Chương I: Những vấn đề cơ bản về đầu tư và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế
I. Lý luận chung về đầu tư
1. Khái niệm
Đầu tư nói chung là sự hi sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các họat
động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn
lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Mục tiêu của đầu tư là đạt được các kết
quả lớn hơn so với những hi sinh.
1.1. Dưới góc độ kinh tế học
Đầu tư (Investment), theo từ điển kinh tế học hiện đại của David W. Pearce-
thì : Thuật ngữ đầu tư được sử dụng một cách phổ biến nhất để mô tả lưu lượng
chi tiêu được dùng để tăng hay duy trì dung lượng vốn thực tế. Nói một cách
chính xác hơn: Đầu tư là một lưu lượng chi tiêu dành cho các dự án sản xuất hàng
hóa không phải để tiêu dùng trung gian. Các dự án đầu tư này có thể có dạng bổ
sung vào cả vốn vật chất, vốn nhân lực và hang tồn kho. Đầu tư là một luồng vốn
với khối lượng được xác định bởi tất cả các dự án có giá trị hiện tại ròng (NPV)
lớn hơn 0 hay tỉ suất lợi tức nội hoàn lớn hơn lãi suất (IRR).
Nói một cách ngắn gọn, đầu tư là sự hi sinh tiêu dùng hiện tại nhằm thu về
tiêu dùng lớn hơn trong tương lai.
1.2. Dưới góc độ tài chính
Trên phương diện hoạch định tài chính cá nhân, đầu tư là sự hy sinh của một
cá nhân trong việc tiêu dùng hiện tại để tích lũy tài sản phục vụ cho nhu cầu tiêu
dùng trong tương lai. Trong con mắt của các nhà tư vấn tài chính, đầu tư được
hiểu là việc một cá nhân mua tài sản với mong ước rằng tài sản đã mua được sẽ
giữ vững giá trị, sau đó tăng giá và tạo ra nguồn thu nhập tương ứng với mức độ
rủi ro nào đó. Nói một cách ngắn gọn hơn, mục tiêu tài chính của cá nhân là tích
lũy đồng tiền. Sau khi kiếm được tiền, người ta cần cân nhắc đầu tư đồng tiền đó
như thế nào để cho nó nhiều hơn trước.
Một cách khái quát, đầu tư là một chuỗi các hoạt động chi tiêu để chủ đầu tư
thu về một chuỗi các dòng thu nhắm hoàn vốn và sinh lời.
5
1.3. Dưới góc độ luật pháp
Theo luật đầu tư 2006, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng tài sản hữu
hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các họat động đầu tư theo quy
định của luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
1.4. Dưới góc độ nghiên cứu của môn học kinh tế đầu tư
Đầu tư là việc chi dung vốn trong hiện tại để tiến hành các họat động nhằm
làm tăng them hay tạo ra những tài sản trí tuệ, gia tăng năng lực sản xuất tạo them
việc làm và vì mục tiêu phát triển.
Sở dĩ định nghĩa này được sử dụng trong phạm vi của môn học này vì: Nội
dung chủ yếu mà môn kinh tế đầu tư quan tâm nghiên cứu là đầu tư phát triển-
loại đầu tư quyết định trực tiếp sự phát triển của nền sản xuất xã hội, là điều kịnh
tiên quyết cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của mọi cơ sở sản xuất kinh doanh
dịch vụ.
2. Phân loại đầu tư
Theo từng tiêu chí và góc độ tiếp cận người ta lại tiến hành phân chia đầu tư
ra nhiều bộ phận khác nhau.
2.1. Theo phương cách tiến hành đầu tư
2.1.1. Đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là họat động trong đó người có tiền bỏ tiền ra để tiến hành
các họat động không những tạo ra tài sản cho chính mình mà còn làm tăng thêm
tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi họat động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu
để tạo được việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội. . Đó là
việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm
trang thiết bị, lắp đặt chúng trên nền bệ và bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực,
thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này
nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới
cho nền kinh tế xã hội.
2.1.2. Đầu tư tài chính
Đầu tư tài chính: là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hay
mua các chứng chỉ có giá trên thị trường tiền tệ để hưởng lãi suất định trước (gửi
tiết kiệm, mua trái phiếu chính phủ ) hay lãi suất tuỳ thuộc vào kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của công ty phát hành (cổ phiếu, trái phiếu công ty ). Đầu tư
tài sản tài chính không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế (nếu không xét đến quan
6
hệ quốc tế trong lĩnh vực này) mà chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính của tổ chức,
cá nhân đầu tư (đánh bạc nhằm mục đích thu lời cũng là một loại đầu tư tài chính
nhưng bị cấm do gây nhiều tệ nạn xã hội. Công ty mở sòng bạc để phục vụ nhu
cầu giải trí của người đến chơi nhằm thu lại lợi nhuận về cho công ty thì đây lại là
đầu tư phát triển nếu được nhà nước cho phép và tuân theo đầy đủ các quy chế
hoạt động do nhà nước quy định để không gây ra các tệ nạn xã hội). Với sự hoạt
động của hình thức đầu tư tài chính, vốn bỏ ra đầu tư được lưu chuyển dễ dàng,
khi cần có thể rút ra một cách nhanh chóng (rút tiết kiệm, chuyển nhượng trái
phiếu cổ phiếu cho người khác). Điều đó khuyến khích người có tiền bỏ tiền ra để
đầu tư. Để giảm độ rủi ro, họ có thể đầu tư vào nhiều nơi, mỗi nơi một ít tiền. Đây
là một nguồn cung cấp vốn đầu tư quan trọng cho đầu tư phát triển.
2.1.3. Đầu tư thương mại
Đầu tư thương mại là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra để mua
hàng hoá và sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi
mua và khi bán. loại đầu tư này cũng không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế
(nếu không xét đến ngoại thương), mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của người đầu
tư trong quá trình mua đi bán lại, chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá giữa người
bán với người đầu tư và người đầu tư với khách hàng của họ. Tuy nhiên, đầu tư
thương mại có tác dụng thúc đẩy quá trình lưu thông của cải vật chất do đầu tư
phát triển tạo ra, từ đó thúc đẩy đầu tư phát triển, tăng thu cho ngân sách, tăng tích
luỹ vốn cho phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ nói riêng và nền sản xuất xã
hội nói chung (chúng ta cần lưu ý là đầu cơ trong kinh doanh cũng thuộc đầu tư
thương mại xét về bản chất nhưng bị pháp luật cấm vì gây ra tình trạng thừa thiếu
hàng hoá một cách giả tạo, gây khó khăn cho việc quản lý lưu thông phân phối,
gây mất ổn định cho sản xuất, làm tăng chi phí của người tiêu dùng.
2.2 Theo quan hệ của chủ đầu tư với dự án đầu tư
2.2.1. Đầu tư trực tiếp
Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia
quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư. Đầu tư trực tiếp
lại bao gồm: Đầu tư dịch chuyển và đầu tư phát triển.
Đầu tư dịch chuyển là một hình thức đầu tư trực tiếp trong đó việc bỏ vốn là
nhằm dịch chuyển quyền sở hữu giá trị của tài sản. Thực chất trong đầu tư dịch
chuyển không có sự gia tăng giá trị tài sản. Chẳng hạn như nhà đầu tư mua một số
lượng cổ phiếu ở mức khống chế để có thể tham gia vào hội đồng quản trị một
công ty, cá trường hợp thôn tính, sáp nhập trong cơ chế thị trường.
7
Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp. Hoạt động đầu tư
này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh
hoạt đời sống của xã hội. Đây là hình thức đầu tư trực tiếp tạo ra tài sản mới cho
nền kinh tế quốc dân. Hình thức đầu tư này đóng vai trò quan trọng đối với tăng
trưởng và phát triển của nền kinh tế tại mỗi quốc gia.
2.2.2. Đầu tư gián tiếp
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư trong đó người có vốn không trực tiếp
tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư. Chẳng
hạn như nhà đầu tư thực hiện hành vi mua bán các cổ phiếu hay trái phiếu trên thị
trường chứng khoán thứ cấp. Trong trường hợp này nhà đầu tư có thể được hưởng
các lợi ích vật chất (cổ tức, lãi trái phiếu) và lợi ích phi vật chất (quyền mua,
quyền biểu quyết) nhưng không được tham gia trực tiếp quản lý tài sản mà mình
bỏ vốn đầu tư.
3. Đặc điểm cơ bản của đầu tư phát triển:
Khác với đầu tư tài chính và đầu tư thương mại, đầu tư phát triển là họat
động cơ bản của đầu tư và chỉ có đầu tư phát triển mới trực tiếp tạo ra tài sản mới
cho nền kinh tế mà không phải là hiện tượng chu chuyển tài sản giữa các thành
viên trong nền kinh tế. Và đầu tư phát triển cũng chính là họat động đầu tư có tác
động lớn nhất tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một quốc gia.
3.1 Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư
phát triển thường lớn
Vốn đầu tư lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Quy
mô vốn đầu tư đòi hỏi phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hớp lý, xây
dựng các chính sách, quy hoạch kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý chặt chẽ tổng
vốn đầu tư…
Lao động cần sử dụng đòi hỏi phải trải qua công tác tuyển dụng đào tạo đãi
ngộ đòi hỏi một kế hoạch định trước sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu từng loại
nhân lực theo tiến độ và quy mô lao động.
3.2Thời kì đầu tư kéo dài
Một dự án đầu tư gồm 3 giai đoạn cơ bản, đó là: Chuẩn bị đầu tư, thực hiện
đầu tư và vận hành kết quả đầu tư. Trong đó thời kì đầu tư được tính từ khi khởi
công tới khi dự án hoàn thành và đưa vào họat động. Thời kì đầu tư càng kéo dài
thì rủi ro càng lớn vì: Nó đòi hỏi thời gian quản lý dự án lâu đi kèm với các nguy
8
cơ tiềm ẩn xảy ra trong quá trình xây dựng như: an toàn lao động, pháp luật, khả
năng tiếp tục huy động vốn, trượt giá…
3.3Thời gian vận hành kết quả đầu tư kéo dài
Thời gian vận hành kết quả đầu tư tính từ khi đưa công trình vào hoạt động
cho tới khi hết thời hạn sử dụng và loại bỏ công trình. Trong suốt quá trình vận
hành, các thành quả đầu tư chịu nhiều tác động tiêu cực: do hỏng hóc, trục trặc
hay do chất lượng phẩm cấp sản phẩm không còn đáp ứng với đòi hỏi của thị
trường ở hiện tại. Do đó, trong quá trình vận hành kết quả đầu tư vẫn phải tiếp tục
tiến hành điều chỉnh các giải pháp kĩ thuật, tài chính cho phù hợp với những thay
đổi ở hiện tại (bất kì dự án nào cũng đòi hỏi có những điều chỉnh như vậy).
3.4 Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển thường phát huy tác
dụng ở ngay nơi nó được thực hiện, do đó, quá trình thực hiện đầu tư
cũng như thời kì vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các
nhân tố về tự nhiên, kinh tế xã hội vùng.
Chính vì thế công tác quản lý họat động đầu tư phảt triển cần phải quán triệt
đặc điểm này trên một số nội dung:
- Thứ nhất, có chủ trương đầu tư đúng hướng (đầu tư sản xuất cái gì?, công
suất bao nhiêu?…)
- Thứ hai, lựa chọn địa điểm đầu tư hợp lý (phải dựa trên các chỉ tiêu về
pháp luật, chủ trương chính sách, điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội vùng).
3.5 Đầu tư phát triển có độ rủi ro cao.
Đầu tư phảt triển thường có quy mô vốn đầu tư lớn, thời kì đầu tư , thời gian
vận hành các kết qủa đàu tư kéo dài…nên đầu tư phát triển có mức độ rủi ro cao.
Rủi ro trong đầu tư phát triển có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân chủ
quan do: nhà đầu tư quản lý kém, chủ trương đầu tư sai lầm… nguyên nhân khách
quan do: giá nguyên liệu tăng, bất ổn của thị trường đầu vào đầu ra…
II. Lý luận về cơ cấu kinh tế và chuyên dịch cơ cấu ngành kinh tế:
1. Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
1.1. Cơ cấu kinh tế:
Theo từ điển Triết học (NXB Tiến Bộ Matxcơva 1975), cơ cấu là một khá
niệm mà triết học duy vật biện chứng dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của
một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa
9
các bộ phận của nó. Nó chỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa bộ phận và toàn thể,
nó biểu hiện ra như một thuộc tính của sự vật hiện tượng và biến đổi cùng với sự
biến đổi của sự vật hiện tượng.
Với nền kinh tế quốc dân, khi xem nó là một hệ thống phức tạp thì có rất
nhiều các bộ phận và các kiểu cơ cấu hợp thành chúng, tùy theo cách mà ta tiếp
cận chúng tùy theo cách tiếp cận khi nghiên cứu hệ thống ấy. Sự vận động và phát
triển của nền kinh tế theo thời gian bao hàm trong đó sự thay đổi bản than các bộ
phận cũng như sự thay đổi các kiểu cơ cấu.
Như vậy, cơ cấu của nền kinh tế quốc dân là tổng thể những mối quan hệ về
chất lượng và số lượng giữa các bộ phận cấu thành trong một thời gian và trong
điều kiện kinh tế xã hội.
1.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình chuyển nền kinh tế chủ yếu dựa trên
sản xuất nông nghiệp với trình độ kỹ thuật sản xuất thô sơ lạc hậu sang nền kinh
tế cơ bản dựa trên nền tảng công nghiệp có kỹ thuật sản xuất hiện đại.
Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế được coi là hợp lý, tiến bộ khi tỷ
trọng khu vực công nghiệp - dịch vụ và khu vực dịch vụ ngày càng tăng trong khi
khu vực nông nghiệp khai khóang ngày càng giảm. Cơ cấu kinh tế hợp lý trong
một nền kinh tế thị trường hiện đại đòi hỏi công-nông nghiệp- dịch vụ phát triển
mạnh mẽ hợp lý và đồng bộ. Vấn đề quan trọng là tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp
lý. Một cơ cấu kinh tế được coi là hợp lý khi nó đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Nông nghiệp phải giảm dần về tỷ trọng; công nghiệp, xây dựng dịch vụ
phải tăng dần về tỷ trọng.
- Trình độ kĩ thuật của nền kinh tế không ngừng tiến bộ phù hợp với xu
hướng của sự tiến bộ khoa học và công nghệ đã và đang diễn ra như vũ
bão trên thế giới.
- Cho phép khai thác tối đa mọi tiềm năng của đất nước, của các ngành,
các địa phương và các thành phần kinh tế.
- Thực hiện sự phân công và hợp tác quốc tế theo xu thế toàn cầu hóa kinh
tế, do vậy cơ cấu kinh tế được tạo dựng phải là “cơ cấu mở”.
2. Phân loại cơ cấu kinh tế
Ta có thể phân loại cơ cấu kinh tế theo:
10
- Cơ cấu quan hệ sản xuất.
- Cơ cấu tái sản xuất xã hội.
- Cơ cấu tổ chức quản lý nền kinh tế quốc dân.
- Cơ cấu vùng lãnh thổ.
- Cơ cấu thành phần kinh tế.
- Cơ cấu ngành kinh tế. (Trong đó: ngành cấp I: Nông nghiệp- Công
nghiệp- Dịch vụ, ngành cấp II: các phân ngành ví dụ: ngành chăn nuôi,
trồng trọt trong nông nghiệp…, ngành cấp III: lúa, màu…trong trồng
trọt).
Trong đó, cơ cấu ngành kinh tế là quan trọng nhất, quyết định hình thức các
cơ cấu kinh tế khác.
3. Tại sao phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế?
Cơ cấu kinh tế hợp lý là điều kiện để nền kinh tế tăng trưởng phát triển. Cơ
cấu kinh tế không ngừng vận động biến đổi do sự vận động biến đổi của lực lượng
sản xuất. Xây dựng cơ cấu kinh tế cần thiết là yêu cầu khách quan của mỗi nước
trong thời kì công nghiệp hóa. Phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế vì một số lý do
sau:
- Thứ nhất, sự thay đổi cơ cấu kinh tế phản ánh trình độ phát triển của sức
sản xuất xã hội.
- Thứ hai, sự thay đổi cơ cấu kinh tế phản ánh sự thay đổi của phương thức
sản xuất.
- Thứ ba, cơ cấu kinh tế phản ánh bất bình đẳng. VD: trên 70% dân số Việt
Nam sống ở nông thôn nhưng giá trị của ngành nông nghiệp chỉ chiếm
khoảng 20% GDP.
4. Những chỉ tiêu phản ánh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
4.1. Cơ cấu tính theo GDP
Đây là chỉ tiêu hay được nhắc đến để đối chiếu xem xét qua từng thời kì và
Bằng chỉ tiêu tính theo GDP, chỉ tiêu này phản ảnh tỷ trọng đóng góp của từng
ngành vào giá tổng sản phẩm quốc nội, nó phản ánh tương quan giữa các ngành
kinh tế với nhau. Một quốc gia phát triển sẽ có tỷ trọng các ngành công nghiệp
chiếm khoảng 34%, dịch vụ khoảng 64% và nông nghiệp chỉ khoảng 2 %. Trong
11
khi đó các quốc gia đang phát triển có tỷ trọng của công nghiệp, nông nghiệp, dịch
vụ lần lượt là 13%, 37% và 50%.
Sở dĩ các nước đang phát triển thường sử dụng chỉ tiêu cơ cấu kinh tế tính
theo GDP chứ không phải GNP vì cơ cấu kinh tế theo GDP phản ánh rõ hơn về
môi trường kinh doanh và đặc biệt là nó cùng với cơ cấu tính theo lao động sẽ
phản ánh mức độ phát triển tiến bộ của năng lực sản xuất của quốc gia đó theo
từng thời kì. (Do có thể so sánh trực tiếp bao nhiêu người tham gia vào ngành và
ngành này có giá trị là bao nhiêu…)
4.2. Cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ chuyển biến về lao động trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đây là chỉ tiêu hết sức quan trọng, nó trực tiếp phản
ánh sự chuyển biến của lực lượng lao động- tức là con người trong quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đối chiếu với chỉ tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế tính
theo GDP, chỉ tiêu này cho ta thấy được thành quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế
tới xã hội và quá trình phân phối ra sao. Chẳng hạn một quốc gia có cơ cấu tính
theo GDP là Công nghiệp 40%, nông nghiệp 25%, dịch vụ 35% nhưng tỷ trọng
lao động trong nông nghiệp của quốc gia đó lại chiếm tới 75% thì ta không thể coi
đây là một cơ cấu kinh tế hợp lý và bao hàm công bằng xã hội.
4.3. Cơ cấu kinh tế theo vùng miền
Cơ cấu kinh tế theo vùng miền phản ánh quy mô kinh tế của từng địa
phương trong tổng giá trị sản lượng quốc gia. Nó cho ta biết sự khác biệt về trình
độ phát triển kinh tế của từng địa phương để từ đó có các chính sách phân bổ
nguồn lực, chính sách khuyến khích ưu đãi với các vùng kinh tế khó khăn khắc
phục tình trạng chênh lệch giữa các vùng miền.
4.4. Cơ cấu hàng xuất khẩu
Cơ cấu hàng xuất khẩu phản ánh các nhóm hàng mà nước đó sản xuất ra để
bán trên thị trường thế giới, nó cho ta thấy năng lực trình độ sức sản xuất của quốc
gia đó, vị thế và năng lực cạnh tranh của quốc gia đó trên thị trường thế giới. Một
nước phát triển sẽ xuất khẩu chủ yếu là các mặt hàng có hàm lượng khoa học công
nghệ cao (điện tử, vi điện tử, dược phẩm, ô tô, phần mềm máy tính…); trái lại các
nước đang phát triển chỉ có khả năng sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng sử dụng
nhiều lao động và tài nguyên (da giày, khoáng sản, nông sản chưa qua chế
biến…).
5. Các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
12
Trong quá trình phát triển kinh tế của một đất nước các chủ thể kinh tế luôn hành
động theo hiệu quả kinh tế thiết thực. Ở một chừng mực nhất định quy hoạch phát
triển của Nhà nước có tác động đến cơ cấu đầu tư, nhưng kết quả cuối cùng lại
được thể hiện bằng cơ cấu trên các phương diện của nó. Cơ cấu kinh tế luôn thay
đổi theo chiều hướng hợp lý hơn, sự thay đổi đó chính là sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế. Nhìn chung chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một nước thường phụ thuộc
vào một số nhân tố bên trong và bên ngoài.
5.1. Ở trong nước:
- Các lợi thế về tự nhiên của đất nước cho phép có thể phát triển ngành sản
xuất nào một cách thuận lợi; quy mô dân số của quốc gia; trình độ nguồn nhân
lực; những điều kiện kinh tế, văn hóa của đất nước.
- Ngoài ra, nhu cầu của từng xã hội, thị trường ở mỗi giai đoạn lại là cơ sở
để sản xuất phát triển đáp ứng nhu cầu không chỉ về số lượng mà cả chất lượng
hàng hóa, từ đó dẫn đến những thay đổi về vị trí, tỷ trọng của các ngành nghề
trong nền kinh tế.
- Mục tiêu, chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế của từng quốc gia có tác
động quan trọng đến sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế vì mặc dù cơ cấu kinh tế
mang tính khách quan, tính lịch sử xã hội nhưng lại chịu tác động, chi phối rất lớn
bởi mục tiêu của Nhà nước. Nhà nước có thể tác động gián tiếp lên tỷ lệ của cơ
cấu ngành kinh tế bằng các định hướng phát triển, đầu tư, những chính sách
khuyến khích hay hạn chế phát triển các ngành nghề nhằm bảo đảm sự cân đối của
nền kinh tế theo mục đích đề ra trong từng giai đoạn nhất định.
- Cuối cùng, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong nước cho phép
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh hay chậm, hiệu quả đến mức nào
5.2. Ở bên ngoài
Bên cạnh những nhân tố tác động từ bên trong, những nhân tố tác động từ
bên ngoài đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế gồm có:
- Xu hướng chính trị, kinh tế, xã hội của khu vực và thế giới. Sự biến động
của chính trị, kinh tế, xã hội của một nước, hay một số nước, nhất là các nước lớn
sẽ tác động mạnh mẽ đến dòng hàng hóa trao đổi, từ đó ảnh hưởng đến nguồn thu
hút vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ buộc các quốc gia phải điều chỉnh chiến
lược phát triển kinh tế, cơ cấu kinh tế của mình nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia và
sự phát triển trong động thái chung của thị trường thế giới.
13
- Xu thế toàn cầu hóa kinh tế quốc tế hiện nay có tác động rất mạnh mẽ đến
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng nước, vì chính sự phân công lao động diễn
ra trên phạm vi quốc tế ngày càng sâu sắc và cơ hội thị trường rộng lớn được mở
ra trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế quốc tế, cho phép các nước có khả năng
khai thác những thế mạnh của nhau để trao đổi các nguồn lực, vốn, kỹ thuật, hàng
hóa và dịch vụ một cách hiệu quả Quá trình đó vừa bắt buộc, vừa tạo điều kiện
thuận lợi cho các nước thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với sự phân
công lao động trên quy mô toàn thế giới.
- Những thành tựu của cách mạng khoa học, kỹ thuật, đặc biệt sự bùng nổ
của công nghệ thông tin tạo nên những bước nhảy vọt trong mọi lĩnh vực sản xuất
góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước vì thông
tin nhanh chóng làm cho sản xuất, kinh doanh được điều chỉnh nhanh nhạy, hợp lý
hơn, dẫn đến cơ cấu sản xuất.
III. Mối quan hệ giữa đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1. Các lý thuyết kinh tế học nghiên cứu sự tác động của đầu tư tới quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
1.1. Mô hình Harrod - Domar
Mô hình do hai nhà kinh tế Roy Harrod của Anh và Evsey Domar của Mỹ
đưa ra vào những thập niên 40 của thế kỷ 20 và được sử dụng rộng rãi cho
đến ngay nay) đưa ra mối quan hệ hàm số giữa vốn (ký hiệu K) và tăng
trưởng sản lượng (ký hiệu là Y). Mô hình này cho rằng sản lượng của bất kỳ
một thực thể kinh tế nào - cho dù là một doanh nghiệp, một ngành hay
toàn bộ nền kinh tế - đều phụ thuộc vào số lượng vốn đã đầu tư đối với thực
thể kinh tế đó và được biểu diễn dưới dạng hàm:
Y = K/k (5)
Với k là hằng số, được gọi là hệ số vốn - sản lượng (Capital - output ratio)
(Gillis at al,1992, trang 43), quan hệ trên chuyển sang dạng tốc độ tăng hoặc vi
phân ta có:
Y(t)/Y(t
0
) = K(t)/Y(t
0
).1/k (6)
=> k = K(t)/Y(t
0
)/ Y(t)/Y(t
0
) (7)
ở đây: t là năm tính toán
t
0
là năm trước năm tính toán
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét