Lời mở đầu
Máy tính trên thị trờng là một trong những sản phẩm luôn đợc chú trọng
và quan tâm, luôn tìm đợc chỗ đứng trên thị trờng. Trong môi trờng nh hiện nay
khi có nhiều đơn vị hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tin học thì việc cạnh
tranh là không thể tránh khỏi, có thể nói sự cạnh tranh trên thị trờng Công Nghệ
Thông Tin Việt Nam là rất gay gắt và khốc liệt. Đó là sự cạnh tranh để bán máy
tính giữa các công ty tin học trong nớc với nhau và giữa cá nhà sản xuất nớc
ngoài nhằm giành giật thị trờng và thu lợi nhuận tối đa. Đây là một thị trờng
lớn, sôi động, phát triển mạnh và cạnh tranh gay gắt.
Ra đời trong môi trờng nh vậy, Công ty Cổ phần Tin học & Thơng mại
IT JSC là công ty tuy còn non trẻ nhng nhờ có tập thể ban lãnh đạo công ty
đã tìm cho mình con đờng đi đúng và dần dang chiếm lĩnh thị trờng tin học Việt
Nam. Tuy IT JSC mới chỉ thành lập từ năm 2001, IT JSC đã có tốc độ
phát triển không ngừng về doanh số và cán bộ công nhân viên.
IT JSC luôn luôn đổi mới hoạt động đi vào những hớng mũi nhọn của
công nghệ thông tin và đặc biệt quan tâm đến uy tín, chất lợng, tạo ấn tợng về
sự tồn tại của mình trong xã hội.
IT JSC đã gặt hái đợc nhiều thành công, tuy nhiên, hiện nay IT JSC
đang đứng trớc sự cạnh tranh rất gay go và ác liệt đối với các hãng máy tính
Đông Nam á đang tràn ngập trên thị trờng nội địa. Đây là điều ban lãnh đạo IT
JSC đang trăn trở nhất hiện nay, làm sao để tìm ra hớng đi mới để giành lấy -
u thế về công ty. Đây là vấn đề nóng bỏng, nó quyết định sự tồn tại và phát triển
của công ty. Qua quá trình thực tập ở Phòng Kinh doanh của công ty, em đã tập
trung đi sâu vào nghiên cứu một số vấn đề về sức cạnh tranh máy tính và các
thiết bị tin học của công ty IT JSC. Và mong muốn đợc góp sức mình trong
việc tìm ra các biện pháp tốt nhất để nâng cao sức cạnh tranh cho các loại máy
tính và thiết bị tin học của công ty để công ty có thể kinh doanh thành công mặt
hàng này trong môi trờng cạnh tranh khốc liệt nh hiện nay.
1
Vì vậy em đã quyết định chọn đề tài là: Giải pháp nâng cao sức cạnh
tranh trong việc kinh doanh máy tính và thiết bị tin học của công ty IT
JSC.
Mục đích nghiên cứu của luận văn là để nhằm nghiên sức cạnh tranh các
mặt hàng máy tính và thiết bị tin học của công ty trên thị trờng từ đó đề xuất
các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cho các sản phẩm này của
công ty IT JSC.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu sức cạnh tranh một số mặt
hàng chủ yếu của công ty trên thị trờng.
Luận văn bao gồm 3 chơng:
Chơng I: Cơ sở lý luận cho việc nâng cao sức cạnh tranh các sản phẩm
thiết bị tin học và máy tính nhập khẩu của công ty IT - JSC trên thị trờng.
Chơng II: Thực trạng cạnh tranh và nâng cao sức cạnh tranh của các
thiết bị tin học và máy tính của Công ty IT - JSC hiện nay.
Chơng III: Phơng hớng và giải pháp nâng cao sức cạnh tranh các thiết bị
tin học và máy tính của công ty IT JSC.
Do kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên luận văn của em cha thực sự
hoàn chỉnh, em rất mong có sự góp ý của các thầy cô, các anh chị và các bạn để
luận văn đợc hoàn thiện hơn.
2
Chơng I:
Cơ sở lý luận về sức cạnh tranh
của hàng hoá
1.1. Khái niệm cạnh tranh.
1.1.1. Các quan điểm về cạnh tranh.
Có rất nhiều những quan điểm về cạnh tranh khác nhau, nhng thực chất
của cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp là đa ra những chiến lợc, chiến thuật
phù hợp với tiềm lực của doanh nghiệp, ứng xử tốt với các chiến lợc và chiến
thuật của đối thủ cạnh tranh nhằm giành lợi thế trong sản xuất tiêu thụ hàng hoá
và dịch vụ nhằm tối đa hoá lợi nhuận.
Quan điểm I: Cạnh tranh là sử dụng các biện pháp để chiến thắng trên thị
trờng, để mặt hàng máy tính của mình có chỗ đứng trên thị trờng.
Quan điểm II: Cạnh tranh là sử dụng các biện pháp chính sách và nghệ
thuật để doanh nghiệp tạo ra nhiều lợi thế tồn tại trên thị trờng. Cạnh
tranh không nhất thiết là phải làm cho doanh nghiệp mình thắng.
Quan điểm III: Cạnh tranh là sử dụng các chính sách biện pháp và nghệ
thuật để thực hiện các chiến lợc cạnh tranh đặc biệt là chiến lợc về tài
chính và lợi nhuận.
Kinh tế thị trờng luôn có xu hớng ra tăng nhiều hãng cùng tham gia voà
một lĩnh vực do đó cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt. Quy luật cạnh tranh sẽ
lần lợt gạt khỏi thị trờng những doanh nghiệp không có khả năng phân bố
nguồn lực tới các hãng hoạt động có hiệu quả hơn. Đồng thời nó buộc các
doanh nghiệp phải tự vận động tạo ra cho mình một lợi thế so với đối thủ để tồn
tại và phát triển.
1.1.2. Khái niệm cạnh tranh.
Cạnh tranh ngày một sâu rộng và trở nên gay gắt, nó là yếu tố nội tại của
hàng hoá và tiếp cận thị trờng không thể tránh đợc. Cạnh tranh buộc doanh
3
nghiệp phải xuất sắc và cung cấp những sản phẩm mà thị trờng cần để đáp ứng
nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của ngời tiêu dùng.
Cạnh tranh là một hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp, nó đợc thể
hiện trong các biện pháp kinh doanh, có thể hiểu cạnh tranh của các doanh
nghiệp là việc sử dụng hệ thống cá chính sách, các công cụ của các doanh
nghiệp để đối phó và phản ứng với các doanh nghiệp khác nhằm mục đính tồn
tại và phát triển trên thị trờng và để thu lợi nhuận dự kiến hoặc lợi nhuận tối đa.
Cạnh tranh giúp cho doanh nghiệp hoàn thiện chính sách nâng cao sức
cạnh tranh cho bản thân doanh nghiệp và các mặt hàng của doanh nghiệp để đạt
mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận. Trong quá trình cạnh tranh doanh
nghiệp sẽ dần dần khẳng định đợc vị trí và uy tín của mình trên thị trờng.
1.2. Phân loại cạnh tranh.
1.2.1. Căn cứ theo ngành.
1.2.1.1.Cạnh tranh giữa các ngành.
Cạnh tranh giữa các nghành là sự cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp
mua bán hàng hoá dịch vụ khác nghành với nhau nhằm thu lợi nhuận và có tỉ
xuất lợi nhuận cao hơn so với vốn đã bỏ ra. Trong quá trình cạn tranh này các
chủ doanh nghiệp luôn đầu t các nghành có lợi hất nên đã chuyển vốn từ
nghành ít lợi nhuận sang ngành có nhiều lợi nhuận.
1.2.1.2. Cạnh tranh trong nội bộ ngành.
Cạnh tranh trọng nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
cùng kinh doanh một loại hàng hoá hay dịch vụ nhằm giành lấy các điều kiện
có lợi nhất trong việc sản xuất, tiêu thụ hàng hoá dịch vụ đó. Mục đích là đạt đ-
ợc lợi nhuận siêu nghạch
1.2.2. Căn cứ vào chủ thể tham gia cạnh tranh.
1.2.1.1. Cạnh tranh giữa ngời mua và ngời bán.
Cạnh tranh giữa ngời bán với ngời mua là cuộc cạnh tranh diễn ra theo
Luật mua rẻ - bán đắt. Ngời mua luôn muốn đợc mua rẻ, ngợc lại ngời bán
luôn có tham vọng bán đắt. Sự cạnh tranh này đợc thể hiện trong quá trình mặc
cả và cuối cùng giá cả đợc hình thành và hành động bán mua đợc thực hiện.
4
1.2.2.2. Cạnh tranh giữa ngời mua với nhau.
Là sự cạnh tranh trên cơ sở của quy luật cung cầu. Khi một loại hàng hóa
dịch vụ nào đó mà mức cung nhỏ hơn nhu cầu thì cuộc cạnh tranh càng trở lên
quyết liệt và giá hàng hoá dịch vụ sẽ tăng, cuối cùng ngời bán thu đợc lợi nhuận
cao, còn ngời mua mất thêm một số tiền. Đây là cuộc cạnh tranh mà ngời mua
tự làm hại mình.
1.2.2.3. Cạnh tranh giữa ngời bán với nhau.
Là cuộc cạnh tranh trên vũ đài thị trờng, đó là sự giành giật các lợi thế
trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ nhằm thu đợc lợi nhuận lớn nhất.
Khi sản xuất hàng hóa càng phát triển, số ngời bán càng tăng thì cạnh tranh
càng quyết liệt. Trong quá trình ấy, một mặt sản xuất hàng hóa với quy luật
cạnh tranh sẽ lần lợt gat ra khỏi thị trờng những chủ doanh nghiệp không có
chiến lợc cạnh tranh thích hợp, Mặt khác nó mở đờng cho những doanh nghiệp
nắm chắc đợc vũ khí phát triển.
1.3. Các công cụ và hình thức cạnh tranh.
1.3.1. Các công cụ cạnh tranh.
1.3.1.1. Cạnh tranh bằng sản phẩm.
Đây là một trong những hình thức cạnh tranh quan trọng nhất, chữ tín
của doanh nghiệp và tạo ra lợi thế có tính quyết định cho cạnh tranh.
Nhu cầu của ngời ngày càng có xu thế đi lên do vậy cuộc đời của mỗi
mẫu hàng ngắn dần. Sự sống còn của mỗi công ty phụ thuộc vào khả năng thay
đổi mẫu mã kiểu dáng nhanh. Sản xuất hàng loạt kết hợp với những mặt hàng
đơn chiếc phục vụ cho từng đối tợng ngời tiêu dùng sẽ nâng cao sức cạnh tranh
cho công ty. Thời kỳ chất lợng ăn đứt hình thức đã qua, khách hàng đòi hỏi
cả nội dung lẫn hình thức. Bao bì đẹp thể hiện sự tôn trọng đối với ngời tiêu
dùng.
Cạnh tranh thông qua việc xác định và đa ra thị trờng những sản phẩm có
chất lợng cao hơn, những sản phẩm này có u thế trên thơng trờng tuy nhiên cần
chú ý mối quan hệ giữa nâng cao chất lợng và giá bán để đảm bảo lợi thế của
sản phẩm có chất lợng cao.
5
1.3.1.2. Cạnh tranh bằng giá.
Giá cả là một trong những công cụ cạnh tranh quan trọng nhất. Định giá
có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng, vì nó là nhân tố quy định sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp. Định giá trong kinh doanh, đòi hỏi các doanh nghiệp
phải nghiên cứu các yếu tố một cách tỉ mỉ để có thể quy định giá thích hợp cho
sản phẩm của mình một cách phù hợp nhất vào một thời điểm nhất định nào đó.
Đa ra một chính sách giá cả nào, vào thời điểm nào cho phù hợp sẽ tạo nhiều
điều kiện thuận lợi cho công ty. Các đối thủ cách tranh sử dụng giá thấp hoặc
gia u đãi để bán hàng, với mức giá đó kênh phân phối của doanh nghiệp sẽ bị
rối loạn, ngời điều khiển kênh không quản lý đợc lực lợng bán hàng và phần lớn
ngời bán hàng vì chạy theo lợi ích kinh tế đã đi bán hàng cho đối thủ cạnh tranh
và do đó doanh nghgiệp không có ngời bán hàng sẽ bị phá sản. Cạnh tranh bằng
giá thực chất là tạo đợc nghệ thuật sử dụng giá và giá bán tạo ra nhiều lợi thế
trên thơng trờng. Các biện pháp cạnh tranh về giá mà các công ty đa ra là một
cơ sở giá linh hoạt. Nó không phải cố định mà thay đổi phù hợp theo tình hình
thị trờng, bao gồm:
Định giá thấp: Với mục đích thâm nhập thị trờng hay thu hút đợc một
khối lợng lớn khách hàng, nhanh chóng thu tiền về các công ty sẽ đa ra
mức giá thấp.
Sử dụng hạ giá: Thực chất là chú trọng đến việc quản lý chặt chẽ và chi
phí tiết kiệm chi phí và hạ thấp chi phí do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải
có sự lựa chọn công nghiệp và thiết bị. Hạ giá để chiếm lĩnh thị trờng của
sản phẩm và thực hiện chiến lợc về tài chính. Khi thị trờng đã chiếm lĩnh
đợc doanh nghiệp có thể lại hoàn giá theo mức cũ hoặc tơng đơng, trong
cạnh tranh hạ giá là biện pháp đợc sử dụng nhiều nhất.
Giá u đãi: Giá u đãi thờng có mức giá thấp hoặc rất thấp do đó nó trở
thành yếu tố lợi ích rất hấp dẫn đối với ngời mua và ngời tiêu dùng. Vì
vậy nó có khả năng lôi kéo nhu cầu xã hội về sản phẩm của doanh
nghiệp.
6
Giá thị trờng: Công ty không muốn lôi kéo khách hàng về phía mình
bằng mức giá thấp và đồng thời họ cũng không muốn mất khách hàng
nếu họ đánh giá quá cao thị trờng.
Cố định giá cao: Công ty muốn tối đa hoá lợi nhuận khu vực thị trờng
của mình thị công ty sẽ tìm cách dễ tăng giá dịch vụ.
1.3.2.2. Cạnh tranh bằng dịch vụ.
Phục vụ là một trong một trong số lĩnh vực có cạnh tranh mãnh liệt nhất,
đặc biệt trong lĩnh vực hiện nay. Nhiều hãng coi đây là địa bàn lợi hại nhất
trong việc trinh phục khách hàng. Chất lợng hàng hoá thì khó phân biệt nhng
trình độ và chất lợng dịch vụ thì khó qua mắt ngời tiêu dùng.
Ngời tiêu dùng hiện đại thờng quan tâm nhiều đến dịch vụ hơn là một số
yếu tố nh giá cả, thậm chí cả chất lợng của món hàng đã mua. Việc vận chuyển
ra sao, cách bảo hành nh thế nào, thời gian bảo dỡng đinh kỳ có thờng xuyên
hay không thái độ bên bán ra sao mỗi khi hàng hóa có vấn đề trục trặc.
Nh vậy chất lợng phục vụ là yếu tố hết sức quan trọng, chất lợng phục vụ
thay đổi tuỳ theo ngời cung cấp thời gian, địa điểm. Vì vậy để cạnh tranh hiệu
quả, nguyên tắc chung của họ là tạo sự tin tởng đối với khách hàng. Trong kinh
doanh các doanh nghiệp thờng phải đối đầu với tính thời vụ có lúc hoạt động
dồn dập, nhng cũng có lúc không có việc làm. Việc tạo ra một cơ cấu phục vụ
sẽ giúp đợc doanh nghiệp khắc phục đợc hạn chế trên và sẽ thoả mãn đợc nhu
cầu khách hàng, giảm bớt đợc rủi ro trong kinh doanh.
1.3.2.3.Cạnh tranh bằng uy tín.
Các hãng tranh nhau bỏ những khoản tiền lớn mua một số nhãn hiệu nổi
tiếng, hay đấu tranh chống bọn làm hàng giả, nâng cao chất lợng hàng hoá và
dịch vụ, cố gắng tiết kiệm các chi phí để hạ giá thành sản phẩm. cũng chỉ đẻ giữ
uy tín của công ty với khách hàng. Để tạo uy tín là vô cùng khó khăn, tốn kém và
vô cùng kì công, trong đó chỉ sơ xuất nhỏ cũng làm mất nó. Tạo đợc uy tín đã khó,
phấn đấu để duy trì và củng cố nó càng khó hơn.
Trong xã hội tiêu dùng, khi chất lợng hàng hoá của các hãng không
chênh lệch nhau là mấy thì uy tín là vấn đề quyết định khách hàng chỉ tìm đến
7
với các nhãn mác nổi tiếng chứ không mấy ai bỏ tiền ra mua hàng hoá không rõ
nguồn gốc xuất xứ.
1.2.3.4. Cạnh tranh thông qua hệ thống phân phối và dịch vụ sau bán hàng.
Tơng lai của mỗi công ty, mỗi doanh nghiệp phụ thuộc vào khối lợng
hàng hoá bán ra. Nhà phân phối thông tạo không bao giờ bỏ sót bất kỳ một diện
đối tợng khách hàng nào, dù là không đáng kể, việc phát triển đại lý với hệ
thống những cửa hàng rộng rãi, mở rộng các mô hính phân phối cửa hàng di
động, cửa hiệu gia đình, siêu thị. có dịch vụ bán và dịch vụ sau khi bán tốt và
hợp lý, kết hợp với nhng ngời bán trên thị trờng, có các biện pháp phong phú để
kết dính các thành viên trong kênh lại với nhau đặc biệt là các biện pháp để
quản lý chặt chẽ ngời bán hàng và điều khiển những ngời bán hàng, kết hợp hợp
lý giữa các phơng thức bán, phơng thức thanh toán. nhằm góp phần nâng cao
sức tiêu thụ của hàng hoá.
1.3.Các hình thức cạnh tranh.
1.3.1. Cạnh tranh trực diện.
Đây là một trong những hình thức cạnh tranh rất hữu hiệu nhằm trực tiếp
đa sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp mình so sánh trớc đối thủ cạnh tranh
để từ đó bộc lộ trực tiếp các u điểm mà bản thân hàng hoá có đợc kèm theo tất
cả các dịch vụ đi kèm nhằm hớng sự quan tâm của khách hàng lên ngay các sản
phẩm hàng hoá của doanh nghiệp mình. Hình thức cạnh tranh này hiện nay
đang đợc hầu hết các công ty và doanh nghiệp áp dụng để tạo thế cạnh tranh và
khẳng định vị trí cạnh tranh cho các mặt hàng của mình. Tuy nhiên đây là hình
thức cạnh tranh đòi hỏi các mặt hàng của doanh nghiệp phải thực sự có u điểm
nổi trội hơn hẳn các hàng hoá cạnh tranh về mọi mặt: giá cả, chất lợng, mẫu
mã Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải có sự đầu t lớn, quy mô và doanh số
lớn, chi phí đợc phân bổ trên số lợng hàng lớn và tiềm lực kinh tế mạnh nhằm
trực tiếp đè bẹp các đối thủ cạnh tranh của mình. Đối với các công ty hay doanh
nghiệp nhỏ, đây là hình thức cạnh tranh tơng đối khó và mạo hiểm bởi về tiềm
lực kinh tế họ không đủ khả năng để duy trì đợc một mức giá thấp nh với các
đối thủ mạnh, bên cạnh đó việc đầu t vào công nghệ, mẫu mã,cũng không thể
8
so sánh với các doanh nghiệp có tiềm lực kinh tế mạnh và sự đầu t cao. Vì vậy
tuỳ theo từng mặt hàng mới nên áp dụng hình thức cạnh tranh nh trên để tránh
tình trạng bị đối thủ cạnh tranh lớn đè bẹp.
2.3.2. Cạnh tranh không trực diện.
Ngợc lại với hình thức trên là hình thức cạnh tranh không trực tiếp đa sản
phẩm của mình ra so sánh ngang bằng về giá cả, chủng loại, mẫu mã, nhãn
hiệu với đối thủ cạnh tranh để tránh bị tổn hại về vị trí cũng nh khả năng kinh
tế sau khi cạnh tranh với các đối thủ mạnh. Thờng các công ty, doanh nghiệp
khi lựa chọn hình thức này sẽ đa ra thị trờng các mặt hàng thay thế, thay đổi
một chút so với các mặt hàng của đối thủ cạnh tranh nhằm tránh bị so sánh trực
tiếp với các hàng hoá cùng chủng loại của đối thủ cạnh tranh. Đây là hình thức
cạnh tranh tơng đối an toàn cho các công ty, doanh nghiệp vừa và nhỏ, tuy
nhiên doanh nghiệp sẽ mất thời gian trong việc chiếm lĩnh thị phần cũng nh
nâng cao năng lực cạnh tranh hàng hoá trên thị trờng.
1.4. Các nhân tố ảnh hởng đến sức cạnh tranh của hàng hoá.
1.4.1. Các nhân tố thuộc bản thân hàng hoá ảnh hởng đến sức cạnh tranh.
Hàng hoá chính là đối tợng để nâng cao năng lực cạnh tranh đồng thời
cũng chính là công cụ để cạnh tranh một cách hữu hiệu nhất với các hàng hoá
khác của đối thủ cạnh tranh trên thị trờng. Vì vậy khi đề cập đến các nhân tố
ảnh hởng đến sức cạnh tranh của hàng hoá thì trớc hết cần đề cập đến chính các
nhân tố nằm từ bản thân hàng hoá đó.
9
1.4.1.1. Nhân tố giá cả.
Từ khi xuất hiện nền kinh tế thị trờng thì giá cả đã trở thành một công cụ
cạnh tranh đắc lực của các nhà kinh doanh. Giá cả của hàng hoá phản ánh đợc
sự hợp lý hoá về chi phí sản xuất của doanh nghiệp, phản ánh đợc phần nào sức
cạnh tranh của mặt hàng đó trên thị trờng. Theo quy luật cầu thì giá càng hạ l-
ợng cầu càng tăng, đặc biệt đối với các hàng hoá thông thờng, chính vì vậy khi
mặt hàng có giá tơng đối thấp trên thị trờng thì nó sẽ chiếm đợc u thế khá lớn so
với các đối thủ cạnh tranh và khẳng định đợc sức cạnh tranh của nó trên thị tr-
ờng. Vì vậy có thể khẳng định giá cả có ảnh hởng hết sức to lớn tới sức cạnh
tranh của hàng hoá.
1.4.1.2. Nhân tố chất lợng.
Chất lợng sản phẩm phải đợc thể hiện toàn diện bằng hàm lợng khoa học
kỹ thuật trong sản phẩm. Hàm lợng khoa học cao, chất lợng sản phẩm tốt thì có
thể bán đợc với giá cao. Nhất là khi mà mức thu nhập của khách hàng nớc ngoài
là rất cao, họ rất quan tâm đến chất lợng sản phẩm.
Chất lợng sản phẩm là hệ thống đặc tính các nội tại của sản phẩm đợc
xác định bằng những thông số có thể đo đợc hay so sánh đợc phù hợp với những
điều kiện kỹ thuật hiện tại và thoả mãn đợc những nhu cầu nhất định của xã hội.
Chất lợng sản phẩm càng cao tức là làm tăng đợc mức độ thoả mãn của
ngời tiêu dùng đối với sản phẩm, kích thích tiêu dùng dẫn đến tăng khả năng
tiêu thụ và tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ khác.
Trên cơ sở đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp và nâng cao sức cạnh tranh một
cách rất hiệu quả cho các sản phẩm của doanh nghiệp.
1.4.2.3. Nhân tố mẫu mã.
Ngày nay khi cuộc sống và mức sống của mỗi ngời đã đợc cải thiện thì
mọi ngời đều trở nên cầu kỳ hơn trong việc lựa chọn mẫu mã của các sản phẩm
hàng hoá. Ngoài các yêu cầu khắt khe về chất lợng, uy tín, nhãn hiệu của sản
phẩm hàng hoá, ngời mua còn đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải đa ra đợc các
mặt hàng với các mẫu mã, hình thức phù hợp với nhu cầu, đa dạng và phong
phú hơn. Chính bởi vậy các mặt hàng có mẫu mã đẹp, hợp thời trang, phù hợp
10
với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng thờng đợc giành đợc sự chú ý và u ái rất
nhiều từ phía ngời mua. Vì lý do đó, hiện nay rất nhiều doanh nghiệp đã thực
hiện chiến lợc nâng cao sức cạnh tranh cho các sản phẩm của mình bằng việc đa
ra các loại hàng hoá có chất lợng tơng đối, giá cả trung bình nhng có mẫu mã và
hình thức nổi trội so với các sản phẩm cùng loại và đã đạt đợc những thành
công nhất định. Mẫu mã và hình thức của hàng hoá giờ đây không chỉ là một
đặc tính cần có của hàng hoá mà còn trở thành công cụ đắc lực trong việc nâng
cao sức cạnh tranh cho chính bản thân hàng hoá đó trên thị trờng. Đời sống
càng phát triển, nền kinh tế thế giới càng phát triển thì mẫu mã và hình thức của
hàng hoá sẽ ngày càng có vai trò ảnh hởng to lớn đến sức cạnh tranh của hàng
hoá trên thị trờng, đặc biệt là đối với các loại hàng hoá xuất khẩu ra thị trờng
thế giới, nơi nhu cầu và mong muốn của khách hàng là vô cùng phong phú và
đa dạng.
1.4.2.4. Nhân tố nhãn hiệu.
Trớc đây khi các doanh nghiệp tiến hành kinh doanh trên thị trờng thì đa
số các mặt hàng đều không nhận đợc sự quan tâm đúng mức tới nhãn hiệu của
hàng hoá. Khi nền kinh tế thị trờng phát triển lên một mức cao hơn thì nhãn
hiệu của hàng hoá mới bắt đầu đợc cả ngời mua và ngời bán thực sự quan tâm.
Cho tới nay việc kinh doanh hàng hoá, khẳng định vị trí của hàng hoá nào đó
trên thị trờng thì nhãn hiệu của hàng hoá đã trở thành yếu tố không thể thiếu để
xác định đợc đúng loại hàng hoá đó, vị trí cũng nh sức cạnh tranh của hàng hoá
đó có đợc trên thị trờng. Nhãn hiệu hàng hoá có thể biểu thị bằng hình ảnh,
bằng chữ hoặc đợc thiết kế một cách kết hợp cả hình ảnh và từ ngữ hoặc bằng
khẩu hiệu. Nhãn hiệu đợc ghi lên hàng hoá bao bì trong, bao bì ngoài và ghi lên
các phơng tiện quảng cáo, lên đầu các th tín thơng mại, đầu các hoá đơn
Ngời có nhãn hiệu phải đăng ký bảo vệ nhãn hiệu thì nhãn hiệu đó mới
có giá trị. Luật pháp quốc tế sẽ bảo vệ cho ngời có đăng ký bảo vệ nhãn hiệu
chống mọi sự lợi dụng, xuyên tạc làm ảnh hởng đến uy tín của nhãn hiệu đó, kể
cả việc bắt chớc kỹ thuật bao gói.
11
Trong thực tiễn, nhãn hiệu hàng hoá là một công cụ cạnh tranh đảm
bảolợi thế trên thị trờng nớc ngoài. Ngời sản xuất và ngời bán hàng có nhãn
hiệu đăng ký. Ngời mua có thể hoàn toàn tin tởng vào hàng hoá và dịch vụ mình
mua sẽ đáp ứng đợc mong muốn nh đã dự kiến. Thờng các sản phẩm có nhãn
hiệu có thể đặt giá cao hơn so với sản phẩm không có nhãn hiệu, mặc dù hai sản
phẩm đó có chất lợng nh nhau. Sản phẩm có nhãn hiệu thờng bán chạy hơn
hàng không có nhãn hiệu dù có giá trị cao hơn, vì những hàng hoá này đợc
tuyên truyền quảng cáo tích cực hơn, đã đợc in sâu vào tiềm thức của ngời tiêu
dùng. Vì vậy có thể khẳng định nhãn hiệu thực sự gây ảnh hởng không nhỏ tới
sức cạnh tranh của hàng hoá trên thị trờng.
1.5. Nhân tố từ phía doanh nghiệp.
1.5.1. Uy tín và vị trí của doanh nghiệp trên thị trờng.
Uy tín và vị trí của doanh nghiệp trên thị trờng đợc phản ánh qua tổng l-
ợng cầu các sản phẩm của doanh nghiệp, khả năng của doanh nghiệp so với các
đối thủ cạnh tranh, sự quan tâm, các mối quan hệ làm ăn, các bạn hàng truyền
thống, d luận xã hội, vị trí trong suy nghĩ của khách hàng.Uy tín và vị trí của
doanh nghiệp có ảnh hởng hết sức to lớn tới năng lực cạnh tranh hàng hoá của
doanh nghiệp. Nó phản ánh đợc năng lực của sản phẩm và doanh nghiệp hiện
tai so với các đối thủ cạnh tranh, nó thể hiện đợc sự ổn định và khả năng tồn tại
cũng nh phát triển của doanh nghiệp. Bất cứ một công ty hay doanh nghiệp nào
muốn tồn tại và phát triển trên bất kỳ một thị trờng nào thì trớc hết phải gây
dựng đợc uy tín của mình để từ đó khẳng định vị trí các mặt hàng của doanh
nghiệp cũng nh chính bản thân doanh nghiệp trên thị trờng.
1.5.2. Mục tiêu kinh doanh và các chiến lợc phát triển và kinh doanh của
doanh nghiệp
Đây cũng là một trong các nhân tố có ảnh hởng rất lớn đến sức cạnh
tranh các sản phẩm của doanh nghiệp. Mỗi một doanh nghiệp luôn đề ra các
mục tiêu kinh doanh trong dài hạn và cả ngắn hạn, cho từng giai đoạn phát triển
của doanh nghiệp mình. Trong mỗi một giai đoạn phát triển nhất định doanh
nghiệp sẽ chọn lựa cho mình một mặt hàng chiến lợc để phát triển hoạt động
12
kinh doanh mặt hàng đó, bên cạnh đó mục tiêu kinh doanh còn có thể là mở
rộng thị trờng hay tăng thị phần bằng một chủng loại hàng hoá hoặc nhiều
chủng loại hàng hoá, qua đó doanh nghiệp sẽ tiến hành đầu t và dành một số
vốn nhất định để phát triển cho mặt hàng chiến lợc của doanh nghiệp mình.
Chính vì vậy mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp có vai trò quyết định rất
lớn đến sức cạnh tranh của một mặt hàng mà doanh nghiệp đang tiến hành kinh
doanh. Khi mặt hàng đã nằm trong mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp thì
nó sẽ nhận đợc những đầu t nhất định và đợc hoạch định các chiến lợc phát triển
nhằm nâng cao sức cạnh tranh trên thị trờng. Vì vậy khi xét đến các nhân tố có
ảnh hởng tới sức cạnh tranh các mặt hàng của công ty thì trớc hết cần phải xem
xét mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp trong giai đoạn đó.
1.5.3. Các dịch vụ sau bán hàng của doanh nghiệp.
Hoạt động của doanh nghiệp không phải dừng lại sau lúc giao hàng, thu
tiền của khách hàng mà còn có hoạt động dịch vụ sau bán hàng. Dịch vụ sau
bán hàng thể hiện trách nhiệm đến cùng đối với ngời tiêu dùng về sản phẩm của
mình. Các dịch vụ sau bán hàng nh: vận chuyển hàng miễn phí, bảo hành hớng
dẫn cách sử dụng sản phẩm, lắp đặt sản phẩm tại gia đình ngời tiêu dùng Tất
cả những thứ đó sẽ gây đợc uy tín của sản phẩm và doanh nghiệp trên thị trờng,
giữ và tăng thêm đợc khách hàng, tạo cho khách hàng cảm thấy yên tâm trớc
khi quyết định mua hàng.
Qua hoạt động dịch vụ sau bán hàng mà doanh nghiệp biết đợc sản phẩm
của mình đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của ngời tiêu dùng ra sao. Sự khen chê của
khách hàng, phát hiện các khuyết tật của sản phẩm mà đổi mới, hoàn thiện tốt
hơn. Dịch vụ sau bán hàng là một giải pháp rất tốt cho uy tín của doanh nghiệp
trong cạnh tranh.
13
1.5.3.1. Hoạt động Marketing của doanh nghiệp.
Hoạt động Marketing không thể thiếu ở mỗi doanh nghiệp hiện nay.
Chúng giúp doanh nghiệp phân tích nhu cầu của khách hàng, các hình thức
cạnh tranh của đối thủ, dự báo đợc số lợng sản phẩm có thể tiêu thụ trong tơng
lai Trên cơ sở đó doanh nghiệp sẽ đa ra các chiến lợc kinh doanh hiệu quả, tạo
đợc các sản phẩm phù hợp với sở thích của khách hàng với mức giá linh hoạt
theo sự biến động của thị trờng. Xây dựng đợc hệ thống tiêu thụ sản phẩm rộng
khắp trên nhiều quốc gia khác nhau từ đó làm tăng khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp.
1.5.3.2. Hoạt động phân phối sản phẩm của đoanh nghiệp.
Phân phối hàng hoá là hoạt động tổ chức, điều hành, vận chuyển hàng
hoá từ nơi sản xuất đến tay ngời tiêu dùng. Phân phối hàng hoá của doanh
nghiệp là hệ thống các quan điểm, chính sách và giải pháp tổ chức các kênh,
luồng, mạng lới bán sỉ, bán lẻ hàng hoá nhằm bán đợc nhiều hàng, đạt hiệu quả
kinh doanh cao nhất. Một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy và kích thích
sự quan tâm của ngời mua đến hàng hoá của doanh nghiệp đó chính là việc sản
phẩm đó xuất hiện ở nhiều nơi, đi đến đâu khách hàng cũng sẽ thấy mặt hàng
và nhãn hiệu mặt hàng đó của doanh nghiệp, kèm theo đó là kỹ thuật bán và
hoàn thiện các sản phẩm hàng hoá từ phía các đại lý nằm trong hệ thống kênh
phân phối. Điều này sẽ gây ấn tợng và sự chú ý rất lớn từ phía khách hàng, qua
đó để lại ấn tợng và kích thích đợc nhu cầu mua sắm của khách hàng. Điều này
đem lại sự thuận lợi rất lớn cho các sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp trong
việc cạnh tranh với các sản phẩm hàng hoá cùng loại hoặc thay thế trên thị tr-
ờng. Do đó việc quan tâm đến các kênh phân phối là điều hết sức quan trọng mà
các doanh nghiệp cần chú ý và phát triển hợp lý. Nh vậy có thể nói hoạt động
phân phối sản phẩm đến tay khách hàng của doanh nghiệp là nhân tố ảnh hởng
lớn tới việc nâng cao sức cạnh tranh cho các sản phẩm hàng hoá của doanh
nghiệp.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét