Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Hoàn thiện công tác hạch toán chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại CTCPCKLM Sông Đà

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu Ánh
Khác đối với sản xuất đơn thuần, người ta có thể tính toán giá thành cho một
loại sản phẩm sản xuất ra trong kì và giá thành đơn vị cho một sản phẩm. Nhưng
trong doanh nghiệp xây lắp, sản phẩm xây lắp lại có tính đơn chiếc, quá trình thi công
và thời gian sử dụng lâu dài, kết cấu phức tạp nên giá bán của từng sản phẩm mang
tính cá thể mỗi công trình, hạng mục công trình… sau khi đã hoàn thành đều có một
giá riêng. Để xây dựng một công trình hoặc hoàn thành một lao vụ thì doanh nghiệp
xây dựng phải đầu tư vào quá trình sản xuất thi công một lượng hao phí nhất định.
Những chi phí sản xuất mà doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình thi công sẽ tham gia
cấu thành nên giá thành sản phẩm xây lắp đó. Như vậy:
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí sản xuất (bao gồm CPNVLTT,
CPNCTT, CPSXC, CP sử dụng máy thi công) tính cho từng công trình, hạng mục
công trình hoặc khối lượng xây lắp hoàn thành, nghiệm thu, bàn giao và được chấp
nhận thanh toán.
Từ những đặc điểm cơ bản của ngành xây lắp: Thời gian thi công dài, mang tính
đơn chiếc, kết cấu phức tạp, qui mô lớn… nên mỗi đơn thiết kế, mỗi công trình, hạng
mục công trình có một dự toán tương ứng với mức độ chính xác cụ thể khác nhau,
phù hợp với nội dung của mỗi giai đoạn thiết kế căn cứ vào giá trị dự toán của từng
công trình, hạng mục công trình.
Trên góc độ của các nhà quản trị doanh nghiệp, giá thành sản phẩm xây lắp
không chỉ phản ánh đơn thuần những thông tin đó mà nó còn cho ta thấy được nguyên
nhân của sự phát sinh chi phí. Xem xem sự phát sinh đó có hợp lí không, có vượt qua
những gì đã được dự tính từ trước hay không? Từ những phát sinh chi phí được tập
hợp lại trong giá thành sản xuất, nhà quản trị doanh nghiệp thấy được những chi phí
đó phát sinh vào những mục đích gì, trong kì doanh nghiệp có thực hiện tiết kiệm chi
phí hay không?
1.1.2 Yêu cầu quản lí chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
xây lắp.
Các công trình thường có qui mô lớn, kết cấu vô cùng phức tạp, thời gian thi
công kéo dài… bên cạnh đó còn chịu ảnh hưởng không nhỏ của điều kiện khí hậu.
Với khối lượng khổng lồ công việc ấy yêu cầu phải có sự quản lí chặt chẽ. Hơn nữa,
5
Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu Ánh
không phải một doanh nghiệp trong một kì chỉ tiến hành xây lắp một công trình duy
nhất. Không có sự phân loại và theo dõi, ta không thể biết được chi phí đó là chi phí
phát sinh từ nơi nào, cho nó vào đâu để tính giá thành sản phẩm. Bên cạnh đó, chỉ
trong một công trình,hạng mục công trình xây lắp lại phát sinh rất nhiều loại chi phí,
không theo dõi và phân loại chúng thì không thể kiểm tra và chia ra theo các đối
tượng phát sinh chi phí để quản lí chúng được.
Biết được rõ chi phí đó phát sinh từ đâu để tập hợp vào giá thành sản phẩm sao
cho chính xác và kịp thời là rất quan trọng. Nhưng cần phải biết được những chi phí
đó phát sinh so với kì trước có hợp lí không? Không thể để chi phí kì này bỏ ra lớn
hơn mà kết quả đạt được lại ít hơn kì trước. Có tìm được cách nào để tiết kiệm chi phí
mà kết quả đạt được vẫn là tối đa hay không? Từ đây cần có sự quản lí và đưa ra
quyết định từ các nhà quản trị doanh nghiệp.
Nói tóm lại, trên góc độ kế toán tài chính cần theo dõi và quản lí sát sao quá
trình phát sinh chi phí. Phản ánh nó chính xác theo các đối tượng phát sinh cụ thể. Và
từ đây không thể không nói tới nhiệm vụ quan trọng của kế toán quản trị. Mục đích
của công việc quản lí chi phí không phải chỉ chăm chăm tìm cách giảm thiểu chi phí
để từ đây giảm thiểu được giá thành sản phẩm, có rất nhiều các phương án hạ thấp chi
phí nhưng không phải phương án nào cũng đưa đến kết quả tốt nhất. Anh hạ thấp chi
phí nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng công trình, bàn giao đúng thời hạn, đảm bảo
chất lượng và kĩ thuật, hơn nữa lợi nhuận đạt được là cao nhất. Đó mới chính là điểm
mấu chốt của quản trị.
1.1.3 Vai trò, nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây
lắp.
1.1.3.1 Sự cần thiết của kế toán công trình và giá thành sản phẩm xây lắp:
Các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xây lắp nói riêng luôn coi hạch
toán kế toán là khung xương sống của mình. Kế toán là công cụ đắc lực và đa chức
năng của bộ máy quản lí các doanh nghiệp. Kế toán rất linh hoạt, theo dõi, ghi chép,
phản ánh trung thực, kiểm tra đánh giá… tổng hợp thông tin và phản ánh lại cho bộ
máy quản lí doanh nghiệp.
6
Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu Ánh
Hạch toán kế toán thúc đẩy tiết kiệm thời gian lao động, đồng thời đảm bảo tích
lũy, tạo điều kiện mở rộng không ngừng sản xuất trên cơ sở áp dụng khoa học kĩ thuật
tiên tiến thỏa mãn nhu cầu ngày càng lớn của xã hội. Môi trường kinh tế đòi hỏi mỗi
doanh nghiệp phải nghiêm khắc chấp nhận các kế hoạch sản xuất, sản phẩm vì mặt
hiện vật cũng như mặt giá trị, chấp hành nghiêm chỉnh theo những qui định của nhà
nước đề ra.
Xuất phát từ những đặc điểm của ngành xây lắp, công tác hạch toán kế toán
trong doanh nghiệp xây lắp là phần tất yếu để doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Công
việc hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp là vấn đề trung tâm của
công tác kế toán trong xây lắp. Kế toán chi phí sản xuất giúp cho đơn vị theo dõi được
tình hình thực hiện các định mức về chi phí vật tư, nhân công, máy thi công… là bao
nhiêu so với dự toán trong xây dựng cơ bản. Dự toán được lập theo công trình, hạng
mục công trình…và lập theo từng khoản mục chi phí. Đây là căn cứ để so sánh, kiểm
tra, phân tích chi phí so với khối lượng thực tế phát sinh với dự toán. Từ đây xác định
được mức tiết kiệm hay lãng phí chi phí sản xuất để đưa ra biện pháp thích hợp. Công
tác tính giá thành sản phẩm xây lắp thể hiện được chất lượng hoạt động của sản xuất
kinh doanh và quản lí kế toán tài chính của đơn vị.
1.1.3.2 Nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp:
Đặc điểm của ngành xây lắp ảnh hưởng việc tổ chức công tác kế toán chi phí,
xác định kết quả trong các doanh nghiệp xây lắp. Vì thế, đòi hỏi công tác kế toán tài
chính cấn chú ý lưu tâm tới các đặc điểm này để hiểu rõ yêu cầu và nhiệm vụ của
công tác tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp.
- Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là các công trình, hạng mục công
trình xây lắp, các qui ước của hạng mục công trình có giá trị dự toán riêng hay nhóm
công trình, các đơn vị thi công.
- Đối tượng tính giá thành sản phẩm có thể là công trình, hạng mục công
trình xây lắp, các giai đoạn qui ước của hạng mục công trình có giá trị dự toán riêng
hoàn thành.
Do đặc điểm của ngành xây dựng là thời gian thi công dài, qui mô lớn nên
thường hay sảy ra hiện tượng thất thoát, lãng phí. Bộ máy kế toán trong doanh nghiệp
7
Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu Ánh
cùng với các chính sách nhà nước cần phối hợp chặt chẽ để có các biện pháp tổ chức,
quản lí sản xuất, quản lí chi phí sản xuất chặt chẽ, hợp lí và có hiệu quả.
Không chỉ có như vậy, doanh nghiệp xây lắp ngoài đảm bảo thi công đúng tiến
độ, đúng thiết kế kĩ thuật, đảm bảo chất lượng các công trình mà phải quản lí và hạch
toán sao cho tiết kiệm được chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, mà vẫn đảm bảo
các tiêu chuẩn trên và doanh nghiệp hoạt động có lãi. Từ đây, nhiệm vụ chủ yếu đặt ra
cho công tác quản lí chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp và xác định chính
xác đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành sản phẩm phù hợp
với điều kiện thực tế hạch toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm một cách khoa
học và hợp lí, đảm bảo cung cấp một cách kịp thời, chính xác, đầy đủ các số liệu cần
thiết cho công tác quản lí:
- Đảm bảo đầy đủ, chính xác kịp thời toàn bộ chi phí phát sinh: Tùy theo
điều kiện cụ thể, có thể vận dụng phương pháp chi phí trực tiếp hoặc phương pháp
gián tiếp. Áp dụng phương pháp tính giá thành sản phẩm theo đơn đặt hàng, phương
pháp trực tiếp, hệ số tỉ lệ hoặc phương pháp tính giá thành sản phẩm theo định mức.
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các định mức chi phí, vật tư, nhân công,
sử dụng máy thi công và các dự toán, các khoản chi phí khác, khoản thiệt hại, mất
mát, hư hỏng… trong sản xuất để có các biện pháp khắc phục.
- Tính toán chính xác kịp thời giá trị công tác xây lắp, các sản phẩm và các
lao vụ hoàn thành của doanh nghiệp.
- Kiểm tra việc thực hiện hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp theo từng
công trình, hạng mục công trình, từng loại sản phẩm, lao vụ…tìm ra các biện pháp để
hạ chi phí và giá thành một cách hợp lí và có hiệu quả.
- Thực hiện bàn giao, thanh toán kịp thời khối lượng công tác xây lắp hoàn
thành. Đầu kì kiểm tra và đánh giá khối lượng thi công dở dang theo nguyên tắc qui
định.
- Theo dõi, đánh giá đúng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công
trình, hạng mục công trình, từng bộ phận thi công, đội, tổ… trong kì nhất định, kịp
thời báo cáo kế toán về chi phí sản xuất giá thành sản phẩm phục vụ cho công tác
quản lí của lãnh đạo doanh nghiệp. Từ đây kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giá thành
hoặc chưa hoàn thành những khả năng hạ giá thành sản phẩm thực tế.
8
Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu Ánh
1.2 Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
xây lắp.
1.2.1 Phân loại chi phí sản xuất:
Chi phí sản xuất của công ty là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí về lao động
sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp chi ra trong quá
trình hoạt động sản xuất, kinh doanh biểu hiện bằng thước đo tiền tệ. Được tính cho
một kì nhất định.
Khi nền kinh tế thị trường bao gồm nhiều thành phần kinh tế như nước ta đang
trên đà phát triển nên yêu cầu phân loại chi phí để theo dõi, hạch toán và quản lí nó dễ
dàng hơn là vô cùng cần thiết. Có rất nhiều cách phân loại chi phí sản xuất, sau đây là
một vài cách phân loại chi phí sản xuất điển hình:
-Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo khoản mục giá thành công tác xây
dựng:Giúp doanh nghiệp theo dõi từng khoản mục chi phí phát sinh. Từ đây đối chiếu
với giá trị dự toán của công trình để có thể nhận biết được từng khoản mục chi phí ở
đâu, tăng hay giảm so với dự toán để doanh nghiệp tìm ra biện pháp để tiết kiệm chi
phí.
Chi phí sản xuất
CPNVLTT
CPNCTT
CPSXC
CP sử dụng máy thi công
- Phân loại theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí: Phục vụ cho yêu cầu
thông tin và quản trị doanh nghiệp để phân tích tình hình thực hiện dư toán chi phí sản
xuất cho kì sau.
Chi phí sản xuất
CP khác
CPNVL
CPKHTSCĐ
CPNC
CP dịch vụ mua ngoài

9
Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu Ánh
- Phân loại theo mối quan hệ giữa chi phí với mức độ hoạt động: Giúp nhà
quản trị phân tích điểm hòa vốn và phục vụ cho việc ra quyết định quản lí cần thiết để
hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Chi phí sản xuất KD
Chi phí bất biến
Chi phí khả biến
Chi phí hỗn hợp

- Phân loại theo khả năng qui nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí:
Chi phí sản xuất
Chi phí trực tiếp
Chi phí gián tiếp
1.2.2 Phân loại giá thành sản phẩm:
- Giá thành dự toán: Là tổng chi phí dự toán để hoàn thành sản phẩm xây lắp.
Giá thành dự toán được lập trên cơ sơ các định mức và đánh giá chi phí do Nhà nước
qui định.
Giá thành dự toán công trình.
=
-
-
Thuế GTGT đầu ra
- Giá thành kế hoạch: Giá thành kế hoạch là giá thành sản xuất sản phẩm được
tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và sản lượng kế hoạch. Giá thành kế hoạch
được tính trước khi tiến hành sản xuất. Giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của
doanh nghiệp trong việc thực hiện hợp lí chi phí sản xuất để hạ giá thành sản phẩm và
là căn cứ để phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh
nghiệp.Giá thành kế hoạch được xây dựng theo công thức
(Tính cho từng công trình, hạng mục công trình)
10
Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A
Thu nhập
chịu thuế tính
trước
Giá trị dự
toán công
trình
Giá thành dự
toán công tác
xây lắp
Mức hạ giá thành
kế hoạch
Giá thành kế
hoạch công tác
xây lắp
-
=
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu Ánh
- Giá thành thực tế sản phẩm xây lắp:
Giá thành thực tế là giá thành sản xuất sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu chi
phí thực tế đã phát sinh do kế toán tập hợp và sản lượng sản phẩm được sản xuất thực
tế trong kì. Giá thành thực tế không chỉ bao gồm những chi phí trong định mức mà
còn có thể bao gồm những chi phí thực tế phát sinh: mất mát, hao hụt vật tư… do
những nguyên nhân chủ quan của bản thân doanh nghiệp (phá đi làm lại).
Giá thành thực tế được tính sau quá trình sản xuất, có sản phẩm hoàn thành ứng
với kì tính giá thành mà doanh nghiệp đã xây dựng. Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp
phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc sử dụng các giải pháp tổ chức
kinh tế, kĩ thuật để thực hiện quá trình xây lắp sản phẩm. Đây cũng là căn cứ để xác
định kết quả hoạt động xây lắp của doanh nghiệp.
Muốn đánh giá chính xác chất lượng hoạt động sản xuất thi công của doanh
nghiệp xây lắp đòi hỏi ta phải so sánh các loại giá thành với nhau nhưng đảm bảo tính
thống nhất về thời điểm và căn cứ tính toán trong quá trình so sánh. Và sự so sánh này
cần được thực hiện trên cùng một đối tượng xây lắp. Có thể biểu thị như sau:
Giá thành dự toán ≥ Giá thành kế hoạch ≥ Giá thành thực tế
( Cho từng đơn vị công trình, hạng mục công trình)
Ngoài cách phân loại trên, doanh nghiệp xây lắp còn theo dõi theo hai chỉ tiêu:
- Giá thành khối lượng hoàn thành: Là loại giá thành mà trong đó bao gồm toàn
bộ định phí, biến phí thuộc CPNVLTT, CPNCTT, CPSXC, máy… cho công trình,
hạng mục công trình đã hoàn thành. Đảm bảo đúng chất lượng, đúng kĩ thuật thiết kế,
đúng hợp đồng bàn giao và được chủ đầu tư nghiệm thu và chấp nhận thanh toán.
Thông tin về giá thành khối lượng hoàn thành đóng vai trò chủ yếu trong các
quyết định mang tính chiến lược dài hạn của doanh nghiệp. Do đó, đây là chỉ tiêu giá
thành có ý nghĩa quan trọng trong kế toán quản trị.
- Giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành qui ước: Là khối lượng xây lắp hoàn
thành đến một giai đoạn nhất định và thỏa mãn các điều kiện sau:
+ Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo chất lượng kĩ thuật.
+ Khối lượng này phải được xác định một cách cụ thể và được bên chủ đầu tư
nghiệm thu và chấp nhận thanh toán.
+ Phải đạt đến điểm dừng kĩ thuật hợp lí.
11
Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu Ánh
Giá thành khối lượng xây lắp hoàn thành qui ước phản ánh chi phí sản xuất cho
đối tượng xây lắp, thi công xây lắp giúp cho doanh nghiệp phân tích kịp thời các chi
phí đã chi ra cho từng đối tượng để có biện pháp quản lí thích hợp.
1.3 Tổ chức kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp
1.3.1 Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất:
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn để chi phí sản xuất được
tập hợp theo đó. Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là xác định nơi phát
sinh chi phí (phân xưởng, bộ phận sản xuất, giai đoạn công nghệ…) hoặc đối tượng
chịu chi phí (sản phẩm, đơn đặt hàng…)
Khi xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, trước hết các nhà quản trị cần
căn cứ vào các yếu tố:
- Tính chất sản xuất, loại hình sản xuất và đặc điểm quy trình công nghệ, sản
xuất sản phẩm, đặc điểm tổ chức sản xuất.
- Nếu là loại hình sản xuất đơn chiếc thì đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có
thể là từng công trình, từng hạng mục công trình.
- Nếu là loại hình sản xuất hàng loạt thì đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có
thể là từng loại, hạng, hoặc từng đơn đặt hàng.
- Căn cứ vào yêu cầu tính giá thành, yêu cầu quản lí, khả năng trình độ quản lí
của doanh nghiệp, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất càng được xác định cụ thể và
chi tiết khi trình độ quản lí của doanh nghiệp càng cao.
Đối với doanh nghiệp xây lắp, do những đặc điểm về sản phẩm xây lắp, chức
năng sản xuất và quá trình sản xuất nên đối tượng tập hợp về chi phí sản xuất thường
được xác định là từng công trình, hạng mục công trình hoặc theo từng đơn đặt hàng.
- Phương pháp tập hợp trực tiếp: áp dụng trong trường hợp chi phí sản xuất phát
sinh có liên quan đến từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất riêng biệt. Do
đó, ngay từ khâu hạch toán ban đầu, chi phí sản xuất phát sinh được phản ánh riêng
cho từng đối tượng tập hợp chi phí sản xuất. Dựa trên chứng từ ban đầu để căn cứ vào
chứng từ, hạch toán trực tiếp chi phí sản xuất cho từng đối tượng riêng biệt. Theo
phương pháp này, chi phí sản xuất phát sinh được tính trực tiếp cho từng đối tượng
12
Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu Ánh
chịu chi phí nên đảm bảo mức độ chính xác cao. Vì thế cần sử dụng tối đa phương
pháp tập hợp trực tiếp trong điều kiện có thể cho phép.
- Phương pháp tập hợp gián tiếp thì ít được áp dụng trong ngành xây lắp. Trước
tiên ta cần căn cứ vào các chi phí phát sinh, kế toán tiến hành ập hợp chung các chi
phí có liên quan đến nhiều đối tượng theo địa điểm phát sinh hoặc nội dung chi phí.
Để xác định chi phí cho từng đối tượng cụ thể phải lựa chọn các tiêu chuẩn hợp lí và
tiến hành phân bổ các chi phí đó cho từng đối tượng liên quan.
Cơ sở tiêu chuẩn phân bổ và số chi phí cần phân bổ ta có công thức:
H= C / T
Trong đó: H- hệ số phân bổ chi phí.
C- tổng chí phí cần phân bổ cho các đối tượng.
T- tổng đại lượng tiêu chuẩn phân bổ của các đối tượng cần phân bổ
chi phí.
Với: Ci =H x Ti
Ci - phần chi phí phân bổ cho các đối tượng i
Ti - đại lượng tiêu chuẩn phân bổ dùng để phân bổ chi phí của đối tượng i
1.3.2 Tổ chức chứng từ và hạch toán ban đầu:
Chứng từ gốc liên quan đến các chi phí phát sinh là những chứng từ thuộc các yếu
tố như: vật tư (phiếu xuất kho, phiếu nhập kho ), tiền lương (bảng tính lương phải trả),
khấu hao tài sản cố định (bảng tính hao mòn tài sản cố định), tiền mặt (phiếu thu, phiếu
chi) tiền gửi ngân hàng (giấy báo nợ, giấy báo có)…
Loại chứng từ Chứng từ bắt buộc Chứng từ hướng dẫn
Liên quan đến tiền mặt Phiếu thu, phiếu chi
Liên quan đến TGNH Giấy báo có, giấy báo nợ,
bảng sao kê
Liên quan đến hàng tồn
kho
Phiếu xuất kho, phiếu nhập
kho
Liên quan đến TSCĐ Phân bổ khấu hao
13
Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Nguyễn Hữu Ánh
Trong doanh nghiệp xây lắp, đối tượng tập hợp chi phí là từng công trình, hạng
mục công trình hoặc theo từng đơn đặt hàng. Kế toán trưởng tổ chức việc lập chứng từ kế
toán cho từng đối tượng tập hợp chi phí (những chi phí trực tiếp) và những chi phí chung
thì lập chứng từ kế toán theo khoản mục chi phí chung. Kế toán viên khi nhận được các
chứng từ có liên quan đến các nghiệp vụ phát sinh, tiến hành định khoản và tiến hành
phản ánh nghiệp vụ phát sinh đó theo đúng đối tượng và đúng các khoản mục chi phí đó.
1.3.3 Tổ chức tài khoản kế toán:
- Chi phí NVLTT:
Để hạch toán khoản mục chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng
TK621-chi phí nguyên vật liệu tực tiếp.
TK 621 được sử dụng để tập hợp toàn bộ chi phí NVLTT dùng cho sản xuất, chế
tạo sản phẩm phát sinh trong kì. Cuối kì kết chuyển sang tài khoản tập hợp chi phí và
tính giá thành.
TK 621 có thể mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình hay từng
đơn đặt hàng để phục vụ cho việc tính giá thành từng công trình, hạng mục công trình
hay từng đơn đặt hàng. Ngoài ra kế toán còn sử dụng các tài khoản liên quan như:
TK111, TK 112, TK152, TK 153, TK 154…
- Chi phí NCTT:
Kế toán sử dụng TK 622 –chi phí nhân công trực tiếp- để tổng hợp và kết
chuyển chi phí nhân công trực tiếp sản xuất vào tài khoản tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành (bao gồm cả tiền lương, thưởng, phụ cấp, các khoản phải trả khác của
công nhân sản xuất)
TK 622 còn được ở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình hay từng
đơn đặt hàng. Ngoài ra kế toán còn sử dụng các tài khoản: TK 334, TK 338, TK 111…
- Chi phí sử dụng máy thi công:
Kế toán sử dụng TK 623- chi phí sử dụng máy thi công để tập hợp và phân bổ
chi phí sử dụng máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động xây lắp công trình. Cuối
kì kết chuyển sang tài khoản tập hợp chi phí và tính giá thành.
TK 623 có sáu tài khoản cấp hai:
14
Thiều Kim Cường Kế toán tổng hợp 46A

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét