Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Thực trạng sử dụng vốn tại công ty xây dựng công trình hàng không

- Tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định. Sự tích tụ và tập
trung của tiền phải đạt một mức độ tối thiểu nào đó thì mới đủ sức để đầu tư cho
một dự án kinh doanh nào đó dù là nhỏ nhất. Nếu tiền nằm rải rác khắp nơi, không
được gom thành khoản thì cũng không làm được việc gì.
- Khi đã đủ về lượng, tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh lợi. Cách
vận động và phương thức vận động của tiền tuỳ thuộc vào phương thức đầu tư kinh
doanh.
1.1.2. Cơ cấu của vốn
Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ… hay hoạt
động bất cứ ngành nghề gì khác các doanh nghiệp cần phải có một lượng vốn nhất
định. Số vốn kinh doanh đó được biểu hiện dưới dạng tài sản. trong hoạt động tài
chính của doanh nghiệp, quản lý vốn kinh doanh và sử dụng vốn kinh doanh có hiệu
quả là yếu tố quan trọng nhất có tính chất quyết định đến mức độ tăng trưởng hay
suy thoái của doanh nghiệp. Do vậy để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh ta
cần phải nắm rõ về vốn, đặc điểm của nó ra sao.
1.1.2.1. Vốn cố định
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của vốn cố định được gắn
liền với hình thái biểu hiện vật chất của nó là Tài sản cố định. Vì vậy khi nghiên cứu
về vốn cố định trước hết phải dựa trên cơ sở tìm hiểu về tài sản cố định. Tư liệu sản
xuất được chia thành hai bộ phận là đối tượng lao động và tư liệu lao động.
Điểm nổi bật của tư liệu lao động là chúng có thể tham gia một cách trực tiếp
hoặc gián tiếp vào nhiều chu kỳ sản xuất. Trong quá trình đó mặc dù tư liệu lao
động bị hao mòn nhưng chúng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu. Chỉ khi
nào chúng bị hư hỏng hoàn toàn hoặc không còn lợi ích kinh tế thì khi đó chúng mới
bị thay thế. Tài sản cố định trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao động có giá
trị lớn tham gia một cách trực tiếp vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp qua
nhiều chu kỳ sản xuất. Một tư liệu lao động để thoả mãn là tài sản cố định phải có
đồng thời hai tiêu chuẩn cơ bản sau:
Trang 5
- Phải có thời gian sử dụng tối thiểu từ một năm trở lên
- Phải đạt một mức tối thiểu nhất định nào đó về giá trị (tiêu chuẩn này
thường xuyên được điều chỉnh cho phù hợp với từng thời kỳ). Hiện nay ở
nước ta quy định là > 5 triệu đồng.
Nếu phân loại theo hình thái vật chất thì tài sản cố định có hai loại: tài sản cố
định hữu hình và tài sản cố định vô hình
+ Tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái biểu hiện vật chất cụ
thể như: Nhà xưởng, máy móc, thiết bị, đất đai, vật tư…
+ Tài sản cố định vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất cụ thể
như: bằng phát minh sáng chế, bí quyết, bản quyền, chi phí sáng lập doanh nghiệp,
lợi thế thương mại… Trong nền kinh tế thị trường để nâng cao khả năng cạnh tranh
thì việc đầu tư tài sản cố định vô hình là rất quan trọng. Những chi phí đó cũng
được quan niệm như giá trị ccủa một số tài sản cố định và phải được thu hồi dần để
mua sắm tài sản cố định mới.
Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận động của tài sản cố
định có những đặc điểm sau:
- Về mặt hiện vật: tài sản cố định tham gia nhiều lần vào quá trình sản xuất
kinh doanh và nó bị hao mòn dần, bao gồm cả hao mòn hữu hình và hao
mòn vô hình. Nói cách khác, giá trị sử dụng sẽ giảm dần cho đến khi tài
sản cố định bị loại ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh.
- Về mặt giá trị: giá trị của tài sản cố định được chuyển dịch dần từng phần
vào giá trị sản phẩm mà nó tạo ra trong quá trình sản xuất.
Đặc điểm về mặt hiện vật và giá trị của tài sản cố định đã quyết định đến đặc
điểm chu chuyển của vốn cố định. Song quy mô của vốn cố định lại được quyết
định bằng quy mô tài sản cố định. Qua mối liên hệ đó ta có thể khái quát những nét
đặc thù về sự vân động của vốn cố định trong sản xuất kinh doanh như sau:
Trang 6
- Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất. Có đặc điểm này là do tài
sản cố định có thể phát huy trong nhiều kỳ sản xuất, vì vậy hình thái biểu
hiện bằng tiền của nó cũng được tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất tương
ứng.
- Vốn cố định luân chuyển dần dần, từng phần khi tham gia vào quá trình
sản xuất, giá trị của tài sản giảm dần. Theo đó vốn cố định cũng tách thành
2 phần: Một phần sẽ gia nhập vào chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình
thức chi phí khấu hao) tương ứng với giảm dần giá trị sử dụng của tài sản
cố định. Phần còn lại của vốn cố định được cố định trong các chu kỳ sản
xuất kế tiếp, nếu như phần vốn luân chuyển dần dần được tăng lên thì phần
vốn cố định giảm tương ứng với mức suy giảm dần về giá trị sử dụng của
tài sản cố định. Kết thúc sự biến thiên nghịch chiều đó cũng là lúc tài sản
cố định hết thời gian sử dụng và vốn cố định cũng hoàn thành một vòng
luân chuyển.
1.1.2.2. Vốn lưu động
Trong quá trình sản xuất kinh doanh bên cạnh tài sản cố định, doanh nghiệp
luôn có một tài sản nhất định nằm rải rác trong các khâu của quá trình tái sản xuất:
Dự trữ thiết bị sản xuất, phục vụ sản xuất, phân phối, tiêu thụ sản phẩm. đây chính
là tài sản lưu động của doanh nghiệp. Tài sản lưu động chủ yếu nằm trong quá trình
sản xuất của doanh nghiệp là các đối tượng lao động. Đối tượng lao động khi tham
gia vào quá trình sản xuất không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, bộ phận chủ
yếu của đối tượng lao động sẽ tham gia quá trình sản xuất tạo nên thực thể của sản
phẩm, bộ phận khác sẽ hao phí mất đi trong quá trình sản xuất. Đối tượng lao động
chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất do đó toàn bộ giá trị của chúng được dịch
chuyển một lần vào giá trị sản phẩm và được thực hiện khi sản phẩm trở thành hàng
hoá.
Bên cạnh một số tài sản lưu động nằm trong quá trình lưu thông, thanh toán,
sản xuất… thì doanh nghiệp còn có một số tư liệu khác như vật tư phục vụ quá trình
tiêu thụ, các khoản hàng gửi bán, các khoản phải thu…
Trang 7
Từ đó, ta có thể rút ra, vốn lưu động của doanh nghiệp là số tiền ứng trước về
tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình
tái sản xuất của doanh nghiệp được thực hiện một cách thường xuyên liên tục.
Như vậy, dưới góc độ tài sản thì vốn lưu động được sử dụng để chỉ các tài sản
lưu động. Vốn lưu động chịu sự chi phối bởi tính luân chuyển của tài sản lưu động,
vốn lưu động luôn được chuyển hoá qua nhiều hình thái vật chất khác nhau và
chuyển hoá phần lớn vào giá trị sản phẩm, phần còn lại chuyển hoá trong lưu thông.
Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách thường xuyên liên
tục nên vốn lưu động cũng tuần hoàn không ngừng và mang tính chu kỳ. Vốn lưu
động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản
xuất. Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục thì yêu cầu đặt ra đối với doanh
nghiệp là phải có đủ vốn lưu động để đầu tư vào các tư liệu lao động khác nhau,
đảm bảo cho tư liệu lao động tồn tại một cách hợp lý, đồng bộ với nhau trong một
cơ cấu. Do đặc điểm của vốn lưu động là trong quá trình sản xuất kinh doanh luân
chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần, sự vận động tuần hoàn liên tục đã quyết
định sự vận động của vốn lưu động.
+ Khởi đầu vòng tuần hoàn, vốn lưu động được dùng để mua sắm các đối
tượng lao động trong khâu dự trữ sản xuất. ở giai đoạn này vốn đã thay đổi hình
thái, từ vốn tiền tệ sang vốn vật tư (T- H)
+ Tiếp theo là giai đoạn sản xuất, các vật tư được chế tạo thành bán thành
phẩm, thành phẩm. ở giai đoạn này vốn vật tư chuyển hóa thành thành phẩm (H-
SX- - H

)
+ Kết thúc vòng tuần hoàn, sau khi sản phẩm được tiêu thụ vốn lưu động lại
được chuyển hoá sang hình thái vón tiền tệ như điểm xuất phát ban đầu (H

- T

);
(T

> T).
Trong thực tế, sự vận động của vốn lưu động không diễn ra một cách tuần tự
như mô hình lý thuyết trên mà các giai đoạn vận động của vốn được đan xen vào
Trang 8
nhau, các chu kỳ sản xuất được tiếp tục lặp lại, vốn lưu động được tiếp tục tuần
hoàn và chu chuyển.
Trong doanh nghiệp, việc quản lý tốt vốn lưu động có vai trò rất qaun trọng.
Muốn quản lý tốt vốn lưu động các doanh nghiệp phải phân biệt được các bộ cấu
thành của vốn lưu động để trên cơ sở đó đề ra được các biện pháp quản lý với từng
loại. Trên thực tế vốn lưu động của doanh nghiệp bao gồm những bộ phận sau:
+ Tiền mặt và chứng khoán có thể bán được: tiền trong quỹ của doanh nghiệp,
các khoản tiền gửi không có lãi, chứng khoán bán được thường là các thương
phiếu…
+ Các khoản phải thu: trong nền kinh tế thị trường, việc mua bán chịu là không
thể tránh khỏi, và đây cũng là một chiến lược trong cạnh tranh của doanh nghiệp.
Các hoá đơn chưa được trả tiền thể hiện qua tín dụng thwong mại và hình thành nên
các khoản phải thu. Tín dụng thương mại có thể tạo nên uy tín, vị thế của doanh
nghiệp trên thị trường đồng thời cũng có thể dẫn tới rủi ro trong hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
+ Khoản dự trữ: việc tồn tại vật tư, hàng hoá dự trữ, tồn kho là bước đệm cần
thiết cho quá trình hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp. Sự tồn tại này trong
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hoàn toàn khách quan.
Từ những đặc điểm trên ta có thể phân biệt được sự khác nhau cơ bản giữa
vốn lưu động và vốn cố định:
Tên vốn Chức năng
Tính chất tham gia
vào Q.trình SX
Hình thức chuyển
hoá giá trị
Vốn cố định Tư liệu lao động Nhiều lần Chuyển dần
nhiều lần
Vốn lưu động Đối tượng lao động Một lần Chuyển toàn bộ
một lần
1.1.3. Vai trò của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 9
Vốn là điều kiện tiên đề quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Vốn là cơ sở xác lập địa vị pháp lý của doanh nghiệp, vốn đảm bảo cho sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp theo mục tiêu đã định.
Về mặt pháp lý
Mỗi doanh nghiệp khi muốn thành lập thì điều kiện đầu tiên của doanh nghiệp
đó phải có 1 lượng vốn nhất định, lượng vốn đó tối thiểu phải bằng lượng vốn pháp
định, khi đó địa vị pháp lý mới được công nhận. Ngược lại việc thành lập doanh
nghiệp không thể thực hiện được ở trường hợp trong quá trình hoạt động kinh
doanh, vốn của doanh nghiệp không đạt điều kiện mà pháp luật quy định, doanh
nghiệp sẽ chấm dứt hoạt động như phá sản, sát nhập vào doanh nghiệp khác…
Như vậy, vốn được xem là một trong những cơ sở qua trong nhất để đảm bảo
sự tồn tại tư cách pháp nhân của một doanh nghiệp trước pháp luật.
Về mặt kinh tế
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là mạch máu của doanh nghiệp
quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Vốn không những đảm bảo khả
năng mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ phục vụ cho quá trình sản
xuất mà còn đảm bảo cho hoạt động kinh doanh diễn ra một cách liên tục, thường
xuyên.
Vốn là yếu tố quyết định đến mở rộng phạm vi hoạt động của doanh nghiệp.
Để có thể tiến hành tái sản xuất mở rộng thì sau một chu kỳ kinh doanh vốn của
doanh nghiệp phải sinh lời, tức là hoạt động kinh doanh phải có lãi đảm bảo cho
doanh nghiệp được bảo toàn và phát triển. Đó là cơ sở để doanh nghiệp tiếp tục đầu
tư sản xuất, thâm nhập vào thị trường tiềm năng từ đó mở rộng thị trường tiêu thụ,
nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương trường.
Nhận thức được vai trò quan trọng của vốn như vậy thì doanh nghiệp mới có
thể sử dụng tiết kiệm có hiệu quả hơn và luôn tìm cách nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn.
Trang 10
1.2. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN
KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Trước đây, trong cơ chế quản lý hành chính bao cấp, quan hệ giữa Nhà nước
với doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc chi đủ, thu đủ. Nhà nước giao kế hoạch mang
tính pháp định cần chú ý về nguồn cung cấp, tiêu thụ, doanh thu… Vì vậy các doanh
nghiệp không có tính sáng tạo, chủ động trong sản xuất kinh doanh. Do đó, quan
niệm về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh được xác định dựa trên cơ sở: Mức độ
thực hiện các chỉ tiêu pháp lệnh, sự tiết kiệm trong giá thành sản phẩm, khối lượng
giá trị sử dụng mà doanh nghiệp cung cấp cho nền kinh tế. Đây chính là sự lẫn lộn
giữa chỉ tiêu kết quả và chỉ tiêu hiệu quả. Điều này đã làm cho các nhà đầu tư, quản
lý đánh giá sai về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Đây cũng chính là
nguyên nhân làm tình hình sử dụng vốn của doanh nghiệp bị lãng phí không hiệu
quả dẫn đến tình trạng “mất” dần vốn và không còn có khả năng duy trì sản xuất
kinh doanh.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tuân
theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh “đầu vào” và “đầu ra” được quyết định bởi
thị trường. Xuất phát từ nhu cầu thị trường, từ lợi ích của doanh nghiệp do đó đòi
hỏi doanh nghiệp luôn phải tính đến các yếu tố sản xuất là sản xuất cái gì? sản xuất
cho ai? Và sản xuất như thế nào? Vậy sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra
ngày càng gay gắt để khẳng định được vị trí của mình trên thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đều lấy hiệu quả kinh doanh
làm thước đo cho hoạt động kinh doanh. Như vậy hiệu quả kinh doanh là một phạm
trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế chiều sâu, thể hiện trình độ
khai thác các nguồn lực và trình độ về chi phí các khôngản nguồn lực đó trong quá
trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh.
Qua công thức:
Hiệu quả
kinh doanh
=
Kết quả(DT)
Chi phí
Trang 11
Ta thấy hiệu quả chịu ảnh hưởng của hai nhân tó đó là doanh thu và chi phí.
Hiệu quả tăng lên khi:
- Doanh thu tăng, chi phí không đổi
- Chi phí giảm, doanh thu không đổi
- Doanh thu và chi phí cùng tăng nhưng tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn
chi phí.
Điều kiện để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong sự cạnh tranh khốc liệt
của nền kinh tế thị trường là phải sử dụng vốn kinh doanh sao cho có hiệu quả. Sử
dụng vốn kinh doanh có hiệu quả là phải bảo toàn và không ngừng phát triển vốn,
tức là phải tạo ra sức sinh lời của đồng vốn ngày càng cao.
Như vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tức là phải sử dụng và tìm các biện
pháp làm sao cho chi phí vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh là ít nhất mà đem
lại hiệu quả cao nhất.
Hiệu quả sử dụng vốn là chỉ tiêu phản ánh kết quả tổng hợp nhất quá trình sử
dụng các loại vốn sao cho tối đa hoá kết quả lợi ích, tối thiểu lượng vốn và thời gian
sử dụng sao cho phù hợp với mục tiêu kinh doanh.
Trang 12
1.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
- Vòng quay toàn bộ vốn: Chỉ tiêu này cho biết vốn của doanh nghiệp trong
một kỳ quay được bao nhiêu vòng.
Vòng quay toàn bộ vốn =
Đây là hệ số phản ánh hiệu suất sử dụng vốn, vòng quay càng lớn thì hiệu suất
sử dụng càng cao.
- Mức sinh lời vốn kinh doanh =
Chỉ tiêu đo mức sinh lời của vốn kinh doanh. Chỉ tiêu này phản ánh kết quả
cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cho thấy một đồng
vốn bỏ ra sản xuất kinh doanh trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
1.2.1.1. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định
Hiệu quả sử dụng vốn cố định phản ánh 1 đồng vốn tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu hoặc giá trị sản lượng.
Hiệu suất sử dụng vốn cố định =
Mức doanh lợi vốn cố định: phản ánh 1 đồng vốn cố định tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận ròng.
Mức doanh lợi vốn cố định = x100%
Chỉ tiêu hệ số hao mòn tài sản cố định phản ánh: cứ 1 đồng vốn bỏ ra trong gía
trị tài sản cố định thì số vốn thu hồi trong việc sử dụng tài sản cố định đó là bao
nhiêu
Hệ số hao mòn tài sản cố định =
Trang 13
Doanh thu thuần về tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Số dư bình quân toàn bộ vốn
Lợi nhuận thuần
Vốn sản xuất bình quân
Số tiền khấu hao luỹ kế
Nguyên giá TSCĐ
Chỉ tiêu hệ số sử dụng tài sản cố định phản ánh: cứ 1 đồng vốn bỏ ra để đầu tư
vào tài sản cố định thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Hệ số sử dụng tài sản cố định =
1.2.1.2. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn lưu động cho biết 1 đồng vốn lưu động của
doanh nghiệp làm ra bao nhiêu đồng giá trị sản lượng hoặc doanh thu trong kỳ.
Hiệu suất sử dụng VLĐ =
Mức sinh lời của vốn lưu động hay còn gọi tỷ suất lợi nhuận của vốn lưu động
, chỉ tiêu này cho biết 1 đồng vốn lưu động tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trong
kỳ.
Mức doanh lợi của vốn lưu động =
Số vòng quay của vốn lưu động, chỉ tiêu này đánh giá tốc độ luân chuyển vốn
lưu động cho biết trong kỳ phân tích, vốn lưu động của doanh nghiệp quay được bao
nhiêu vòng. Hoặc cứ 1 đồng vốn lưu động bình quân dùng vào sản xuất kinh doanh
trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
Số vòng quay vốn lưu động =
Độ dài bình quân 1 lần luân chuyển, chỉ tiêu này phản ánh cứ 1 vòng quay của
vốn lưu động trong kỳ phân tích hết bao nhiêu ngày, chỉ tiêu này càng thấp, số ngày
của 1 vòng quay vốn lưu động càng ít, hiệu quả sử dụng vốn càng cao.
Thời gian một vòng luân chuyển =
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động (K), chỉ tiêu này cho biết tạo ra 1 đồng vốn
doanh thu thuần trong kỳ phân tích cần bao nhiêu đồng vốn lưu động bình quân
dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ.
K =
Hệ số luân chuyển =
Trang 14
Doanh thu (Doanh thu thuần)
Nguyên giá Tài sản cố định
Doanh thu thuần
VLĐ bình quân

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét