trọng
đến vận mệnh mỗi con người.

Từ xa xưa cha ông ta đã lưu ý rất nhiều khi đặt tên cho con cháu mình, thời Phong Kiến, người
xưa có quan niệm rằng kỵ đặt tên phạm huý, tức là tên trùng với tên họ của vua quan quý tộc, như
thế sẽ bất lợi cho con cháu. Ngoài ra, cũng kỵ đặt những tên quá mỹ miều, sợ quỷ thần ghen ghét
làm hại nên lúc nhỏ sẽ khó nuôi. Những người có học hành, chữ nghĩa thì đặt tên con cháu theo
những ý nghĩa đặc trưng của Nho Giáo như Trung, Nghĩa, Hiếu, Thiện,…
Ngày nay việc đặt tên có xu hướng phóng khoáng hơn xưa nhưng cái tên vẫn có một ý nghĩa vô
cùng quan trọng, không những chỉ mang yếu tố mỹ cảm mà về yếu tố Âm Dương, Ngũ Hành cái
tên còn có vai trò rất quan trọng trong việc cải tạo vận mệnh của mỗi người.

Tổng quan những lý thuyết quan trọng cho việc đặt tên bao hàm những yếu tố sau:
- Cái tên được đặt phải phù hợp với truyền thống của mỗi dòng họ. Từ xưa đến nay trong văn
hoá Việt Nam nói riêng và văn hoá Á Đông nói chung đề cao vai trò của gia đình, dòng họ. Con
cháu phải kế thừa và phát huy được những truyền thống của tổ tiên gia tộc mình. Điều này thể
hiện trong phả hệ, những người cùng một tổ, một chi thường mang một họ, đệm giống nhau với ý
nghĩa mang tính kế thừa đặc trưng của mỗi chi, mỗi họ như họ Vũ Khắc, Nguyễn Đức,…

- Tên được đặt trên cơ sở tôn trọng cha, ông của mình, như tên kỵ đặt trùng với tên ông, bà, chú,
bác…điều này rất quan trọng trong văn hoá truyền thống uống ước nhớ nguồn của Việt Nam ta.

- Tên phải có ý nghĩa cao đẹp, gợi lên một ý chí, một biểu tượng, một khát vọng, một tính chất
tốt đẹp trong đời sống. Như cha mẹ đặt tên con là Thành Đạt hy vọng người con sẽ làm nên sự
nghiệp. Cha mẹ đặt tên con là Trung Hiếu hy vọng người con giữ trọn đạo với gia đình và tổ quốc.

- Bản thân tên phải có ý nghĩa tốt lành, đã được đúc kết và nghiệm lý theo thời gian như tên Bảo,
Minh thường an lành hạnh phúc. Kỵ những tên xấu như Lệ, Tài,…vì những tên này có ý nghĩa
không tốt đẹp đã được kiểm chứng trong nhiều thế hệ.

- Tên bao gồm 3 phần là phần họ, đệm và tên. 3 phần này trong tên đại diện cho Tam Tài Thiên -
Địa – Nhân tương hợp. Phần họ đại diện cho Thiên, tức yếu tố gốc rễ truyền thừa từ dòng họ. Phần
đệm đại diện cho Địa tức yếu tố hậu thiên hỗ trợ cho bản mệnh. Phần tên đại diện cho Nhân tức là
yếu tố của chính bản thân cá nhân đó. Thiên - Địa – Nhân phối hợp phải nằm trong thế tương sinh.
Mỗi phần mang một ngũ hành khác nhau, việc phối hợp phải tạo thành thế tương sinh, kỵ tương
khắc. Ví dụ như Thiên = Mộc, Địa = Hoả, Nhân = Thổ tạo thành thế Mộc sinh Hoả, Hoả sinh Thổ,
Thổ sinh Kim là rất tốt. Nếu Thiên = Mộc, Địa = Thổ, Nhân = Thuỷ tạo thành thế tương khắc là
rất xấu. Yếu tố này cũng có thể nói gọn là tên phải cân bằng về Ngũ Hành.

- Tên phải cân bằng về mặt Âm Dương, những vần bằng thuộc Âm, vần trắc thuộc Dương.
Trong tên phải có vần bằng, trắc cân đối, kỵ thái quá hoặc bất cập. Ví dụ như Thái Phú Quốc quá
nhiều vần trắc, Dương cường, Âm nhược nên luận là xấu. Tên Thái Phú Minh luận là Âm Dương
cân bằng nên tốt hơn.

- Yếu tố rất quan trọng của tên ngoài việc cân bằng về Âm Dương, Ngũ Hành còn phải đảm bảo
yếu tố hỗ trợ cho bản mệnh. Ví dụ, bản mệnh trong Tứ Trụ thiếu hành Thuỷ thì tên phải thuộc
Thuỷ để bổ trợ cho mệnh, vì thế tên phải đặt là Thuỷ, Hà, Sương,…

- Tên còn cần phối hợp tạo thành quẻ trong Kinh Dịch, quẻ phải tốt lành như Thái, Gia Nhân,
Càn, tránh những quẻ xấu nhiều tai hoạ rủi ro như quẻ Bĩ, Truân, Kiển,…Quẻ cũng cần phối hợp
tốt với Âm Dương Bát Quái của bản mệnh.

Ví dụ về đặt tên : nữ sinh năm Giáp Thân, trong Tứ Trụ mệnh thiếu Kim, nên dùng tên bổ trợ hành
Kim cho bản mệnh. Tên đặt Nguyễn Thái Ngọc Nhi. Sau đây phân tích những yếu tố tốt của tên
này:
1. Ngũ Hành tương sinh : Họ Nguyễn = Mộc sinh Thái = Hoả sinh Ngọc = Thổ sinh Nhi = Kim.
Ngũ Hành tạo thành vòng tương sinh hỗ trợ cho bản mệnh thiếu Kim
2. Tên này Âm Dương cân bằng vì hai vần bằng trắc cân đối ngụ ý một đời sống an lành, tốt đẹp
3. Ý nghĩa của tên trong Hán văn có nghĩa là viên ngọc quý, hàm ý một đời sống sang trọng, đầy
đủ
4. Phối quẻ được quẻ Dự là một quẻ tốt cho nữ số.
Những người có tên không tốt hoặc vận mệnh đang gặp khó khăn trở ngại thì đổi tên là một trong
những phương pháp hiệu quả để cải tạo vận mệnh của chính mình.

Tóm lại, đặt tên tốt là một việc rất khó khăn, bao hàm rất nhiều yếu tố phối kết hợp để tạo thành
một tên đẹp theo nghĩa mỹ cảm lẫn Âm Dương, Ngũ Hành, hầu đem lại cho người mang tên đó
một sự hỗ trợ cần thiết cho cuộc sống tốt lành trong tương lai, để rạng danh được dòng họ của
mình, mang lại sự nghiệp tốt đẹp cho bản thân và xã hội.

Trân trọng cảm ơn quý vị đã tín nhiệm và tin tưởng dịch vụ của chúng tôi!
6 THANH CỦA TIẾNG VIỆT
Khi tìm lại trong vốn hiểu biết của mình, tôi nhận ra rằng: yếu tố chủ đạo của tiếng Việt,
cũng giống như tiếng nói của các dân tộc anh em trong nước, chúng đều do kết hợp giữa
Thanh và Âm mà thành.
Nhưng xem xét kỹ thêm, tôi thấy ở tiếng Việt, nhân tố tập quán, qui ước xã hội nằm ở yếu tố ÂM
chiếm phần nhiều; nhân tố bản năng tự nhiên thì ngược lại, nó nằm trọn vẹn ở trong yếu tố
THANH.Tôi đã trình bày những chứng cứ rõ rệt trong cách đặt tên cho 6 thanh tiếng Việt của cổ
nhân, gồm: Thượng thanh, Khứ thanh, Đoản bình thanh, Trường bình thanh, Hồi thanh và
Hạ thanh.
Các cụ xưa xếp thứ tự 6 thanh từ cao xuống thấp là có dụng ý, mỗi thanh dựa vào một dáng đầu
và cổ con người khi phát âm ra tiếng có thanh đó như sau:
Thượng Thanh : Khi nói, dáng đầu và cổ ngửa lên cao đến mức có thể. Đường đi của hơi thanh ra
thẳng hướng đầu và cổ.
Khứ thanh : Khi nói, dáng đầu và cổ hơi ngửa lên, tiếng phát ra bay đi rất xa. Đường đi của hơi
thanh ở phần cuối hất vọt lên, như vấp phải vật cản.
Đoản bình thanh : Khi nói, dáng đầu và cổ ngay ngắn, ngang bằng, như nhìn về đường chân trời.
Đường đi của hơi thanh ngắn.
Trường bình thanh : Khi nói, dáng đầu và cổ ngay ngắn, ngang bằng. Đường đi của hơi thanh
dài, đồng thời từ từ hạ thấp xuống một chút ít.
Hồi thanh : Khi nói, dáng đầu và cổ cúi nhanh xuống, liền theo đó, đưa dáng đầu và cổ về tư thế
ngang bằng, ngay ngắn. Đường đi của hơi thanh giống như một vật thể có tính đàn hồi, khi rơi
xuống đất liền bị nẩy vòng trở lại. Hoặc như tiếng nói hướng vào trong hang đá, có sự vang vọng
trở lại.
Hạ thanh : Khi nói, dáng đầu và cổ cúi gập xuống rất nhanh, giữ nguyên dáng đó cho tới khi hoàn
thành âm từ. Đường đi của hơi thanh như rơi thẳng xuống rất nhanh và bị giữ ngay lại ở dưới đó.
Đầu đời nhà nguyễn, một vị linh mục nước ngoài đến truyền đạo Gia Tô ở nước ta, ngài được
chúa Nguyễn yêu mến ban cho tên là Bá Đa Lộc. Do yêu cầu của việc biên soạn sách Giáo Lý,
sách kinh thánh, ngài đã cùng các giáo đồ là sỹ phu phong kiến Việt Nam, đem mẫu tự la - tinh
ghép lại thành chữ Việt mới, thay cho cách dùng chữ Hán cổ ghép vần thành chữ Nôm trước đó
vẫn dùng . Các vị này đã theo đúng những mô tả về dáng đầu và cổ khi người nói, theo diễn tiến
đường đi của từng hơi thanh, dùng cách mô phỏng bằng nét bút vẽ lại, nay ta gọi đó là dấu của
thanh tiếng Việt. Trong 6 thanh, có một thanh không mang dấu, 5 thanh còn lại, mỗi thanh mang
một dấu riêng. Dấu của thanh như sau :
Thượng thanh : Mang dấu sắc,ghi ở phía trên các nguyên âm, như: Á,ắ, ấ, é, ế, í, ó, ố, ớ, ú, ứ.
Khứ thanh : Mang dấu ngã, ghi ở phía trên các nguyên âm, như : A, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư.
Trường bình thanh : Mang dấu huyền, ghi ở phía trên các nguyên âm, như : À, ằ, ầ, è, ề, ì, ò, ồ,
ờ, ù, ừ.
Đoản bình thanh : Không mang theo dấu, như : A, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư.
Hồi thanh : Mang dấu hỏi, ghi ở phía trên các nguyên âm, như : Ả, ẳ, ẩ, ẻ, ể, ỉ, ỏ, ổ, ở, ủ, ử.
Hạ thanh : Mang dấu nặng, ghi ở phía dưới nguyên âm, như : Ạ, ặ. ậ, ẹ, ị, ọ, ộ, ợ, ụ, ự.
Các dấu thanh này, cùng với các nguyên âm của tiếng Việt, đã làm cho chữ Việt Nam, văn Việt
Nam trở thành công cụ truyền tải thứ ngôn ngữ giầu nhạc tính, mang đậm sắc thái rất riêng biệt
của Việt Nam.
ÂM DƯƠNG - NGŨ HÀNH CỦA TIẾNG VIỆT
Âm dương: Âm, dương là hai loại khí lớn trong vũ đại trụ.Theo học thuyết Âm – dương, khí
tĩnh thuộc âm, khí động thuộc dương. Khí âm dương trong vũ trị, tuy thuộc tính của chũng
đối nghịch, nhưng chúng luôn bám chặt lấy nhau, hỗ trợ nhau sinh thành. Kiềm chế nhau
trong khuôn khổ, giữ cho mối tổng hoà được tồn tại trọn vẹn bền vững.
Các cụ ta xưa cũng chia 6 thanh tiếng Việt làm hai loại : Thanh bằng và thanh trắc.
Thanh bằng
Là âm thanh của tiếng nói êm ái, hiền hoà, mang tính tĩnh. Thuộc tính âm, chúng gồm có hai
thanh, đoản bình thanh và trường bình thanh.
Thanh trắc
Là âm thanh của tiếng nói ở những cung bậc cao thấp khác với thanh bằng. Âm thanh phát ra trúc
trắc, uốn lượn, cộc cằn, mang tính động cao, thuộc dương tính. Chúng gồm các thanh: Thượng,
khứ, hồi, và hạ thanh.
Qui phạm sáng tác thơ văn cổ Việt Nam, cân bằng âm dương trong từ ngữ được coi là khuôn vàng,
thước ngọc, gọi là niêm luật. Khi muốn học thơ, văn, trước hết phải học niêm luật. Xin lấy một bài
mẫu niêm luật của thể thơ thất ngôn tứ tuyệt làm ví dụ:
Bằng bằng trắc trắc trắc bằng bằng,
Trắc trắc bằng bằng trắc trắc bằng,
Bằng trắc trắc bằng bằng trắc trắc,
Trắc bằng bằng trắc trắc bằng bằng.
Trong ví dụ trên, chúng ta thấy sự đối nghịch bằng, trắc trong từng câu, giữa các cặp câu rất rõ rệt.
Nhưng tổng thể các đối nghịch đó đã được tạo dựng thành một bức tranh giai điệu của âm thanh
có bố cục chặt chẽ, đẹp đẽ, khó bề làm khác đi được.
Ngũ hành
Ngũ hành là năm loại khí hoá. Chúng là tác nhân biến hoá vạn vật.
Khí hóa ở bốn mùa là: Xuân sinh; hạ trưởng; trưởng hạ hoá; thu thâu; đông tàng.
Khí hoá thấy rõ nhất ở các loài: Xuân cây ( Mộc ); hạ lửa ( Hoả ); trưởng hạ đất ( Thổ ); thu
quặng đá kết tinh ( Kim ); đông nước đông lại thành băng ( Thuỷ ). Năm loài này được dùng làm
đại biểu khí hoá của ngũ hành: Mộc, Hoả, Thổ, Kim, Thuỷ.
Khí hoá ở bốn phương là: Phương đông hành Mộc; phương nam hành Hỏa; trung ương hành Thổ;
phương tây hành Kim; phương bắc hành Thuỷ.
Khí hoá ở vị trí cao thấp là: Mẳt trời trên cao nhất, hành Hoả; loài cây ở dưới mặt trời, nhưng cao
hơn mặt đất, hành Mộc; đất ở dưới loài cây, hành Thổ; loài quặng, đá ở dưới đất, hành Kim; nước
sinh ra từ dưới các lớp đất, đá, hành Thuỷ.
6 thanh của tiếng Việt, theo tương ứng vị trí của ngũ hành cao thấp khác nhau, phân thành
năm hành như sau:
Thượng thanh ở vị trí cao nhất, hành Hoả.
Khứ thanh, vị trí dưới thượng thanh, hành Mộc.
Đoản bình thanh và trường bình thanh, vị trí đều ở dưới khứ thanh, lại ở giữa sáu thanh, hành Thổ.
Hồi thanh, vị trí ở dưới trường bình thanh, hành Kim.
Hạ thanh, vị trí ở dưới hồi thanh, hành Thuỷ.
TƯƠNG ỨNG CỦA SÁU THANH TIẾNG VIỆT VỚI NGŨ HÀNH
Qui luật tương ứng ngũ hành là ngũ hành tương ứng với vạn sự, vạn vật, mọi trạng thái.
Mọi hiện tượng của vạn vật trong vũ trụ luận Phương Đông. Tương ứng giữa 6 thanh tiếng
Việt với sinh lý, tâm lý người Việt không ngoài quy luật chung đó.
Y học phương Đông đưa ra hệ thống tương ứng ngũ hành với tạng phủ, với sinh lý, tâm lý, ý thức
con người, cùng với các loại tương ứng khác. Những tương ứng này dùng vào chẩn đoán, điều trị,
dinh dưỡng, bảo vệ sức khoẻ con người hiệu quả, đã qua nhiều ngàn năm lịch sử kiểm nghiệm.
Ngôn ngữ tiếng Việt là phương tiện chuyển tải nhận thức, tâm lý, tình cảm cá với nhân trong cộng
đồng. Nhưng những nhận thức, tâm lý, tình cảmcủa con người đều là sản phẩm từ hoạt động của
sinh lý con người sinh ra. Do vậy, nó không nằm ngoài quy luật tương ứng chung của học thuyết
Ngũ hành.
Tương ứng giữa âm thanh, từ ngữ tiếng Việt với tâm sinh lý người Việt như sau:
Những âm thanh từ ngữ mang dấu sắc:
Thượng thanh, hành hoả tương ứng với tạng Tâm, thần minh vui vẻ.
Những âm thanh từ ngữ mang dấu ngã:
Khứ thanh, hành mộc, tương ứng với tạng can, với quyết đoán cắu giận.
Những âm thanh từ ngữ không mang dấu và mang dấu huyền:
Đoản bình thanh và trường bình thanh, hành Thổ, tương ứng với tạng Tỳ, lo toan trìu mến.
Những âm thanh từ ngữ mang dấu hỏi:
Hồi thanh, hành Kim, tương ứng với tạng Phế, trị tiết ( chính xác, tiết kiệm ), buồn rầu.
Những âm thanh, từ ngữ mang dấu nặng:
Hành Thuỷ, tương ứng với tạng thận, dè sẻn, sợ hãi.
Một câu nói, một câu văn, gồm nhiều âm thanh, nhiều từ ngữ hợp thành. Nội dung nhận thức, tình
cảm chuyển tải trong đó, bao gồm tập hợp của số hành theo dấu thanh trong câu.
Ngoài những đề mục kể trên, còn có nhiều dẫn chứng sống động về tương ứng Âm dương – Ngũ
hành với ngôn ngữ văn học Việt Nam, với ngôn ngữ giao tiếp đời thường Việt Nam, với ngôn ngữ
các địa phương khác nhau về địa lý, nhưng chung tiếng nói Việt Nam.
ÂM DƯƠNG CỦA THANH TRONG NGÔN NGỮ VĂN HỌC

Mỗi tiểu phẩm văn học là kết cấu của ngôn ngữ, cũng là kết cấu của các thanh, nó phải tuân
theo quy luật tự nhiên. Trước hết, về nội dung, luôn luôn trong một tiểu phẩm phải có hai vế,
vế nêu vấn đề và vế làm trọn vấn đề. Nêu vấn đề là dương, làm trọn vấn đề là âm. Đó là hai
mặt âm dương của tiểu phẩm.
Một số nội dung nữa là số lượng từ ngữ trong tiểu phẩm được chia ra làm hai loại. Thanh bằng và
thanh trắc, đó là âm dương của ngôn ngữ.
Xin lấy ca dao, câu đối để phân tích các nội dung âm dương vừa nêu trên như sau:
Ca dao, câu đối có chung một hình thức hai vế, vế trước là vế nêu vấn đề, nêu câu hỏi, câu đố là vế
dương theo nghĩa phát tán; vế sau phải giải đáp vấn đề, bổ sung, đối chọi để trọn vẹn ý nghĩa của
tiểu phẩm, đó là vế âm, theo nghĩa âm thu nạp.
Để đảm bảo đúng ý nghĩa của vế, nội dung của từng vế phải hoàn toàn phụ thuộc và nội dung âm
dương của thanh, cũng như nội dung tình cảm của cả tiểu phẩm, tuỳ theo tỷ lệ giữa hai loại thanh
âm (bằng) và dương (trắc) quyết định.
Để dễ khái quát khi đánh giá một nội dung một tiểu phẩm xin quy nạp theo bảng như sau:
Dương
Nêu vấn đề
Thanh trắc ( Có số lượng thanh trắc nhiều hơn thanh bằng)
Tình cảm sôi nổi, biến động hơn
Âm
Bổ túc vấn đề
Thanh bằng ( Có số lượng thanh bằng nhiều hơn thanh trắc)
Tình cảm êm ái dịu dàng hơn
Những tiểu phẩm có số lượng thanh âm và thanh dương bằng nhau hoặc chênh nhau ít là những
tiểu phẩm có nội dung đấu tranh, phê phán mạnh mẽ.
Xin nêu mấy ví dụ để minh hoạ cho quy luật tình cảm tự nhiên của số lượng thanh âm, dương như
sau:
Về câu ca dao:
Câu 1:
Con cò bay lả bay la
Bay từ đồng ruộng bay ra phố phường
Để dễ phân tích trước hết ta đánh dấu âm dương cho các từ trong câu:
Con cò bay lả bay la
- - - + - -
Bay từ đồng ruộng bay ra phố phường
- - - + - - + -
Trong câu ca dao này, vế nêu vấn đề có nội dung tình cảm nhẹ nhàng, man mác, êm ái, cho nên
trong sáu thanh thì có một thanh dương ở từ “lả”, vế bổ túc vấn đề có nội dung tình cảm biến điệu
phong phú hơn cho nên trong 8 thanh đã có 2 thanh dương ở những từ “ruộng, phố”.
Nội dung của tiểu phẩm này có tính nhẹ nhàng êm ái cho nên trong tổng số 14 thanh thì có 3 là
dương, 11 là âm.
Câu 2:
Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?
Ta đánh âm dương cho các từ trong câu:
Hỡi cô tát nước bên đàng
+ - + + - -
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi ?
- - + + - - + -
Trong câu ca dao thứ hai này, vế nêu vấn đề có nội dung tình cảm gay gắt, trịnh thượng cho nên
trong 6 từ thì đã có đến 3 từ là thanh dương; ở vế thứ 2 tuy vẫn là câu hỏi, nhưng nội dung tình cảm
đã ngả sang trữ tình, có hình ảnh thơ mộng hơn cho nên trong 8 từ chỉ có 3 thanh dương, còn lại 5
thanh âm.
Nội dung tiểu phẩm là một câu hỏi có tính chất gợi mở, bắt đầu bằng một câu chuyện tình tự nhưng
chưa có lời đáp nên tổng số từ trong tiểu phẩm có 14 từ có tới 6 thanh dương và 8 thanh âm, tỷ lệ
âm dương chênh nhau ít là sự gay cấn vướng mắc tình cảm.
Về câu đối, xin lấy 2 câu đối của Cao Bá Quát làm minh hoạ như sau:
Câu thứ nhất:
Ông nghè ra vế đối: Ngói đỏ lợp nghè, lớp trên đè lớp dưới
Ông Quát đối : Đá xanh xây cống, hòn dưới nống hòn trên.
Ta đánh dấu âm dương cho các từ trong hai vế đối:
Ngói đỏ lợp nghè, lớp trên đè lớp dưới
+ + + - + - - + -
Đá xanh xây cống, hòn dưới nống hòn trên
+ - - + - + + - -
Theo quy luật, ngoài vế đối ý, Đối nghĩa của từ (ngày xưa gọi là nghĩa bóng và nghĩa đen), người
đối còn phải đối về tính chất âm dương của từng từ theo thứ tự âm dương của câu đối.
Theo quy luật tình cảm mà xét, ta thấy vế ra đối có 9 từ, trong đó 6 thanh dương và 3 thanh âm,
tính chất dương lấn át âm, nó rất phù hợp ý của ông nghè mượn thế bề trên cả về tuổi đời và học vị,
dùng hình ảnh ngôn ngữ trấn áp như “lợp, đè”, và buộc đối phương chỉ được phép đối lại với nội
dung cho phép trong phạm vi từ ngữ có 6 thanh âm và 3 thanh dương.
Cao Bá Quát vốn có hiểu biết sâu sắc về bản chất ngôn ngữ tiếng Việt, ngoài việc dùng từ ngữ có
đối về ý, về phương của nghĩa từ như nống đối với đè, xanh đối với đỏ, dưới đối với trên, đá đối
với ngói, ông còn phá bỏ tỉ lệ bắt buộc phải có trong vế đối về âm dương là 6 - ; 3 + thay vào đó
bằng tỷ lệ 5 -; 4 +. Tỷ lệ được ông dùng 5 -, 4 + đã bộc lộ tâm trạng gay gắt của ông, thanh được
thay thế để có tỷ lệ mới này lại nằm ở từ đầu tiên của vế đối, từ được dùng là “đá” đối với “ngói”
thì rất là chỉnh. Ông nghè tuy hiểu rằng Quát rất coi thường ông nhưng về tài văn chương của Quát
thì đã tỏ ra xuất chúng nên ông nghè đành phải chấp nhận một sự thật cay đắng chà xát vào tính
cao ngạo của nghè.
Câu thứ hai:
Vua Minh Mạng ra: Nước trong leo lẻo cá đớp cá
Cao Bá Quát đối: Trời nắng chang chang người trói người.
Câu đối này được ra và đối trong điều kiện người học trò trẻ bị trói trước Thiên tử dưới chế độ
phong khiến. Cái chết, cái sống của cậu học trò vi phạm điều cấm về nghi lễ chỉ được giải thoát
bằng tài văn chương như ông vua đã hoạch định, và chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi, ông đối.
Ta cũng đem đánh dấu âm dương của từ ngữ ở cả hai vế đối như sau:
Nước trong leo lẻo cá đớp cá
+ - - + + + +
Trời nắng chang chang người trói người.
- + - - - + -

Bài HÌnh Trụ


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Bài HÌnh Trụ": http://123doc.vn/document/552586-bai-hinh-tru.htm


Năm học: 2008 - 2009
Năm học: 2008 - 2009
Phßng gd & ®t hun B×nh Liªu
Phßng gd & ®t hun B×nh Liªu
tr­êng PTDt Néi tró
tr­êng PTDt Néi tró
Giáo viên:
Ph
Ph
ạm Quang Hồng
ạm Quang Hồng
Mơn: Hình Học – 9
Tiết : 58
1
Trong chương trình hình học lớp 8, các em đã làm quen với một
số hình trong khơng gian, nhưng đó là các hình mà các mặt của
chúng đều phẳng
Hình hộp chữ nhật
Hình lập phương Hình chóp
Hình lăng trụ
Hình lăng trụ
tam giác đều
Hình chóp cụt
2
Ở chương IV này ta làm quen với hình trụ, hình nón và hình cầu
đó là những hình khơng gian có những mặt là mặt cong. Bài học
đầu tiên của chương là “Hình Trụ - Diện tích xung quanh và thể
tích của hình trụ”
Các em quan sát một số
cơng trình kiến trúc được
xây dựng dưới dạng hình
trụ sau:
3
CHƯƠNG IV: HÌNH TRỤ - HÌNH CẦU - HÌNH NĨN.
TIẾT 58: Bài 1: HÌNH TRỤ - DIỆN TÍCH XUNG QUANH VÀ THỂ TÍCH CỦA HÌNH TRỤ
1. HÌNH TRỤ:
* DA và CB qt nên
hai đáy của hình trụ.
* Cạnh AB qt nên
mặt xung quanh của
hình trụ, mỗi vị trí của
AB được gọi là một
đường sinh.
* Các đường sinh của hình trụ
vng góc với hai mặt đáy
* DC gọi là trục của hình trụ.
Quan sát hình sau:
?1. Lọ gốm ở hình 74 có dạng một hình trụ. Quan sát hình và cho
biết đâu là đáy, đâu là mặt xung quanh, đâu là đường sinh của hình
trụ đó?
Mơ Hình
4
Hình 73
Hình 74
A
C
D
B
E
A
F
C
D
B
E
F
B
A
C
D
CHƯƠNG IV: HÌNH TRỤ - HÌNH CẦU - HÌNH NĨN.
TIẾT 58: Bài 1: HÌNH TRỤ. DIỆN TÍCH XUNG QUANH VÀ THỂ TÍCH CỦA HÌNH TRỤ
1. HÌNH TRỤ:
* DA và CB qt nên
hai đáy của hình trụ.
* Cạnh EF qt nên
mặt xung quanh của
hình trụ, mỗi vị trí của
EF được gọi là một
đường sinh.
* Các đường sinh của hình trụ
vng góc với hai mặt đáy
* DC gọi là trục của hình trụ.
Quan sát hình sau:
I
L
K
Hãy cho biết IK và IL đâu là đường sinh, đâu
khơng phải là đường sinh? Vì sao?
IL khơng phải là
đường sinh
IK là đường
sinh
5
E
F
B
A
C
D
CHƯƠNG IV: HÌNH TRỤ - HÌNH CẦU - HÌNH NĨN.
TIẾT 58: Bài 1: HÌNH TRỤ - DIỆN TÍCH XUNG QUANH VÀ THỂ TÍCH CỦA HÌNH TRỤ
1. HÌNH TRỤ:
* DA và CB qt nên
hai đáy của hình trụ.
* Cạnh AB qt nên
mặt xung quanh của
hình trụ, mỗi vị trí của
AB được gọi là một
đường sinh.
* Các đường sinh của hình trụ
vng góc với hai mặt đáy
* DC gọi là trục của hình trụ.
4
E
F
B
A
C
D
B
1
: Vẽ mặt đáy thư nhất của
hình trụ là một hình e líp có
tâm D
B
2
: Vẽ mặt xung quanh
của hình trụ bằng cách vẽ
hai đoạn thẳng song song
và bằng nhau
B
3
: Vẽ đáy thứ hai của
hình trụ cũng là hình e
líp có tâm C trước tiên
vẽ phần nhìn thấy bằng
nét liền và phần khơng
nhìn thấy bằng nét đứt
B
4
: Vẽ đoạn thẳng CD
bằng nét đứt ta có trục của
hình trụ
.
D
.
C
Hường dẫn vẽ hình trụ
CHƯƠNG IV: HÌNH TRỤ - HÌNH CẦU - HÌNH NĨN.
TIẾT 58: Bài 1: HÌNH TRỤ. DIỆN TÍCH XUNG QUANH VÀ THỂ TÍCH HÌNH TRỤ
1. HÌNH TRỤ:
* AD và CB qt nên
hai đáy của hình trụ.
* Cạnh EF qt nên
mặt xung quanh của
hình trụ, mỗi vị trí của
EF được gọi là một
đường sinh.
* Các đường sinh của hình trụ
vng góc với hai mặt đáy
* DC gọi là trục của hình trụ.

Bài tập 1( SGK/110): Hãy điền thêm các tên gọi vào ơ
trống
6
E
F
B
A
C
D
1.
2.
3.
8
CHƯƠNG IV: HÌNH TRỤ - HÌNH CẦU - HÌNH NĨN.
TIẾT 58: Bài 1: HÌNH TRỤ. DIỆN TÍCH XUNG QUANH VÀ THỂ TÍCH HÌNH TRỤ
1. HÌNH TRỤ:
* DA và CB qt nên
hai đáy của hình trụ.
* Cạnh EF qt nên
mặt xung quanh của
hình trụ, mỗi vị trí của
EF được gọi là một
đường sinh.
* Các đường sinh của hình trụ
vng góc với hai mặt đáy
* DC gọi là trục của hình trụ.
Bài tập 3( SGK/110): Quan sát ba hình dưới đây và chỉ ra chiều
cao, bán kính đáy của mỗi hình.
10cm
8cm
1cm
11 cm 7 cm
3 cm
a)
b) c)
Hình 81
Trả lời
E
F
B
A
C
D
Khi cắt hình trụ bởi mặt
phẳng song song với đáy, thì
phần mặt phẳng nằm trong
hình trụ ( mặt cắt) là một
hình tròn bằng hình tròn
đáy.
Khi cắt hình trụ bởi mặt
phẳng song song với với
trục DC thì mặt cắt là hình
chữ nhật.
D
C
CHƯƠNG IV: HÌNH TRỤ - HÌNH CẦU - HÌNH NĨN.
TIẾT 58: Bài 1: HÌNH TRỤ. DIỆN TÍCH XUNG QUANH VÀ THỂ TÍCH HÌNH TRỤ
7
1. HÌNH TRỤ:
* DA và CB qt nên
hai đáy của hình trụ.
* Cạnh EF qt nên
mặt xung quanh của
hình trụ, mỗi vị trí của
EF được gọi là một
đường sinh.
* Các đường sinh của hình trụ
vng góc với hai mặt đáy
* DC gọi là trục của hình trụ.
E
F
B
A
C
D
2. CẮT HÌNH TRỤ BỞI MỘT
MẶT PHẲNG
CHƯƠNG IV: HÌNH TRỤ - HÌNH CẦU - HÌNH NĨN.
TIẾT 58: Bài 1: HÌNH TRỤ. DIỆN TÍCH XUNG QUANH VÀ THỂ TÍCH CỦA HÌNH TRỤ
1. HÌNH TRỤ:
* DA và CB qt nên
hai đáy của hình trụ.
* Cạnh EF qt nên
mặt xung quanh của
hình trụ, mỗi vị trí của
EF được gọi là một
đường sinh.
* Các đường sinh của hình trụ
vng góc với hai mặt đáy
* DC gọi là trục của hình trụ.
Quan sát hình sau:
2. CẮT HÌNH TRỤ BỞI MỘT
MẶT PHẲNG
(SGK 108)
?2. Chiếc cốc thủy tinh và ống nghiệm đều có dạng hình trụ (Hình
76 SGK), phải chăng mặt nước trong cốc và mặt nước trong ống
nghiệm là những hình tròn?
ba
Hình a Mặt nước trong cốc có dạng hình tròn.
9
E
F
B
A
C
D
Hình 76
Hình b Mặt nước trong ống nghiệm có dạng khơng phải
là hình tròn.
11
CHƯƠNG IV: HÌNH TRỤ - HÌNH CẦU - HÌNH NĨN.
TIẾT 58: Bài 1 : HÌNH TRỤ - DIỆN TÍCH XUNG QUANH VÀ THỂ TÍCH CỦA HÌNH TRỤ
1. HÌNH TRỤ:
* DA và CB qt nên
hai đáy của hình trụ.
* Cạnh EF qt nên
mặt xung quanh của
hình trụ, mỗi vị trí của
EF được gọi là một
đường sinh.
* Các đường sinh của hình trụ
vng góc với hai mặt đáy
* DC gọi là trục của hình trụ.
2. CẮT HÌNH TRỤ BỞI MỘT
MẶT PHẲNG
(SGK)
?3. Quan sát H.77 và điền số thích hợp vào dấu “ ” :
- Chiều dài của hình chữ nhật bằng chu vi đáy của hình trụ và
bằng:
- Diện tích hình chữ nhật:
- Diện tích một đáy của hình trụ:
-
Tổng diện tích hình chữ nhật và diện tích hai hình tròn đáy (diện
tích tồn phần) của hình trụ:
H.77
3. DIỆN TÍCH XUNG QUANH
CỦA HÌNH TRỤ
Hình trụ bán kính đáy r và chiều
cao h, ta có
2
22 rrhS
tp
ππ
+=
* Diện tích tồn phần:
* Diện tích xung quanh:

rhS
xq
π
2
=
5 cm
10 cm 10 cm
A
B
5 cm
5 cm
π
10 (cm)
ππ
10 x 10 = 100 (cm
2
)
π
ππ
100 + 25 = 125 (cm
2
)
r cm
r cm
r cm
2 x x 5 (cm)
π
2 x x r (cm)
π
π
2r (cm)

π
π
2r x h = 2hr (cm
2
)
π
π
25 (cm
2
)x 5 x 5 =

π
x r
2
(cm
2
)
h cm
ππ
2hr + 2r
2
(cm
2
)
A
B
Quan sát hình sau:
h cm
E
F
B
A
C
D
12
CHƯƠNG IV: HÌNH TRỤ - HÌNH CẦU - HÌNH NĨN.
TIẾT 58: Bài 1: HÌNH TRỤ. DIỆN TÍCH XUNG QUANH VÀ THỂ TÍCH CỦA HÌNH TRỤ
1. HÌNH TRỤ:
* DA và CB qt nên
hai đáy của hình trụ.
* Cạnh EF qt nên
mặt xung quanh của
hình trụ, mỗi vị trí của
EF được gọi là một
đường sinh.
* Các đường sinh của hình trụ
vng góc với hai mặt đáy
* DC gọi là trục của hình trụ.
Quan sát hình sau:
2. CẮT HÌNH TRỤ BỞI MỘT
MẶT PHẲNG
(SGK)
3. DIỆN TÍCH XUNG QUANH
CỦA HÌNH TRỤ
Hình trụ bán kính đáy r và chiều
cao h, ta có
2
22 rrhS
tp
ππ
+=
* Diện tích tồn phần:
* Diện tích xung quanh:

rhS
xq
π
2
=
Giả sử hình trụ có diện tích đáy là S và chiều cao
của hình trụ là h Vậy thể tích của hình trụ được xác
định như thế nào?
4. THỂ TÍCH HÌNH TRỤ
(S là diện tích đáy, h là chiều cao).
* Cơng thức tính thể tích hình trụ:
hrShV
2
π
==
S
r
h
E
F
B
A
C
D
13
CHƯƠNG IV: HÌNH TRỤ - HÌNH CẦU - HÌNH NĨN.
TIẾT 58: Bài 1: HÌNH TRỤ. DIỆN TÍCH XUNG QUANH VÀ THỂ TÍCH CỦA HÌNH TRỤ
1. HÌNH TRỤ:
* AD và CB qt nên
hai đáy của hình trụ.
* Cạnh EF qt nên
mặt xung quanh của
hình trụ, mỗi vị trí của
EF được gọi là một
đường sinh.
* Các đường sinh của hình trụ
vng góc với hai mặt đáy
* DC gọi là trục của hình trụ.
2. CẮT HÌNH TRỤ BỞI MỘT
MẶT PHẲNG
(SGK)
3. DIỆN TÍCH XUNG QUANH
CỦA HÌNH TRỤ
Hình trụ bán kính đáy r và chiều
cao h, ta có
2
22 rrhS
tp
ππ
+=
* Diện tích tồn phần:
* Diện tích xung quanh:

rhS
xq
π
2
=
4. THỂ TÍCH HÌNH TRỤ
(S là diện tích đáy, h là chiều cao).
* Cơng thức tính thể tích hình trụ:
hrShV
2
π
==
Ví dụ: Các kích thước của một vòng bi cho trên hình 78. Hãy tính thể
tích của vòng bi (phần giữa hai hình trụ)
Giải: Thể tính cần phải tính
bằng hiệu các thể tích V
2
, V
1
của
hai hình trụ có cùng chiều cao h
và bán kính các đường tròn đáy
tương ứng là a, b.
hbhaVVV
22
12
ππ
−=−=
Ta có:
)(
22
bah
−=
π
b
a
h
Hình 78
E
F
B
A
C
D
14
CHƯƠNG IV: HÌNH TRỤ - HÌNH CẦU - HÌNH NĨN.
TIẾT 58: Bài 1: HÌNH TRỤ. DIỆN TÍCH XUNG QUANH VÀ THỂ TÍCH CỦA HÌNH TRỤ
1. HÌNH TRỤ:
* DA và CB qt nên
hai đáy của hình trụ.
* Cạnh EF qt nên
mặt xung quanh của
hình trụ, mỗi vị trí của
EF được gọi là một
đường sinh.
* Các đường sinh của hình trụ
vng góc với hai mặt đáy
* DC gọi là trục của hình trụ.
2. CẮT HÌNH TRỤ BỞI MỘT
MẶT PHẲNG
(SGK)
3. DIỆN TÍCH XUNG QUANH
CỦA HÌNH TRỤ
Hình trụ bán kính đáy r và chiều
cao h, ta có
2
22 rrhS
tp
ππ
+=
* Diện tích tồn phần:
* Diện tích xung quanh:

rhS
xq
π
2
=
4. THỂ TÍCH HÌNH TRỤ
(S là diện tích đáy, h là chiều cao).
* Cơng thức tính thể tích hình trụ:
hrShV
2
π
==
Bài tập 4 ( SGK/110) : Một hình trụ có bán kính đáy là 7 cm, diện
tích xung quanh bằng 352 cm
2
. Khi đó, chiều cao của hình trụ là:
(B) 4,6 cm(A) 3,2 cm
Hãy chọn kết quả đúng ghi vào ơ trống .
(C) 1,8 cm (D) 8 cm
E
F
B
A
C
D
(E) Một kết quả khác

Thứ Tư, 19 tháng 3, 2014

Tài liệu Misconceptions about the Causes of Cancer pptx


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Tài liệu Misconceptions about the Causes of Cancer pptx": http://123doc.vn/document/1036577-tai-lieu-misconceptions-about-the-causes-of-cancer-pptx.htm


Risk Controversy Series
General Editor, Laura Jones
The Fraser Institute’s Risk Controversy Series publishes a number
of short books explaining the science behind today’s most pressing
public-policy issues, such as global warming, genetic engineer-
ing, use of chemicals, and drug approvals. These issues have two
common characteristics: they involve complex science and they
are controversial, attracting the attention of activists and media.
Good policy is based on sound science and sound economics. The
purpose of the Risk Controversy Series is to promote good policy
by providing Canadians with information from scientists about
the complex science involved in many of today’s important policy
debates. The books in the series are full of valuable information
and will provide the interested citizen with a basic understand-
ing of the state of the science, including the many questions that
remain unanswered.
Centre for Studies in Risk, Regulation,
and Environment
The Fraser Institute’s Centre for Studies in Risk, Regulation, and
Environment aims to educate Canadian citizens and policy-mak-
ers about the science and economics behind risk controversies.
As incomes and living standards have increased, tolerance for the
risks associated with everyday activities has decreased.
While this decreased tolerance for risk is not undesirable, it has
made us susceptible to unsound science. Concern over smaller
and smaller risks, both real and imagined, has led us to demand
more regulation without taking account of the costs, including
foregone opportunities to reduce more threatening risks. If the
costs of policies intended to reduce risks are not accounted for,
there is a danger that well-intentioned policies will actually reduce
public well-being. To promote more rational decision-making, the
Centre for Studies in Risk, Regulation, and Environment will focus
on sound science and consider the costs as well as the benefi ts of
policies intended to protect Canadians.
For more information about the Centre, contact Kenneth Green,
Director, Centre for Studies in Risk, Regulation, and Environment,
The Fraser Institute, Fourth Floor, 1770 Burrard Street, Vancouver,
BC, V6J 3G7; via telephone: 604.714.4547; via fax: 604.688.8539; via
e-mail: keng@fraserinstitute.ca
Misconceptions about
the Causes of Cancer

Copyright ©2002 by The Fraser Institute. All rights reserved. No
part of this book may be reproduced in any manner whatsoever
without written permission except in the case of brief passages
quoted in critical articles and reviews.
This publication is based on Gold, L. S., Slone, T. H., Ames, B. N.,
and Manley, N. B. (2001), Pesticide residues in food and cancer
risk: A critical analysis, in Handbook of Pesticide Toxicology (R. I.
Krieger, ed.), Vol. 1, pp. 799–843, Academic Press, New York; and
Gold, L. S., Ames, B. N., and Slone, T. H. (2002), Misconceptions
about the causes of cancer, in Human and Environmental Risk
Assessment: Theory and Practice (D. Paustenbach, ed.), pp. 1415–
1460, John Wiley & Sons, New York. It was updated and adapted
for Canada by the authors.
The authors of this book have worked independently and opinions
expressed by them are, therefore, their own and do not neces-
sarily refl ect the opinions of the members or the trustees of The
Fraser Institute.
Printed in Canada.
National Library of Canada Cataloguing in Publication
Main entry under title:
Misconceptions about the causes of cancer / Lois Swirsky Gold . . .
[et al.]; general editor, Laura Jones.
(Risk controversy series ; 3)
Includes bibliographical references.
ISBN 0-88975-195-1
1. Cancer Environmental aspects. 2. Cancer Etiology.
I. Gold, Lois Swirsky, 1941- II. Centre for Studies in Risk and
Regulation. III. Series.
RC268.25.M57 2002 616.99’4071 C2002-911284-2
iv | The Fraser Institute
The Fraser Institute | v
Contents
About the authors / vii
Acknowledgments / ix
Foreword / xi
Summary / 3
Misconception 1—Cancer rates are soaring
in the United States and Canada / 5
Misconception 2—Synthetic chemicals
at environmental exposure levels are an
important cause of human cancer / 7
Misconception 3—Reducing pesticide
residues is an effective way to prevent
diet-related cancer / 15
Misconception 4—Human exposures to
potential cancer hazards are primarily
to synthetic chemicals / 23
vi | The Fraser Institute
Misconception 5—The toxicology of synthetic
chemicals is different from that of natural
chemicals / 27
Misconception 6—Cancer risks to humans
can be assessed by standard high-dose
animal cancer tests / 31
Misconception 7—Synthetic chemicals pose greater
carcinogenic hazards than natural chemicals / 43
Misconception 8—Pesticides and other synthetic
chemicals are disrupting hor mones / 87
Misconception 9—Regulation of low, hypothetical
risks is effective in advancing public health / 89
Glossary / 91
Appendix—Method for calculating
the HERP index / 97
References and further reading / 99
The Fraser Institute | vii
About the authors
Lois Swirsky Gold is Director of the Carcinogenic Po-
tency Project and a Senior Scientist, University of California,
Berkeley and Lawrence Berkeley National Laboratory. She
has published 100 papers on analyses of animal cancer
tests and implications for cancer pre vention, interspecies
extrapolation, and risk assessment methodology. The Car-
cinogenic Potency Database (CPDB), published as a CRC
handbook, analyzes results of 6000 chronic, long-term
cancer tests on 1,400 chemicals. Dr. Gold has served on the
Panel of Expert Reviewers for the National Toxicology Pro-
gram, the Boards of the Harvard Center for Risk Analysis,
and the Annapolis Center, was a member of the Harvard
Risk Management Group and is a member of the Advisory
Committee to the Director, National Center for Environ-
mental Health, Centers for Disease Control and Prevention
(CDC). She is among the most highly cited scientists in her
fi eld and was awarded the Annapolis Center Prize for risk
communication. E-mail: cpdb@potency.berkeley.edu
Thomas H. Slone has been a scientist on the Carcinogenic
Potency Project at the University of California, Berkeley and
at Lawrence Berkeley National Laboratory for 17 years. He
has co-authored many of the principal publications of the
project. E-mail: cpdb@potency.berkeley.edu.
viii | The Fraser Institute
Neela B. Manley has been a scientist on the Carcinogenic
Potency Project at the University of California, Berkeley
and at Lawrence Berkeley National Laboratory for 13 years.
Dr. Manley works on developing the Carcinogenic Potency
Database and has co-authored many papers on the project.
E-mail: cpdb@potency.berkeley.edu.
Bruce N. Ames is a Professor of Biochemistry and Molecu-
lar Biology and is a Senior Scientist at Children’s Hospital
Oakland Research Institute. He was the Director of the
National Institute of Environmental Health Sciences Center,
University of California, Berkeley. He is a member of the Na-
tional Academy of Sciences and was on their Commission
on Life Sciences. He was a Member of the National Cancer
Advisory Board of the National Cancer Institute (1976–1982).
He developed the Ames test for detecting mutagens. Among
numerous honors, he is the past recipient of the Japan Prize
and the US National Medal of Science. His more than 460
publications have resulted in his being among the few hun-
dred most-cited scientists (all fi elds). E-mail: BNAmes@UCL
ink4.Berkeley.edu.
The Fraser Institute | ix
Acknowledgments
We thank the many researchers who have provided data
and opinions about their work for development of the
Carcinogenic Potency Database, as well as numerous col-
leagues who have given exposure assessment informa-
tion for the development of the HERP table and have pro-
vided comments on this work over many years. The work
of co-authors of earlier papers contributed signifi cantly
to this analysis, including particularly Leslie Bernstein,
Jerrold Ward, David Freedman, David W. Gaylor, Richard
Peto, Margie Profet, and Renae Magaw. We thank Howard
Maccabee for reviewing the manuscript. We also thank Kat
Wentworth for administrative and technical assistance.
This work was supported by a grant from the Offi ce of
Biological and Environmental Research (BER), US Depart-
ment of Energy, grant number DE-AC03-76SF00098 to L.S.G.
at Lawrence Berkeley National Laboratory; by the National
Institute of Environmental Health Sciences Center Grant
ESO1896 at the University of California, Berkeley; and by a
grant for research in disease prevention through the Dean’s
Offi ce of the College of Letters and Science, University of
California, Berkeley to LSG and BNA.
x | The Fraser Institute