Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Tăng cường quản lý của nhà nước về tiêu chuẩn hoá trong lĩnh vực Nông sản - Thực phẩm

Khác với nhiều loại hàng hoá khác lơng thực, thực phẩm là một loại hàng
hoá đặc biệt. Nhờ có nó mà con ngời mới có thể sống, tồn tại và phát triển. Nó
ảnh hởng trực tiếp đến cuộc sống của mỗi ngời, bởi vì hàng ngày ai cũng cần
thức ăn và nớc uống. Xã hội càng văn minh thì chất lợng thực phẩm cũng vì thế
mà tăng lên không ngừng.
Trớc đây Việt Nam chỉ là một nớc nông nghiệp lạc hậu. Nông dân làm ra
nông sản với mục đích tự cung, tự cấp cho chính cuộc sống gia đình hoặc một
phần đợc bán ra trong phạm vi không gian hẹp. Thực phẩm làm ra phần lớn ở
dạng đơn giản, chủ yếu đợc chế biến trực tiếp trong các bếp gia đình.
b) ý nghĩa
Trớc đây Việt Nam chỉ là một nớc nông nghiệp lạc hậu. Nông dân làm ra
nông sản với mục đích phục vụ cho chính cuộc sống của họ là chủ yếu cho nên
họ không quan tâm đến công tác tiêu chuẩn hoá trong lĩnh vực này.
Bớc sang nền kinh tế thị trờng, để chuyển mình từng bớc tiến lên công
nghiệp hoá hiện đại hoá. Muốn tăng khả năng cạnh tranh và nâng cao chất lợng
hàng hoá nói chung và hàng hoá nông sản thực phẩm nói riêng cần phải có công
tác quản lý của nhà nớc về tiêu chuẩn hoá trong lĩnh vực nông sản - thực phẩm.
Qua việc nghiên cứu thì thấy rằng công tác quản lý của nhà nớc mà thực
hiện tốt, tránh đợc mọi sai sót sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với việc phát triển kinh
tế - xã hội.
- Thứ nhất: Tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá nông sản - thực phẩm
trong nớc, nâng cao chất lợng sản phẩm.
- Thứ hai: Bảo đảm sức khoẻ cho ngời tiêu dùng và đảm bảo tin tởng xác
đáng trong việc lu thông lơng thực.
- Thứ 3: Kiện toàn tốt hơn nữa bộ máy quản lý của nhà nớc bằng việc phân
ngành quản lý trong từng lĩnh vực cụ thể. Tạo ra sự liên kết giữa các ngành, các
bộ với nhau.
Tóm lại qua việc nghiên cứu vấn đề này sẽ cho chúng ta thấy đợc ý nghĩa
của hàng hoá nông sản thực phẩm rất lớn trong nền kinh tế đất nớc. Mà đặc biệt
hơn nữa là phục vụ cho cuộc sống của con ngời ngày một nâng cao đáp ứng tốt
hơn công tác quản lý của nhà nớc trong lĩnh vực này tạo đà phát triển kinh tế -
văn hoá - xã hội.
5
Vì thế ngời ta ít quan tâm tới việc tiêu chuẩn hoá thực phẩm nh là một yếu
tố quan trọng nhằm tạo nên nông sản hàng hoá và việc giáo dục tiêu chuẩn hoá
trong xã hội cũng không cần đợc đặt ra.
Từ một nớc nông nghiệp lạc hậu chúng ta từng bớc tiến lên công nghiệp
hoá. Nông nghiệp chuyển dần từ ngành sản xuất nông sản tự cấp, tự túc sang
nông sản thực phẩm hàng hoá. Đây là một bớc tiến quan trọng trong nền sản
xuất nông nghiệp của nớc ta.
Hiện nay nông sản - thực phẩm làm ra không chỉ lu thông trên thị trờng
của một địa phơng mà đã mở rộng ra nhiều nơi khác xa hơn.
Nhiều nông sản thực phẩm đã trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng
của đất nớc nh: chè, cà phê, hạt điều, hạt tiêu rau quả, thuỷ sản, đặc biệt là gạo.
Từ một nớc luôn luôn thiếu lơng thực chúng ta đã trở thành một quốc gia xuất
khẩu gạo điều đó đã tạo nên một khuôn mặt Việt Nam mới trên thị trờng ngũ
cốc thế giới.
Qua tìm hiểu các đặc trng của hàng hoá nông sản - thực phẩm chúng ta
thấy đợc vai trò của nó đối với đời sống kinh tế - xã hội hết sức to lớn. Không
những nó chiếm tỷ trọng tơng đối lớn trong nền kinh tế của đất nớc mà còn là
một thứ "nguyên liệu" sống cho ngời dân. Hơn nữa trong thời đại ngày nay bất
kỳ một sản phẩm nào muốn trở thành hàng hoá có chất lợng, có thị trờng ổn
định và có hiệu quả kinh tế cao đều phải quan tâm tới tiêu chuẩn hoá. Khi công
tác quản lý của nhà nớc đã đẩy nhanh việc nâng cao chất lợng hàng hoá nông
sản thực phẩm cũng có nghĩa là tiến thêm một bớc trên con đờng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc.
3. Sản xuất, tiêu dùng của thế giới - Việt Nam
Trong môi trờng cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay, các nớc đang có
những nỗ lực nhằm tìm kiếm giải pháp để tăng cờng xuất khẩu và hạn chế nhập
khẩu. Xuất khẩu là mục tiêu hớng tới của nhiều quốc gia trên thế giới. Việt
Nam cũng đang cố gắng mở rộng thị trờng xuất khẩu của mình thông qua việc
đề ra và thực hiện các biện pháp nhằm đáp ứng các yêu cầu thơng mại của nớc
nhập khẩu.
Hiện nay xuất khẩu chiếm tỷ trọng đáng kể trong GDP của đất nớc trong
đó nông sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu chính.
6
Các nhà sản xuất và xuất khẩu Việt Nam đang đứng trớc những yêu cầu về
tiêu chuẩn, chất lợng và môi trờng. Những yếu tố hết sức cần thiết để mở rộng
thị trờng và đảm bảo tăng trởng xuất khẩu một cách bền vững, đặc biệt trong
xuất khẩu hàng nông sản.
Việc nghiên cứu tìm hiểu các yêu cầu và tác động của tiêu chuẩn chất lợng
và môi trờng đối với hàng nông sản là hết sức cần thiết và quan trọng.
a) Nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về tiêu chuẩn chất lợng
và môi trờng:
Theo kết quả điều tra mới nhất của vụ chính sách kinh tế đa biên (Bộ th-
ơng mại) thì không ít doanh nghiệp Việt Nam hiện nay cha hiểu biết đầy đủ về
các tiêu chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn môi trờng quốc tế. Đối với họ các tiêu
chuẩn về vệ sinh, kiểm dịch, tiêu chuẩn môi trờng, tiêu chuẩn kỹ thuật, mẫu mã
sản phẩm và bao gói sản phẩm đều thuộc khái niệm "chất lợng sản xuất". Nhiều
khi các hoạt động cải tiến chất lợng sản phẩm chỉ mới chủ yếu đợc tập trung
vào việc nâng cao giá trị sử dụng của hàng hoá hoặc cải tiến mẫu mã, bao bì
chứ cha đợc tập trung đúng mức vào các khía cạnh kỹ thuật hay tiêu chuẩn kỹ
thuật vệ sinh kiểm dịch (SPS) và môi trờng.
Tất cả các doanh nghiệp đều nhận thức đợc rằng, chất lợng sản phẩm là
một trong những yếu tố quyết định, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của họ
trên thị trờng quốc tế, nên họ đã rất chú trọng đến việc nâng cao chất lợng sản
phẩm. Tuy nhiên cho đến nay các doanh nghiệp vẫn mới chỉ nhìn nhận cách tốt
nhất để nâng cao chất lợng sản phẩm là áp dụng công nghệ tiên tiến và các hệ
thống quản lý chất lợng hiện đại nh Bộ tiêu chuẩn ISO 9000, chứ cha nhận thấy
vai trò to lớn của hệ thống quản lý môi trờng ISO 14000. Các doanh nghiệp hầu
nh không có thông tin về các hiệp định môi trờng đa phơng hoặc các quy định
của WTO liên quan đến môi trờng.
Vấn đề môi trờng mới chỉ đợc các doanh nghiệp đề cập đến đợc góc độ
bảo vệ môi trờng trong quá trình sản xuất. Ví dụ nh vấn đề xử lý chất thải, an
toàn vệ sinh nơi làm việc
b) Yêu cầu về tiêu chuẩn môi trờng của các nớc nhập khẩu
Yêu cầu của các nớc nhập khẩu đối với một sản phẩm nào đó thì rất khác
nhau Mỗi nớc có một hệ thống tiêu chuẩn riêng và các doanh nghiệp Việt
7
Nam phải tuân thủ để đáp ứng yêu cầu của mỗi loại tiêu chuẩn, trong đó có tiêu
chuẩn về môi trờng. Điều này trên thực tế nhiều khi đã hạn chế khả năng mở
rộng thị trờng của các doanh nghiệp hoặc do hệ thống sản xuất của họ không đủ
linh hoạt để đáp ứng với tất cả các loại yêu cầu đặc thù của các nớc bạn hàng,
hoặc do họ không có khả năng đầu t để đáp ứng các tiêu chuẩn đợc đặt ra.
Nhiều nớc quy định tiêu chuẩn chất lợng và môi trờng hết sức cao nhằm bảo
đảm an toàn vệ sinh và sức khoẻ cho ngời tiêu dùng. Điều này đã làm cho các
doanh nghiệp muốn xuất khẩu sản phẩm của mình sang các nớc đó gặp rất
nhiều khó khăn. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, một khi hầu hết cơ sở hạ
tầng và các trang thiết bị còn lạc hậu thì vấn đề môi trờng vẫn sẽ còn là một
thách thức lớn cho việc mở rộng thị trờng và tăng cờng xuất khẩu. Các doanh
nghiệp cho rằng, việc hài hoà tiêu chuẩn với tiêu chuẩn của các nớc nhập khẩu
là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thơng
mại phát triển.
c) Tác động của tiêu chuẩn chất lợng và môi trờng đến hàng nông sản
xuất khẩu:
* Các vấn đề về thủ tục đánh giá phù hợp tiêu chuẩn các nớc nhập khẩu.
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, đa số các Tổng công ty nhà nớc xuất khẩu
nông sản đều có bộ phận kiểm tra và quản lý chất lợng riêng.
Một số bạn hàng nhập khẩu (với những lô hàng cụ thể) công nhận các bộ
phận kiểm tra chất lợng này và cho phép họ giám định và chứng nhận chất lợng
hàng hoá xuất khẩu. Tỏng trờng hợp khác doanh nghiệp xuất khẩu phải xin giấy
chứng nhận bảo đảm chất lợng tại một cơ quan đợc chỉ định, ví dụ nh Vina
Control hoặc một cơ quan giám định hàng hoá nớc ngoài.
Một số nớc nhập khẩu lại yêu cầu hàng hoá nhập khẩu vào nớc họ phải có
giấy chứng nhận chất lợng của một cơ quan đợc chỉ định tại nớc họ. Thủ tục
này thờng mất rất nhiều thời gian và tốn kém. Cũng có trờng hợp nớc nhập khẩu
cho phép một cơ quan giám định của nớc xuất khẩu cấp giấy chứng nhận chất l-
ợng nhng thủ tục giám định phải tuân thủ nghiêm ngặt các hớng dẫn và chỉ thị
của họ. Các thủ tục này thờng rất tốn kém và dẫn đến sự chậm chễ trong việc
giao hàng.
* Các vấn đề về tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh kiểm dịch.
Yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh kiểm dịch thờng đợc quy định
8
trong hợp đồng giữa bên xuất khẩu và bên nhập khẩu, tuỳ theo từng trờng hợp
cụ thể mà các quy định có thể khác nhau. Trong đa số các trờng hợp nông sản
xuất khẩu khác phải tuân thủ các yêu cầu chất lợng rất nghiêm ngặt của nớc
nhập khẩu. Việc đáp ứng yêu cầu chất lợng đợc chứng nhận thông qua "Giấy
chứng nhận chất lợng" do các cơ quan khác nhau cấp.
Một số nhà nhập khẩu nớc ngoài khi nhập khẩu nông sản từ Việt Nam phải
hoàn thành rất nhiều thủ tục nhập khẩu và kiểm tra chất lợng phức tạp ở nớc họ.
Ví dụ có nhà nhập khẩu phải xin giấy giới thiệu của Bộ trởng Nông nghiệp
hoặc hiệp hội nông nghiệp khi nhập một mặt hàng nông sản nào đó. Những thủ
tục phiền hà này tại nớc nhập khẩu đôi khi cũng làm nản chí một số nhà nhập
khẩu muốn làm ăn với Việt Nam.
Cũng có nhiều nớc đặt ra tiêu chuẩn chất lợng cao đối với hàng nông sản
nhập khẩu, đặc biệt là mặt hàng rau quả (nh tiêu chuẩn về hàm lợng chất bảo vệ
thực vật, chất phụ gia, độc tố, kim loại nặng, độ ẩm, nấm mốc v.v
Các tiêu chuẩn này thậm chí còn cao hơn cả các tiêu chuẩn quốc tế. Một
số nớc nhập khẩu lại quy định việc nhập khẩu nông sản phải tuân thủ những
luật lệ và quy định nhất định; ví dụ luật bảo vệ cây trồng, luật an toàn vệ sinh
thực phẩm, các quy định về chất phụ gia thực phẩm v.v Tuy nhiên những quy
định này không phải lúc nào cũng minh bạch, nhất quán và đợc công bố rộng
rãi để các nhà sản xuất nớc ngoài biết.
* Chi phí để đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật và môi trờng.
Tất cả các doanh nghiệp đều rất chú trọng đến việc cải tiến chất lợng sản phẩm
của mình. Cách tốt nhất theo họ nghĩ để làm đợc điều này là áp dụng hệ thống
quản lý chất lợng ISO 9000.
Tuy nhiên chi phí cụ thể cho việc đầu t này không đợc các doanh nghiệp
đề cập tới. Nhiều doanh nghiệp cho rằng các yêu cầu của nớc nhập khẩu đối với
hàng nông sản rất cao. Muốn đáp ứng các yêu cầu này thì phải mất nhiều thời
gian và tiền của. Ví dụ: (Phạt do giao hàng chậm, phụ trội chi phí kinh doanh,
phí giám định hàng hoá v.v ).
* Sự phân biệt đối xử của nớc nhập khẩu đối với các nớc xuất khẩu.
Theo kết quả khảo sát của vụ chính sách kinh tế Đa biên (Bộ thơng mại)
thì sự phân biệt cơ bản nhất là phân biệt đối xử về thuế quan. Nhiều nớc nhập
9
khẩu không cho Việt Nam hởng thuế suất theo quy chế. Do đó hàng xuất khẩu
của Việt Nam khó cạnh tranh đợc với hàng cùng loại của các nớc xuất khẩu
khác.
Các nớc nhập khẩu cũng thờng phân loại các nớc xuất khẩu theo những
tiêu chuẩn chất lợng môi trờng và SPS của mình.
Trong nhiều trờng hợp Việt Nam không đợc nằm trong danh sách u đãi và
vì vậy mà một số sản phẩm của Việt Nam không đợc nhập khẩu trong khi sản
phẩm tơng tự của một số nớc khác vẫn đợc phép nhập khẩu.
d) Tình hình thơng mại trong lĩnh vực tiêu chuẩn hoá nông sản - thực
phẩm:
Thơng mại Việt Nam
26-6-1999 - Trang 4.
- 5 tháng đầu năm 1999 cả nớc đã xuất khẩu 1,94 triệu tấn gạo trị giá 457
triệu USD.
- Tính đến hết tháng 10 năm 1999 kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản cả nớc
đạt 769 triệu USD. Trong đó xuất khẩu sang thị trờng châu á chiếm 70%, châu
Âu 10%, châu Mỹ 15%.
10
Xuất khẩu T11 và 11 tháng năm 1999
Đơn vị tính: Nghìn tấn và triệu USD
Chính thức
T10/1999
Ước tính
T11/1999
Cộng dồn 11
tháng 1999
11 tháng 1999 so
cùng kỳ năm tr-
ớc (%)
Mặt hàng chủ
yếu
Lợng Giá trị Lợng Giá trị Lợng Giá trị Lợng Giá trị
Lạc nhân 4,5 2,4 4 2,5 54 32 65,6 81,0
Cao su 29 14 35 17 215 117 126,9 102,1
Cà phê 39 38,9 55 56 383 481 114,6 92,1
Chè 3,6 3,5 5 6,6 30 38 97,1 79,9
Gạo 240 41 220 43,6 4246 964 120,4 100,3
Hạt điều 1,7 9,5 1,2 7 14 83 58,8 77,6
Hạt tiêu 1,4 6,0 9 4 34 136 258,7 235,3
Rau quả 7,8 5 68 130,3
Hải sản 97 105 893
Xuất khẩu năm 2000
Đơn vị tính: Nghìn tấn, triệu USD
Thực hiện 11
tháng năm 2000
Ước tính
T12/2000
Ước tính cả năm
2000
Ước tính cả năm
2000 so với 1999
Mặt hàng Lợng Giá trị Lợng Giá trị Lợng Giá trị Lợng Giá trị
Hải sản 1325 150 1475 151,9
Gạo 3212 616 288 52 3500 668 77,6 65,2
Cà phê 614 449 80 36 694 485 144,0 82,9
Rau quả 185 20 205 195,2
Cao su 245 150 35 20 280 170 105,7 115,8
Hạt tiêu 35,7 141 0,5 1 36,2 142 104 103,6
Hạt điều 23,3 116 3,1 14 26,4 130 143,4 118,2
Chè 40,7 47 4,0 7 44,7 53,4 122,8 118,7
Lạc 74,2 40 4,0 2 78,2 42 140,9 128,7
11
* Dự báo cung cầu về lơng thực trong giai đoạn 2001-2005:
- Tổng sản lợng lơng thực trong 5 năm dự kiên đạt 175 - 180 triệu tấn tăng
bình quân hàng năm 2,2%.
- Sản lợng lơng thực hàng hoá đạt 70 - 75 triệu tấn, chiếm 47,5% tổng sản
lợng (bình quân mỗi năm đạt 14 triệu tấn).
- Sản lợng lơng thực hàng hoá đa vào tiêu dùng sẽ đạt khoảng 25-30 triệu
tấn, chiếm 14% tổng sản lợng.
- Lợng gạo để xuất khẩu dự kiến đạt 14-16 triệu tấn (khoảng 28-33 triệu
tấn thóc) bình quân xuất khẩu 3,5 - 4,2 triệu tấn gạo mỗi năm.
* Dự báo về các mặt hàng xuất khẩu chính năm 2001.
- Cà phê:
+ Tổng sản lợng 91 triệu bao (mỗi bao 60 kg) tăng 1,6% so với vụ trớc.
+ Tổng nhu cầu 76,9 triệu bao.
+ Dự trữ 69 triệu bao.
+ Các thị trờng tiêu thụ chính: Canada, Mỹ, các nớc Đông Âu, Mỹ Latinh,
Bắc Phi, Viễn Đông, Nga.
- Thuỷ sản: Thị trờng thuỷ sản sẽ sôi động hơn vì 2 bạn hàng đứng đầu
nhập khẩu thuỷ sản của Việt Nam là Nhật Bản và Hàn Quốc đang trên đà tăng
trởng kinh tế nên nhu cầu nhập thuỷ sản có thể tăng. Bên cạnh đó Mỹ là thị tr-
ờng nhiều triển vọng. Có thể năm tới giá tôm sẽ tăng.
- Đờng:
+ Tổng sản lợng: 131 triệu tấn giảm 5 triệu tấn so với năm 2000.
+ Tổng nhu cầu: 137-140 triệu tấn.
+ Dự báo giá đờng sẽ phục hồi trong năm tới.
12
Xuất khẩu gạo cà phê cao su 1996-2000
1996 1997 1998 1999 2000
SL G.trị SL G.trị SL G.trị SL G.trị SL G.trị
Gạo (triệu tấn) 3,0 855 3,5 870 3,7 1024 4,5 1025 3,5 668
Cà phê (1000 tấn) 239 337 389 491 382 584 482 585 694 485
Cao su (1000 tấn) 111 150 195 191 191 128 265 147 280 170
4. Sự cần thiết phải có công tác quản lý của nhà nớc
Nh chúng ta đã biết thực phẩm là kết quả của các quy trình chế biến nông
sản mà có đợc. Vì vậy muốn thấy đợc sự cần thiết phải có công tác quản lý của
nhà nớc thì phải đi sâu tìm hiểu tình hình quản lý an toàn nông sản ở nớc ta
trong những năm qua ra sao?
Theo thống kê cha đầy đủ của Bộ y tế năm 1997 có 558 vụ ngộ độc thức
ăn với 6421 ngời mắc và 46 ngời chết. Có những vụ ngộ độc đã làm cho hàng
ngàn ca phải vào bệnh viện nh vụ ngộ độc tại một xí nghiệp giầy da ở Bình D-
ơng. Nếu theo cách tính của WHO thì trong năm 1997 đã có hàng triệu ngời bị
ngộ độc thực phẩm. Ngay từ đầu năm 1998 cũng đã xảy ra hàng loạt vụ ngộ độc
thức ăn mà điển hình là vụ ngộ độc thức ăn ở trờng mầm non 11A thành phố Hồ
Chí Minh với hàng trăm cháu bị bệnh. Nguyên nhân chủ yếu của các vụ ngộ
độc là do phơng thức bảo quản và chế biến thức ăn không hợp vệ sinh làm cho
thực phẩm bị nhiễm vi sinh vật gây bệnh. Các vụ ngộ độc có thể gây thiệt hại
rất lớn cho sức khoẻ và kinh tế của một quốc gia. Ngay cả ở một nớc phát triển
nh Hoa Kỳ thì hàng năm có hàng chục triệu lợt ngời bị ốm và 10.000 ngời chết
do vi sinh vật gây bệnh có trong thực phẩm, con số thiệt hại do ngộ độc thực
phẩm cũng lên tới hàng chục tỷ đô la.
Tại Việt Nam thiệt hại của nhân dân và nhà nớc trong năm 1997 do yếu
kém trong công tác vệ sinh thực phẩm với ớc tính sơ bộ cũng đã tới hàng ngàn
tỷ đồng.
Năm 1999 với con số thống kê cha đầy đủ về ngộ độc thực phẩm của 44
tỉnh, thành phố tính đến ngày 20/12/1999 đã xảy ra 224 vụ ngộ độc thực phẩm
13
với 5489 ngời mắc, trong đó có 59 trờng hợp tử vong.
Ngoài những tác hại do thực phẩm không an toàn còn có những nguy hại
tiềm ẩn khác: D lợng thuốc trừ sâu, phân hoá học trong rau quả, d lợng thuốc
tăng trọng trong thịt Các vấn đề mang tính chất xã hội nh buôn lậu thuốc bảo
vệ thực vật, đang là vấn đề bức xúc.
Tệ sản xuất buôn bán hàng giả cũng là một nguyên nhân đáng lo ngại.
Nguồn thực phẩm nhập khẩu chúng ta mới chỉ kiểm soát đợc số hàng nhập qua
đờng chính ngạch. Đối với nguồn thực phẩm trong nớc vấn đề đáng quan tâm là
đăng ký và kiểm tra chất lợng.
Việt Nam đang thiếu một hệ thống quản lý và một cơ chế hoạt động phù
hợp với yêu cầu thực tiễn. Bên cạnh đó hệ thống luật pháp về quản lý thực phẩm
của chúng ta rõ ràng là cha hoàn thiện, còn nhiều khoản cần đợc hoàn chỉnh để
phù hợp với điều kiện kinh tế đa thành phần và quá trình hội nhập quốc tế của
Việt Nam. Sự phối kết hợp quản lý giữa các ngành liên quan để đảm bảo an
toàn thực phẩm cha đợc chặt chẽ. Nhiều vụ việc chúng ta còn tỏ ra lúng túng
cha tìm ra đợc hớng giải quyết phù hợp.
Trên đây là một số ví dụ chung và tình hình quản lý chất lợng vệ sinh an
toàn thực phẩm ở nớc ta. Qua đó mới thấy rằng cần phải có một công tác quản
lý mới của nhà nớc một cách toàn diện và chặt chẽ.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét