Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp xây dựng giao thông
suất kinh doanhvà tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, khác với thời kì bao
cấp, trong nền kinh tế thị trờng loại hình quan hệ này đợc phất triển hết
sức mạnh
(đặc biệt là quan hệ cung ứng, giao lu vốn ).
+ Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp:
Đó là những quan hệ về phân phối, điều hoà cơ cấu, thành phần vốn kinh doanh phân
thu nhập giữ các thành viên trong nội bộ doanh nghiệp, các quan hệ về thanh toán
hợp đồng lao động giữa doanh nghiệp với công nhân viên chức trong doanh nghiệp đó
- Nếu xét về nội dung kinh tế, các quan hệ về tài chính doanh nghiệp có thể
đ-
ợc chia theo 3 nhóm sau:
+ Nhóm các quan hệ tài chính nhằm mục đích khai thác, thu hút vốn. Đó là các
quan hệ về vay vốn hùn vốn, phát hành cổ phiếu và trá phiếu nhằm thu hút tạo lập
vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
+ Nhóm các quan hệ tài chính về đầu t, sử dụng vốn kih doanh, phần lớn quá
trình này đợc diễn ra trong nội bộ doanh nghiệp. Đó là việc phân phối để hình thành
cơ cấu vốn kinh doanhthích hợpvà sử dụng quản lý nhỏ : Vốn cố định, vốn lu động,
quỹ tiền lơng, quỹ khấu hao, quỹ dự trữ tài chính nhằm phục vụ cho mục tiêu kinh
doanh. Ngoài ra doanh nghiệp còn có thể góp vốn liên doanh mua trái phiếu, của
công ty khá, đây cũng là một hình thức đầu t quan trọng mà các doanh nghiệp thờng
áp dùng nhằm mục đích kiếm lợi nhuân và đảm bảo an
toàn vốn, đề phòng rủi ro bất
trắc.
+ Nhóm các quan hệ tài chính về phân phối thu nhập và lợi nhuận:
Nhóm quan hệ này có liên quan đến nhiều chủ thể và đối tợng phân phối nh: Liên
quan đến nhà trong việc nộp thuế, kiên quan đến ngân hàng trong việc thanh toán lãi
-5-
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp xây dựng giao thông
suất tín dụng, liên quan đến cổ đông, các thành viên góp vốn trong việc thanh toán cổ
tức, lãi liên doanh, liên quan đến nội bộ doanh nghiệp khi bù đắp,
trong các chi phí
đầu vào, phân phối các quỹ danh nghiệp
Các quan hệ tài chính diến ra trên các phạm vi khác nhau , chứa đựng các nội
dung kinh tế khác nhau, song tất cả các mối quan hệ đó đều có những điểm
chung
giống nhau là:
. Phản ánh luồng dịch chuyển giá trị, sự vận động của các nguồn tài chính
nẩy
sinh và gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
. Sự vận động và chuyển hoá của các nguồn tài lực trong kinh doanh không
phải là hỗn loạn mà đợc điều chỉnh bằng hệ thống các quan hệ phân phối dới hình
thức giá trị thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ, cac loại vốn
kinh
doanh nhất là trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
. Động lực của sự vận động, chuyển hoá các nguồn tài lực là nhằm mục tiêu
doanh lợi trong phạm vi cho phép của luật định.
1.2.2.1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp:
-Tài chính doanh nghiệp nó chính là tài chính của các pháp nhân kinh tế tức
là
các tổ chức kinh tế có t cách pháp nhân đầy đủ.
-Tài chính doanh nghiệp là một khâu của hệ thống tài chính kinh tế quốc
-6-
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp xây dựng giao thông
dân và tài chính tồn tại và phát triển dựa trên hai tiên đề:
+ Sự tồn tại của nhà nớc .
+ Sự tồn tại của nền sản xuất và tiền tệ
Nó phát sinh các mối quan hệ kinh tế có thể biểu hiện đợc bằng tiền - Việc giải
quyết
các quan hệ kinh tế tức là chúng ta đã thực hiện các hoạt động tài chính
-Với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều đợc tính toán,
đánh giá thông qua hình thái giá trị là dùng thớc do tiền tệ
-Hoạt động của các doanh nghiệp xây dựng giao thông cũng giống nh các
doanh nghiệp khác là dùng tiền để mua sắm các yếu tố đầu vào. Vòng tuần hoàn
vốn
cũng phải trải qua 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn I: (chuẩn bị sản xuất):
Dùng tiền để mua các yếu tố đầu vào T-H nhng hàng hoá ở đây là các yếu tố đầu
vào
là vật t thiết bị.
+ Giai đoạn II: (giai đoạn sản xuất):
Từ hàng Sản phẩm dở dang Sản phẩm hoàn thành chờ bàn giao thanh
toán.
+ Giai đoạn III: Những hình thái sảm phẩm tiêu thụ biến thành tiền tệ T>T
đảm bảo tái sản xuất . Vì vậy các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp giao
thông nói riêng không thể tồn tại một cách độc lập mà phải có sự liên hệ, phụ
thuộc
lẫn nhau cùng phát triển.
-7-
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp xây dựng giao thông
-Trong nền kinh tế thị trờng các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì
các doanh nghiệp phải cạnh tranh với nhaudẫn đến giảm đợc giá bán sản phẩm .
Muốn vậy các doanh nghiệp phải tìm cách giảm các chi phí và trong các yếu tố là sử
dụng đồng vốn có hiệu quả, điều đó giúp các doanh nghiệp có khả
năng bảo toàn và phát triển vốn.
1.2.3 Bản chất của tài chính :
Trên bề mặt của hiện tợng xã hội, tài chính đợc cảm nhận nh những nguồn lực
tài chính, những quỹ tiền tệ khác nhau, đại diện cho nhng sức mua nhất địnhở các chủ
thể trong xã hội . Hơn thế nữa nói đến tài chính ngời ta không chỉ thấy tiền ở trạng
thái tĩnh mà thấy những lợng tiền nhất định đang vận động để tạo nên những thế năng
về sức mua, hay chuyển thế năng đó thành hiên thực. Có thể thấy rõ những biểu hiện
bề ngoài của tài chính liên quan đến dân c, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và
nhà nớc. Doanh nghiệp nộp thuế cho nhà nớc, dân c mua cổ phiếu, trái phiếu tín
phiếu của các doanh nghiệp của ngân hàng, của kho bạc nhà nớc, ngời làm công và
các doanh nghiệp nộp tiền vào quỹ Bảo hiểm xã hội, mua bảo hiểm rủi ro (nộp phí
bảo hiểm). Nhà nớc cấp phát từ ngân sách của mình cho việc xây dựng giao thông, tài
trợ các trờng học, bệnh viện, tài trợ cho việc nghiên cứu khoa học , các doanh nghiệp
sử dụng vốn để mua sắm vật t , thiết bị kinh doanh, các ngân hàng cho doanh nghiệp
vay tiền, các công ty bảo hiểm đền bù thiệt hại cho dân c khi mất sức lao động tạm
thời hay vĩnh viễn ( từ quỹ bảo hiểm xã hội), hay khi bị tai nạn rủi ro ( từ quỹ bảo
hiểm
rủi ro ).
Những hiện tợng trên, có thể thấy tiền tệ xuất hiện trớc hết vời thớc đo giá trị
mà trớc hết ở chức năng phơng tiện thanh toán chi trả và phơng tiện cất trữ tiền tệ
xuất hiện đại diện cho một giá trị đặc cho một thế năng có sức mua nhất định. Nh vậy
trong các hiện tợng gọi là tài chính có thể thấy sự xuất hiện của những nguồn lực
-8-
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp xây dựng giao thông
( ngòn tài chính). Trong xã hội có sản xuất hàng hoá, các chủ thể trong xã hội luôn
luôn gặp những vấn đề sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực, tài lựchiện có trong tay
mình một cách có hiệu quả cao. Trong nền kinh tế thị trờng, mỗi chủ thể trong xã hội
khi nắm trong tay những nguồn tài lực nhất định là đã nắm trong tay một scs mua để
có thể nắm đợc những nguồn vật lực hay sử dụng đợc những nguồn lực nhất định để
sử dungj cho mục đích tích luỹ hay tiêu dùng.
Với sự phân tích trên có thể xác định bản chất tài chính qua các khía cạnh sau:
-Sự vận động tơng đối cuả các nguồn tài chính để trực tiếp ( hay thông qua
thị
trờng) tạo lập hoạc sử dụng các quỹ tiền tệ nh mặt trực quan của tài chính .
-Đằng sau những hiện tợng bề mặt đó là các quan hệ kinh tế trong phân
phối của cải vật chất xã hội duơí hình thức phân phối các nguồn tài chính.
-Việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ là phơng thức phân phối đặc thù, giúp
phân biệt phân phối tài chính với các phạm trù phân phối khácnh giá cả,
tiền lơng
Các quỹ tiền tệ bao giờ cũng thể hiện mục đích của nguồn tài chính. Đây là
tiêu thức chính của các quỹ tiền tệ là một lợng nhất định nguồn lực tài chính đợc
dùng cho một mục đích nhất định. Tất cả các quỹ tiền tệ đều vận động thờng xuyên
tức là chúng luôn luôn đợc tạo lập ( hoặc đợc bổ sung )và đợc sử dụng. Là một dạng
khác của sự vận động đó và nhằm mục đích cụ thể nào đó, các quỹ lớn đợc chia thành
các quỹ nhỏ hoặc các quỹ nhỏ đợc khuyếch trơng nhờ
tập chung các quỹ nhỏ tơng ứng .
-Từ đó có thể xác định nội dung kinh tế của phạm trù tài chính nh sau: Tài
chính đợc bằng sự vận động độc lập tơng đối của tiền tệ với chức năng phơng tiện
thanh toán và phơng tiện cất trữ trong quá trình sử dụng hay tạo lập các quỹ tiền tệ
-9-
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp xây dựng giao thông
đại diện cho những sức mua nhất định ở các chủ thể kinh tế xã hội. Tài chính phản
ánh tổng thể các mối quan hệ trong phân phối nguồn lực tài chính thông qua tạo lập
hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm mục đích đáp ứng tích luỹ
hay tiêu dùng của các chủ thể trong xã hội.
Sự khác nhau giữa tài chính và tiền tệ là:
Tài chính không phải là tiền tệ với chức năng và bản chất nh vậy mà là phơng vận
động độc lập tuơng đối của tiền tệ với chức năng và phơng tiện cất trữ của nó, mà tính
đặc trng của nó trong lĩnh vực phân phối là tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ khác
nhau cho mục đích tích luỹ và tiêu dùng khác nhau. Trong điều kiện kinh tế thị trờng,
tài chính chịu sự chi phối của các quy luật thị trờng và có
liên hệ chặt chẽ với thị trơng tài chính.
-Tài chính là những quan hệ kinh tế mà trên cơ sở nhng quan hệ kinh tế này thì
những quỹ tiền tệ ddợc hình thành và sử dụng. Tài chính là sự vận động của giá trị
gắn liền với sự tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ trong doanh nghiệp.
Hiện nay ngời ta chia quan hệ kinh tế thành 4 nhóm :
+ Mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân sách nhà nớc ( doanh nghiệp có
thể
là doanh nghiệp nhà nớc hoặc doanh nghiệp khác).
nếu là doanh nghiệp nhà nớc: Nhà nớc cung cấp vốn ban đầu cho doanh
nghiệp hoạt động. Doanh nghiệp có trách nhiệm quản lý và sử dụng số vốn đợc giao
đồng thời doanh nghiệp phải có trách nhiệm nộp vào ngân sách cac khoản
thu theo luật định, mối quan hệ này mang tính chất hai chiều.
Đối với các doanh nghiệp khác: Các doanh nghiệp này không đợc nhà nớc cấp
vốn nên các doanh nghiệp phải tụe xoay vốn để hoạt động nhng vẫn
phải có trách nhiệm với nhà nớc. đây là mối quan hệ một chiều.
-10-
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp xây dựng giao thông
+ Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với hệ thống tín dụng ngân hàng . Nó đợc
thể hiện rõ trong mối quan hệ vay vốn và trả vốn (cả gốc và lãi) giữa doanh
nghiệp với tổ chức tín dụng ngân hàng.
+ Mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp mối thị trờng:
Doanh nghiệp là ngời mua: Mối quan hệ này phát sinh khi doanh nghiệp
trả tiền các vật liệu, máy móc, mua sức lao động
Khi doanh nghiệp là ngời bán: Nó thể hiện khi doanh nghiệp bàn giao tiêu thụ
sản phẩm và nhận tiền về, ở đây doanh nghiệp đóng vai trò là ngời tạo lập quỹ tiền tệ.
+ Mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các đơn vị thành viên cán bộ công
nhân viên chức trong nội bộ doanh nghiệp, nó thể hiện ở: Lơng và các quỹ phúc
lợi
1.2.4 Chức năng của tài chính doanh nghiệp
Bản chất của tài chính doanh nghiệp đợc biểu hiện thông qua các quan hệ tài
chính trong quá trình tái sản xuất và biểu hiện ngay trong các chức năng vốn
có của chúng. Tài chính doanh nghiệp có hai chức năng:
- Phân phối dới hình thức giá trị của cải xã hội.
- Giám đốc bằng đồng tiền mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.2.4.1 Chức năng phân phối :
Chức năng phân phối là chức năng vốn có khách quan của tài chính doanh
nghiệp nó thể hiện công dụng và khả năng của tài chính trong việc phân phối dới hình
thức giá trị của cải xã hội trên các khâu của quá trình tái sản xuất và cần làm rõ 2 vấn
đề sau:
- Tại sao chức năng phân phối lại đợc coi là chức năng vốn có của phạm
-11-
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp xây dựng giao thông
trù tài chính ?
- Quan niệm về đối tợng phân phối và phân phối .
Trong nền sản xuất hàng hoá, sự xuất hiện của phạm trù tài chính doanh nghiệp là
một đòi hỏi tất yếu. Để tiến hành sản xuất kinh doanh cần phải có một lợng vốn ban
đầu nhất định. Lợng vốn này đợc phân chia thành những lợng vốn nhỏ hơn ( vốn cố
định, vốn lu động ) tơng ứng với các quá trình sản xuất kinh doanh. Khi kết thúc
một chu kỳ sản xuất kinh doanh, thu nhập tiền tệ sẽ đợc trang trải các chi phí ban đầu
đã bỏ ra và tiếp tục cho chu kỳ mới Nh vậy, phân phối đã trở thành một đòi hỏi tất
yếu khách quan của mọi quá trình sản xuất kinh doanh. Tính vì vậy chức năng phân
phối có thể coi là thuộc tính khách quan của phạm trù
tái chính doanh nghiệp.
Cũng từ đó ta thấy, chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp đợc quan
niệm cả về phơng thức phân phối và đối tợng phân phối. Tài chính ở doanh nghiệp có
thể diễn ra trong từng khâu của quá trình tái sản xuất, trong sản xuất, trong trao đổi
và cũng có thể diễn ra trong một phạm vi cùng một hình thức
sở hữu hoặc nhiều hình thức sở hữu.
Mặt khác, đối tợng phân phối của tài chính doanh nghiệp diễn ra ở nhiềukhâu
trên phạm vi toàn xã hội. Thể hiện ở các nguồn vốn dùng trong sản
xuất kinh doanh đã đợc đa dạng hoá.
Chức năng phân phối của tài chính doanh nghiệp đợc biểu hiện trớc ở việc
phân phối thu nhập của doanh nghiệp. Thu nhập của doanh nghiệp trớc hết đợc phân
phối để bù đắp các yếu tố vật chất bị tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh nh:
chi phí vật t, nhiên liệu, khấu hao máy móc thiết bị, trả công lao động, chi phí
marketing, trả lãi vay phần còn lại của thu nhập sau khu bù đắp này lại tiếp tục đợc
phân phối : một phần nộp cho nhà nớc ( thuế thu nhập doanh nghiệp )phần còn lại
trích lập các quỹ của doanh nghiệp và chia lợi tức cổ
-12-
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp xây dựng giao thông
phần.
Chức năng tài chính doanh nghiệp không chỉ giới hạn ở phân phối thu nhập
và lợi nhuận mà nó còn hiện diện ở tất cả các khâu của quá trình tuần hoàn vốn kinh
doanh. Nh điều chỉnh từ vốn ccố định sang vốn lu động, thu hút các nguồn tài trợ tử
bên ngoài doanh nghiệp. Nh vậy, nhờ chức chức năng phân phối mà các quỹ tiền tệ
của doanh nghiệp đợc tạo lập và linh hoạt trong việc huy động và sủ
dụng vốn để đẩy
nhanh tốc độ chu chuyển vốn
1.
2.4.2 Chức năng giám đốc:
Chức năng giám đốc cũng là một thuộc tính vốn có khách quan của phạm trù
tài chính doanh nghiệp. Nó biểu hiện trong việc giám sát tạo lập và sử dụng các quỹ,
mục đích sử dụng và tính hiệu quả trong quá trình sản xuất và kinh doanh. Tính
khách quan của chức năng giám đốc xuất phát từ mục đích doanh nghiệp là nhằm bỏ
vốn kinh doanh nhằm thu lại lợi nhuận càng cao càng tốt và vì
vậy phải giám sát quá trình chi tiêu, quá trình đầu t sao cho có hiệu quả tốt nhất.
Chức năng giám đốc tài chính là giám đốc bằng đồng tiền thông qua các chỉ
tiêu tài chính. Bởi các chỉ tiêu tài chính phản ánh trung thực và toàn diện quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó đánh giá đợc thực trạng về năng lực tài
chính của doanh nghiệp tại các kỳ nhất định, giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp tăng c-
ờng quản lý, điều chỉnh hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Biểu hiện tập chung
nhất của chức năng giám đốc tài chính là giám đốc quá trình hình thành và sử dụng
các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Quá trình phân phối sẽ tạo ra hàng loạt các quỹ tiền
tệcủa doanh nghiệp, nhng các quỹ này phải đợc hình thành từ các nguồn tài chính hợp
lý và sử dụng phải có hiệu quả do vậy đây chính là công việc của chức năng giám sát.
Ví nh: Vốn doanh nghiệp đợc hình thành từ nhiều nguồn vốn khác và trong quá trình
sản xuất kinh doanh nó thờng xuyên biến động và đợc bổ sung nh vốn vay, phát hành
-13-
Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp xây dựng giao thông
trái phiếu, cổ phần hoặc có thể điều chỉnh từ nguồn vốn cố định sang nguồn vốn lu
động trong nội bộ Khả năng giám đốc tài chính cho phép ngời quản lý lựa chọn
những quyết định tài chính đúng đắn trong việc hình thành và sử dụng các nguồn tài
trợ và các quỹ của doanh nghiệp. Cho phép lựa chọn những dự án đầu t có hiệu quả
và hạn chế đợc rủi ro trong kinh doanh. Chức năng giám đốc tài chính trong doanh
nghiệp còn giúp cho các nhà quản lý ở các cấp có biện pháp làm lành mạnh hoá quan
hệ tài
chính trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Hai chức năng tài chính doanh nghiệp là phân phối và giám đốc có mối quan
hệ hữu cơ với nhau, nhờ có phân phối mà tài chính phải có giám đốc và ngợc lại nhờ
có giám đốc thì phân phối mới đúng hớng và có hiệu quả và cũng
nhò hai chức năng sẽ làm lạnh mạnh hoá tình hình tài chính của doanh nghiệp.
1.3. Vai trò và vị trí của tài chính doanh nghiệp:
1.3.1 Vai trò của tài chính doanh nghiệp :
Trong điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay, các doanh nghiệp
phải tự lo nguồn lực tài chính của mình và phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực
tài chính của mình và phải sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn lực tài
chính đã huy động. Vì vậy tài chính của doanh nghiệp có các Vai trò sau
đây:
- Tài chính doanh nghiệp là một công cụ khai thác, thu hút các nguồn tài
chính
nhằm đảm bảo nhu cầu đầu t phát triển của doanh nghiệp .
Để thực hiện mọi quá trình sản xuất kinh doanh trớc hết mọi doanh nghiệp
phải có một yếu tố tiên đề đó là vốn kinh doanh. Trong cơ chế quản lý quan liêu bao
-14-
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét