TỔNG CỤC THUẾ
CÔNG TY HÀ THẮNG
Báo cáo tổng kết Đề tài "Thử nghiệm kê khai thuế giá trị gia tăng qua mạng Internet"
Hà Nội, 3/2004
5/5
2) Xây dựng giải pháp kỹ thuật và thử nghiệm việc gửi các tờ khai thuế giá trị gia tăng,
bảng kê hoá đơn chứng từ hàng tháng của doanh nghiệp cho cơ quan quản lý thuế qua
mạng Internet.
3) Đề xuất các kiến nghị cần thiết cho việc hoàn thiện giải pháp kỹ thuật - công nghệ, quy
trình nghiệp vụ để triển khai diện rộng phương thức kê khai qua mạng Internet cho thuế
GTGT và cho các loại sắc thuế khác trong tương lai.
4) Đề xuất các kiến nghị cần thiết cho việc xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý, hạ
tầng công nghệ, hạ tầng cơ sở bảo mật thông tin để tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng
dụng và phát triển TMĐT ở Việt Nam.
Đề tài đã được thực hiện trong thời gian khoảng 20 tháng, từ tháng 5/2002 đến hết tháng
12/2003. Các đơn vị tham gia chính bao gồm:
1) Phòng máy tính (nay là Trung tâm Tin học và Thống kê), Tổng cục thuế.
2) Một số Phòng, Ban chức năng khác của Tổng cục thuế.
3) Công ty Tin học Hà Thắng.
4) Ban cơ yếu chính phủ.
Trong quá trình thực hiện, đề tài đã nhận được sự giúp đỡ và hỗ trợ nhiệt tình cả về vật chất
lẫn tinh thần của nhiều tổ chức và cá nhân. Ban chủ nhiệm Đề tài xin chân thành cảm ơn các tổ
chức và cá nhân sau đã có những đóng góp thiết thực cho sự thành công của Đề tài:
1) Cục Tin học và Thống kê tài chính, Bộ Tài chính và ông Trần Nguyên Vũ, Phó Cục
trưởng.
2) Công ty Intel Việt Nam và ông Trịnh Thanh Lâm, Giám đốc phát triển.
3) Công ty điện toán và truyền số liệu VDC và ông Vũ Hoàng Liên, Giám đốc công ty.
4) Phòng tin học và xử lý thông tin, Cục thuế Hà Nội.
5) Phòng tin học và xử lý thông tin, Cục thuế Hà Tây.
Toàn bộ kết quả nghiên cứu và thử nghiệm của Đề tài được trình bày trong 7 Phần và 1 Phụ
lục kèm theo.
TỔNG CỤC THUẾ
CÔNG TY HÀ THẮNG
Báo cáo tổng kết Đề tài "Thử nghiệm kê khai thuế giá trị gia tăng qua mạng Internet"
Hà Nội, 3/2004
6/6
PHẦN I
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ KÊ KHAI THUẾ QUA MẠNG
I. Tình hình thế giới
1. Kê khai điện tử là gì?
Kê khai điện tử (Electronic filing hay E-filing) là quá trình tạo lập và truyền các văn
bản hoặc thông tin liên quan tới nơi tiếp nhận thông qua các phương tiện điện tử.
Kê khai điện tử là một trong những ứng dụng phổ biến hiện nay của thương mại điện
tử (Electronic Commerce) và chính phủ điện tử (Electronic Government), nhiều lúc được
đánh đồng với một hình thức hoạt động thương mại điện tử lâu đời là trao đổi dữ liệu điện tử
(EDI - Electronic Data Interchange). Trong khi trao đổi dữ liệu điện tử EDI thường được
dùng để trao đổi dữ liệu giữa các tổ chức, doanh nghiệp, nói một cách tổng quát là giữa các
tổ chức với nhau, thì kê khai điện tử được áp dụng trong các giao dịch giữa công dân hoặc
các tổ chức, doanh nghiệp với các cơ quan công quyền, giữa khách hàng với các nhà cung
cấp dịch vụ, giữa các cá nhân với một tổ chức v.v., tức là giữa các cá nhân hoặc tổ chức với
một tổ chức khác. Vì thế có thể nói đối tượng sử dụng của kê khai điện tử còn rộng hơn cả
đối tượng sử dụng của trao đổi dữ liệu điện tử.
Việc kê khai điện tử đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới từ nhiều năm nay và
trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: kê khai thuế, kê khai hải quan, kê khai xuất nhập cảnh,
đăng ký kinh doanh, gửi đơn khiếu tố - khiếu nại tới tòa án v.v.
Công nghệ áp dụng cho kê khai điện tử (E-filing) và trao đổi dữ liệu điện tử EDI có
nhiều điểm giống nhau, ví dụ như XML/EDI, ebXML v.v.
2. Tình hình áp dụng kê khai điện tử tại các nước:
Hoa Kỳ:
Hoa Kỳ là một trong những nước đi đầu trên thế giới trong việc áp dụng hình thức kê
khai điện tử. Việc kê khai điện tử ở Hoa Kỳ đã được áp dụng cho nhiều lĩnh vực,
trong đó có thuế, hải quan, dược phẩm, tòa án, đăng ký phát minh - sáng chế v.v.
Vi
ệc kê khai thuế thu nhập cá nhân qua mạng bắt đầu được áp dụng từ năm 1997.
Đến năm 2004 này sẽ áp dụng cho cả các doanh nghiệp. Ngoài việc kê khai thuế, các
nghiệp vụ khác liên quan đến thuế như cấp mã số thuế, nộp thuế, hoàn thuế cũng
được thực hiện qua mạng.
Năm 1998 Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật bổ sung, sửa chữa Luật thuế thu
nhập, trong đó có đề ra mục tiêu đến năm 2007 có ít nhất 80% đối tượng nộp thuế
thu nhập sẽ kê khai và nộp các khoản thuế Liên bang qua mạng Internet. Năm 2000,
40% trong tổng số 130 triệu tờ khai thuế thu nhập cá nhân được thực hiện qua mạng.
Năm 2003 có 40% đối tượng nộp thuế kê khai thuế qua mạng. Hiện nay ở Hoa Kỳ có
132 triệu đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân và số tiền thuế thu được hàng năm từ
các đố
i tượng này là trên 1000 tỷ USD.
TỔNG CỤC THUẾ
CÔNG TY HÀ THẮNG
Báo cáo tổng kết Đề tài "Thử nghiệm kê khai thuế giá trị gia tăng qua mạng Internet"
Hà Nội, 3/2004
7/7
Cũng trong đạo luật đó đã yêu cầu cơ quan quản lý thuế xây dựng chiến lược 10 năm
để loại bỏ các rào cản đối với việc kê khai thuế qua mạng. Ngày 30/01/2003 Cục
thuế Liên bang đã ban hành các quy định cần thiết cho việc loại bỏ các rào cản về
mặt pháp lý còn lại đối với việc kê khai thuế qua mạng. Các quy định này bắt đầu có
hiệu lực từ ngày 01/01/2003.
Hệ thống đóng thuế liên bang qua mạng (The Electronic Federal Tax Payment
System - EFTPS) được cung cấp miễn phí và hoạt động 24/7. Đến nay đã có trên 4
triệu đối tượng nộp thuế sử dụng hệ thống này.
Người ta đã thống kê được rằng: Kê khai thuế qua mạng giảm các lỗi và sai sót 20
lần so với kê khai bằng tay. Để khuyến khích việc kê khai thuế qua mạng, cơ quan
quản lý thuế thực hiện việc hoàn thuế cho kê khai qua mạng trong vòng 10 ngày thay
vì 4 đến 6 tuần như trong trường hợp kê khai bằng giấy.
Người được lợi nhiều nhất trong việc áp dụng kê khai thuế qua mạng là cơ quan thuế
"Khi kê khai bằng giấy, cơ quan thuế phải có nhân viên nhập liệu làm việc 24 giờ
một ngày để nhập số liệu kê khai thuế. Khi kê khai qua mạng, gần như không cần
đến nhân viên nhập liệu do đó có thể điều chuyển lực lượng nhân sự này sang làm
các công việc khác như thanh tra, kiểm tra thuế v.v."
Ngoài ra người ta cũng tính toán được rằng: Chi phí xử lý một bản khai điện tử là 3
cent, trong khi chi phí cho 1 bản khai bằng giấy là 72.5 cent. Tỷ lệ lỗi của bản khai
điện tử là khoảng 3%, còn của bản khai bằng giấy là 17-20%.
Australia:
Việc áp dụng hình thức nộp tờ khai thuế điện tử được bắt đầu từ 1998 trước cả khi
ban hành Luật giao dịch điện tử (1999). Thời gian đầu các Tư vấn thuế (Tax Agent)
vẫn phải lưu giữ các hồ sơ liên quan đến tờ khai thuế, nhưng từ sau khi có Luật giao
dịch điện tử, Tư vấn thuế gửi tờ khai điện tử đến cơ quan thuế và dữ liệu được lưu
trữ, xử lý tự động bởi hệ thống máy tính của cơ quan thuế.
Việc đăng ký kinh doanh qua mạng được bắt đầu từ năm 2000. Việc cấp mã số đối
tượng nộp thuế (Business Number) trước đây thường mất 28 ngày, nay được cấp
ngay lập tức khi doanh nghiệp thực hiện việc đăng ký qua mạng.
Nhật bản:
Với tư cách là một thành phần của chương trình xây dựng chính phủ điện tử (E-
government), việc xây dựng hệ thống Thuế đ
iện tử (E-Tax System) của Nhật Bản vẫn
đang trong giai đoạn phát triển. Dưới đây là một số mốc thời gian quan trọng của hoạt
động này:
Năm 2000: thí điểm kê khai thuế qua mạng tại một số địa bàn.
Năm 2001: Hoàn tất thiết kế hệ thống.
Năm 2002: Lập chương trình, kiểm tra các đơn vị trong ngành thuế, bổ sung trang
thiết bị cho toàn ngành thuế.
TỔNG CỤC THUẾ
CÔNG TY HÀ THẮNG
Báo cáo tổng kết Đề tài "Thử nghiệm kê khai thuế giá trị gia tăng qua mạng Internet"
Hà Nội, 3/2004
8/8
Năm 2003 : Kiểm tra tổng hợp và kiểm tra sự ăn khớp giữa các bộ phận trong hệ
thống để bắt đầu đưa vào vận hành.
Năm 2004, bắt đầu từ tháng 2, áp dụng phương thức kê khai điện tử cho thuế thu
nhập cá nhân và thuế tiêu thụ tại các cơ quan thuế địa phương để sau tháng 6/2004 sẽ
triển khai rộng ra toàn quốc.
Hệ thống kê khai thuế điện tử của cơ quan Thuế Nhật Bản (National Tax Agency
of Japan) cũng đồng thời cho phép ĐTNT thực hiện việc nộp thuế qua mạng, nộp thuế
điện tử (E-Payment). Có lẽ đây cũng chính là lý do làm cho việc triển khai kê khai thuế
qua mạng ở Nhật Bản mất nhiều thời gian đến như vậy.
Hàn Quốc:
Năm 1999, ra mắt Web Site của cơ quan Thuế Hàn Quốc (Korea National Tax
Service).
Năm 2001, khai trương Trung tâm quốc gia tư vấn tổng hợp về thuế (National Tax
General Consulting Center) nhằm cung cấp các dịch vụ tư vấn, giải đáp thắc mắc
cho ĐTNT trong các vấn đề liên quan đến kê khai và nộp thuế.
Năm 2002, Dich vụ Thuế tại nhà (Home Tax Service) bắt đầu cung cấp cho ĐTNT
các dịch vụ như: kê khai thuế, mua hóa đơn thuế, nộp thuế và xác nhận thuế qua
mạngv.v.
Hồng Công:
Cơ quan Thuế Hồng Công (The Inland Revenue Department - IRD) bắt đầu áp dụng
kê khai thuế điện tử từ tháng 12/2000. Việc áp dụng kê khai thuế điện tử nằm trong
Chương trình cung cấp dịch vụ điện tử của Chính phủ Hồng Công, trong đó hạ tầng
cơ sở CNTT-TT được thiết lập để cơ quan thuế thực hiện các giao dịch với ĐTNT
thông qua Internet một cách an toàn và bảo mật.
Đài Loan:
Năm 1998, Chính phủ Đ
ài Loan thành lập lập lực lượng đặc nhiệm để xây dựng kế
hoạch và xúc tiến việc kê khai và nộp thuế qua mạng.
Năm 2000, Bộ Tài chính thiết lập cơ sở dữ liệu đăng ký kinh doanh toàn quốc trên
mạng Internet.
Năm 2001, Dự án tổng thể về Dịch vụ Thuế điện tử (Electronic Tax Service) được
khởi động để tích hợp nhiều loại dịch vụ thuế trên mạng. Trong số các dịch vụ được
tích hợp có: Kê khai thuế điện tử và nộp thuế điện tử. Ngoài ra hệ thống này còn
cung cấp dịch vụ chứng từ điện tử (Electronic Invoicing) cho các doanh nghiệp.
Trung Quốc:
Việc kê khai thuế điện tử ở Trung Quốc đã được manh nha từ những năm 80 của
thế kỷ 20. Trong khoảng 20 năm đó, hình thức kê khai thuế này đ
ã có sự phát triển rất
nhiều: từ phân tán tiến đến tập trung, từ đơn giản tiến đến phức tạp, từ rời rạc tiến đến
tích hợp. Trung Quốc đã lần lượt áp dụng các hình thức kê khai điện tử sau:
TỔNG CỤC THUẾ
CÔNG TY HÀ THẮNG
Báo cáo tổng kết Đề tài "Thử nghiệm kê khai thuế giá trị gia tăng qua mạng Internet"
Hà Nội, 3/2004
9/9
1) Đối tương nộp thuế (ĐTNT) điền vào tờ khai đặc biệt, sau đó cơ quan thuế sẽ dùng
thiết bị chuyên dụng để quét tờ khai vào máy tính.
2) ĐTNT kê khai qua điện thoại vào máy chủ của cơ quan thuế.
3) ĐTNT nhập tờ khai vào một thiết bị kê khai đặc biệt và truyền trực tiếp đến cơ quan
thuế.
4) ĐTNT ghi tờ khai thuế vào đĩa mềm và chuyển cho cơ quan thuế
5) ĐTNT kê khai trên mạng: a) Sử dụng phần mềm để truy nhập vào máy chủ của cơ
quan thuế để kê khai và chuyển thông tin liên quan vào máy chủ; b) Kê khai qua
mạng Internet.
Ghi chú:
Hình thức 1 đang được áp dụng thử nghiệm tại Cục thuế TP Hồ Chí Minh.
Hình thức 5, kiểu b) được sử dụng trong đề tài này.
Trung Quốc coi việc áp dụng các dịch vụ thuế điện tử (E-tax Service), trong đó
có kê khai thuế điện tử, là một trong các nội dung chủ yếu của công cuộc hiện đại hóa
ngành thuế. Ngày nay, đối với kê khai thuế điện tử, ở Trung Quố
c chủ yếu áp dụng các
hình thức kê khai điện tử dựa trên nền công nghệ Web service. Hệ thống Web Service
của cơ quan thuế Trung Quốc, cho phép đối tượng nộp thuế thực hiện được các công
việc sau:
• Kê khai các loại thuế và phí qua mạng Internet;
• Tra cứu các thông tin liên quan đến quá trình nộp thuế của ĐTNT;
• Tra cứu các văn bản quy phạm pháp luật, các tài liệu hướng dẫn về thuế v.v.
• Gửi đơn khiếu nại, tố cáo tới cơ quan thuế.
Hiện nay, ngành Thuế Trung Quốc đã bắt đầu triển khai "Dự án thuế vàng - Giai
đoạn 3" (Golden Tax Project - Third Stage) với mục tiêu thiết lập Hệ thống thông tin
quản lý thuế (Tax Administration Information System) trong toàn quốc. Hai trong các
nội dung chính của Dự án này là: Kê khai thuế điện tử (Tax filling) và Đăng ký thuế
điện tử (Tax Registration).
Singapore:
Cơ quan thuế thu nhập nội địa (The Inland Revenue Authority of Singapore - IRAS)
áp dụng hình thức kê khai qua điện thoại từ năm 1994 và qua mạng Internet từ năm
1998. Ban đầu chỉ các cá nhân mới được phép kê khai qua mạng, dần dần các doanh
nghiệp cũng được phép kê khai qua mạng, nhưng hồ sơ hoàn thuế vẫn phải thực hiện
theo phương thức truyền thống. Ngày nay bên cạnh việc kê khai thuế qua mạng
Internet, Singapore vẫn duy trì hình thức kê khai thuế qua điện thoại.
Singapore là nước đầu tiên trên thế giới cho phép các đối tượng nộp thuế (ĐTNT) kê
khai trực tiếp qua Internet. Mỹ và Canada vào thời điểm đó chỉ cho phép kê khai
thông qua các cơ sở đại lý (Tax Agent).
TỔNG CỤC THUẾ
CÔNG TY HÀ THẮNG
Báo cáo tổng kết Đề tài "Thử nghiệm kê khai thuế giá trị gia tăng qua mạng Internet"
Hà Nội, 3/2004
10/10
Năm 2003 trên 60% (trên 900.000) ĐTNT thu nhập cá nhân ở Singapore thực hiện
kê khai thuế qua mạng Internet.
Mỗi bản khai điện tử tiết kiệm cho cơ quan thuế 2.7 đôla. Vì vậy, theo tính toán của
cơ quan quản lý thuế Singapore, nếu có 20-30% ĐTNT kê khai qua mạng, thì sau 5
năm sẽ thu hồi vốn đầu tư cho hệ thống kê khai thuế qua mạng.
Để khuyến khích các ĐTNT kê khai qua mạng, Cơ quan thuế tổ chức quay sổ số có
thưởng cho các cá nhân kê khai thuế thu nhập qua mạng với 1 giải cao nhất trị giá
50.000 đô la Sing (khoảng 30.000 USD) và 2000 giải trị giá 50 đô la Sing.
Bắt đầu tử 15/01/2000 việc đăng ký thành lập công ty được thực hiện qua mạng.Thời
gian được rút ngắn từ 2 ngày xuống còn 2 giờ. Ngoài ra phí đăng ký thành lập công
ty cũng chỉ còn 300 đôla Singapore (khoảng 200 USD), giảm 98% so với trước đây.
Đây là kết quả của dự án hợp tác giữa nhà cung cấp dịch vụ Internet với cơ quan
dịch vụ đăng ký thành lập công ty và doanh nghiệp Singapore (RCB). Chi phí cho dự
án này là khoảng chín triệu đôla Singapore.
Malaysia:
Malaysia bắt đầu áp dụng việc kê khai thuế qua mạng từ tháng 4/2002 theo mô hình
tự tính-tự khai-tự nộp. Các tư vấn thuế hoặc ĐTNT có thể tải phần mềm về để chuẩn
bị tờ khai thuế. Các tư vấn thuế và ĐTNT phải sử dụng một loại thẻ đa năng của
Chính phủ (GPMC) để bảo mật việc truyền tờ khai cho cơ quan thuế.
Theo tính toán của cơ quan quản lý thuế Malaysia, việc kê khai thuế qua mạng sẽ
giải phóng được 80% nhân viên để chuyển sang làm công tác thanh tra, kiểm tra
thuế.
Thái Lan:
Cơ quan Thuế Thái Lan (The Thai Revenue Department) bắt đầu triển khai việc
kê khai thuế GTGT qua mạng từ tháng 5/2001. Đến nay, các doanh nghiệp đã có thể kê
khai qua mạng cho 15 loại sắc thuế khác nhau.
Việc kê khai và hoàn thuế cho các ĐTNT thu nhập cá nhân cũng được thực hiện
qua mạng và hiện nay cơ quan Thuế Thái Lan chấp nhận việc nộp thuế điện tử thông qua
một trong các loại phương tiên sau:
• Máy rút tiền tự động (ATM);
• Internet;
• Thanh toán điện tử (E-payment);
• Tele-Banking (Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại cố định);
• Mobile-Bank (Dịch vụ ngân hàng qua điện thoại di động);
• Quầy thu tiền của Bưu điện.
Indonesia:
TỔNG CỤC THUẾ
CÔNG TY HÀ THẮNG
Báo cáo tổng kết Đề tài "Thử nghiệm kê khai thuế giá trị gia tăng qua mạng Internet"
Hà Nội, 3/2004
11/11
Indonesia bắt đầu đưa vào thực hiện dự án thử nghiệm mới về kê khai thuế điện tử từ
giữa năm 2002. Tuy nhiên dự án này có điểm đặc biệt là ĐTNT khi kê khai thuế qua
mạng phải kết nối trực tiếp qua đường điện thoại quay số (dial-up) tới hệ thống máy
tính của ngành thuế. Hệ thống này có 32 đường điện thoại để phục vụ cho công việc
này. Bên cạnh việc thử nghiệm kê khai thuế qua mạng như ở trên, hiện tại Indonesia
còn áp dụng các hình thức kê khai điện tử khác như: đĩa mềm và băng từ.
Bên cạnh kê khai thuế điện tử, Indonesia cũng đã cho thực hiện việc nộp thuế điện tử
thông qua kết nối của Hệ thống máy tính ngành thuế với hệ thống máy tính của các
ngân hàng. Ngoài ra, Tổng cục Thuế Indonesia (Directorate General of Tax - DGT)
cũng đang chuẩn bị cho áp dụng hình thức đăng ký mã số đối tượng nộp thuế qua
mạng Internet.
Philipines:
Bắt đầu áp dụng kê khai thuế qua mạng từ năm 2001.
Nhận xét chung:
Kê khai điện tử nói chung và kê khai thuế điện tử, nói riêng, đã và đang trở thành
một trong các phương thức chủ yếu để các ĐTNT ở nhiều nước trên thế giới thực
hiện nghĩa vụ kê khai và nộp thuế của mình.
Cơ quan Thuế các nước đều coi kê khai điện tử là một trong các nội dung chủ yếu
của việc hiện đại hóa ngành thuế.
Việc triển khai áp dụng hình thức kê khai thuế điện tử có thể nhanh, chậm tùy từng
nước, nhưng luôn được tiến hành một cách bài bản theo quy trình: thiết kế hệ thống,
thử nghiệm công nghệ, triển khai thí điểm và từng bước triển khai diện rộng.
II. Tình hình Việt Nam
Việc kê khai điện tử nói chung và kê khai thuế qua mạng nói riêng là một việc hòan
toàn mới đối với thực tiễn của Việt Nam. Chỉ trong khoảng 2-3 năm gần đây mới xuất hiện
một vài dự án nghiên cứu và thử nghiệm việc kê khai điện tử như:
Dự án Kê khai hải quan điện tử c
ủa Tổng cục Hải quan:
+ Từ 19/2/2002 bắt đầu thử nghiệm kê khai hải quan điện tử cho loại hình gia công
hàng xuất nhập khẩu. Các tỉnh thành tham gia thử nghiệm gồm có: Hải Phòng, TP
Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương.
+ Khi bắt đầu làm thí điểm ngành hải quan đưa ra 3 phương án để chọn. Phương án 1,
theo mô hình Singapore, các khâu nghiệp vụ đều tự động hoàn toàn, doanh nghiệp
không phải xuất trình bất kỳ loại giấ
y tờ nào. Phương án 2, theo mô hình một số
nước tiên tiến trên thế giới, doanh nghiệp sau khi khai báo qua mạng xong được
mang hồ sơ ra cảng để lấy hàng, thông quan lô hàng xong, 3 ngày sau thì doanh
nghiệp nộp lại hồ sơ cho hải quan. Phương án 3, theo mô hình của Trung Quốc,
doanh nghiệp sau khi khai báo hải quan qua mạng phải mang tờ khai đến hải quan để
đối chiếu với dữ liệu trên mạng, nếu khớp thì doanh nghiệp được ra cảng lấy hàng.
Hải quan Việt Nam đ
ã chọn Phương án 3. Thay cho việc mang hồ sơ đến khai báo
tại cơ quan HQ, doanh nghiệp chỉ cần khai báo các số liệu của tờ khai theo mẫu
TỔNG CỤC THUẾ
CÔNG TY HÀ THẮNG
Báo cáo tổng kết Đề tài "Thử nghiệm kê khai thuế giá trị gia tăng qua mạng Internet"
Hà Nội, 3/2004
12/12
trong phần mềm tại doanh nghiệp rồi truyền dữ liệu vào mạng Hải quan. Tiếp theo,
doanh nghiệp phải trình bộ tờ khai bằng giấy tại cơ quan Hải quan để đối chiếu và
tiếp nhận làm thủ tục. Quy trình khai báo hải quan điện tử có khả năng rút ngắn thời
gian làm thủ tục Hải quan còn 15 phút so với thời gian từ 3 đến 4 ngày như trước
đây.
+ Các cơ sở pháp lý cho khai hải quan điện tử gồm có:
- Khoản 3 Điều 20 Luật Hải quan: "Người khai hải quan được sử dụng hình thức
khai điện tử".
- Điểm d) Khoản 4 Điều 7 Nghị định 101/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành
một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải
quan: "Người khai hải quan được khai hải quan trên máy tính của mình được nối
mạng máy tính với cơ quan hải quan theo quy định của pháp luật".
- Công văn số 2236/TCHQ-CNTT ngày 19/5/2003 hướng dẫn chi tiết khai báo
bằng phương tiện điện tử trong khâu đăng ký hồ sơ hải quan, trong đó hướng dẫn
chi tiết các Cục Hải quan thực hiện khai điện tử, lựa chọn phương án thích hợp
và mở rộng khai điện tử cho các loại hình khác.
Dự án Đăng ký kinh doanh qua mạng của Sở Kế hoạch Đầu tư Thành phố Hồ Chí
Minh:
+ Từ ngày 22-12-2000, bắt đầu thực hiện đăng ký và cấp đăng ký kinh doanh (ĐKKD)
qua mạng đối với các DN tư nhân; từ ngày 7-5-2001 bắt đầu thực hiện đăng ký và
cấp ĐKKD qua mạng đối với chi nhánh và văn phòng đại diện; từ ngày 7-5-2002
thực hiện đăng ký và cấp ĐKKD qua mạng đối với Công ty Trách nhiệm hữu hạn; từ
ngày 9-7-2002 thực hiện đăng ký và cấp ĐKKD qua mạng đối với công ty cổ phần;
từ ngày 17-7-2002 thực hiện đăng ký và cấp ĐKKD qua mạng đối với thay đổi nội
dung ĐKKD. Đến cuối năm 2003 đã có trên 6000 doanh nghiệp ở thành phố Hồ Chí
Minh được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh qua mạng.
+ Việc ĐKKD qua mạng đã thực sự giúp cho người dân được thực hiện việc lựa chọn
các hình thức phục vụ (đăng ký qua mạng hoặc trực tiếp tại Sở KH-ĐT). Nhờ đó
người dân có thể ĐKKD mọi lúc mọi nơi, và thời gian ĐKKD được rút ngắn. Qua
khảo sát cho thấy, thời gian rút ngắn giữa ĐKKD qua mạng so với đăng ký trực tiếp
đối với DN tư nhân là 6 ngày (chỉ mất có 4 ngày so với 10 ngày nếu đăng ký trực
tiế
p), đăng ký hoạt động chi nhánh và văn phòng đại diện nhanh hơn 3 ngày; công ty
trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần chỉ còn có 7 ngày (so với 15 ngày nếu đăng
ký trực tiếp); thực hiện đăng ký thay đổi nội dung kinh doanh chỉ có 4 ngày (so với 7
ngày).
+ Quá trình thực hiện ĐKKD qua mạng đã tạo thói quen làm việc hoàn toàn trên máy
tính của các cán bộ, chuyên viên của Sở Kế hoạch- Đầu tư, từ giai đoạn xem xét hồ
sơ, phản hồi cho DN và cấp ĐKKD. Quá trình thực hiện này giúp công tác cấp
ĐKKD được chuẩn hoá và tự động hoá cao, cán bộ xử lý sử dụng toàn bộ thông tin
ĐKKD do DN gởi đến để cấp ĐKKD, thay vì phải tự nhập vào máy từ hồ sơ của
người đăng ký. Điều này đã hạn chế rất nhiều sai sót trong quá trình cập nhật những
thông tin phục vụ ĐKKD, thời gian được rút ngắn. Bản thân lãnh đạo của S
ở cũng
quản lý chặt chẽ quá trình tiếp nhận và thẩm định các hồ sơ của cán bộ và chuyên
TỔNG CỤC THUẾ
CÔNG TY HÀ THẮNG
Báo cáo tổng kết Đề tài "Thử nghiệm kê khai thuế giá trị gia tăng qua mạng Internet"
Hà Nội, 3/2004
13/13
viên. Hàng tuần, qua báo cáo được lập tự động của hệ thống CNTT, lãnh đạo Sở
kiểm tra và đôn đốc cán bộ, chuyên viên thực hiện giải quyết các hồ sơ theo đúng
thủ tục và thời gian quy định, đảm bảo sự bình đẳng đối với mọi đối tượng đến
ĐKKD. Đối với xã hội, tác dụng mà mọi người cảm nhận được là tạo thói quen cho
người dân sử dụng các dịch vụ hành chính qua mạng, với những tiện ích đã nêu trên,
đồng thời thu hẹp khoảng cách giữa cơ quan quản lý nhà nước và người dân, tạo môi
trường quản lý minh bạch thông thoáng để người dân dễ tiếp cận và giám sát. Cùng
với chương trình quản lý những dự án đầu tư, danh sách các DN vi phạm Luật DN,
đối thoại với DN qua mạng v.v., chương trình ĐKKD qua mạng đã giúp người dân
trực tiếp giám sát các hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước.
Dự án "Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng" của Ngân hàng nhà nước Việt
Nam:
+ Một trong 7 Tiểu dự án nằm trong Dự án hiện đại hóa ngân hàng được triển khai với
sự trợ giúp bằng vốn vay của Ngân hàng thế giới.
+ Hệ thống bao gồm: Trung tâm thanh toán quốc gia tại Hà Nội, Trung tâm dự phòng
tại Sơn Tây và 6 Trung tâm thanh toán cấp tỉnh tại Hà Nội (2 điểm), Hải Phòng, Đà
Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Cần thơ.
+ Hệ thống vận hành từ 05/2002, đến nay đã cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử liên
ngân hàng trực tiếp đến hơn 200 chi nhánh của 50 ngân hàng thành viên.
+ Trung bình hệ thống thực hiện 9.000 lệnh thanh toán/ngày với số tiền khoảng 5.000
tỷ đồng. Thời gian xử lý một lệnh thanh toán chưa đến 10 giây.
+ Giải quyết nhu cầu thanh toán nhanh của nền kinh tế, tăng tốc độ vòng quay của
đồng vốn, giúp các ngân hàng tập trung vốn trong thanh toán, giảm lượng vốn trôi
nổi v.v.
Cuối năm 2002, Công ty tin học bưu điện TP Hồ Chí Minh bắt đầu cung cấp dịch vụ
xem cước điện thoại cố định và cước Internet qua mạng. Từ 3/2003 mở rộng dịch vụ này
cho thanh toán cước điện thoại qua mạng và đến cuối 2003, sẽ cung cấp dịch vụ xem và
thanh toán qua mạng cho h
ầu hết các loại cước cơ bản như điện thoại, Internet, điện,
nước, bảo hiểm v.v.
Ngoài những dự án điển hình trên, còn nhiều các dự án khác cũng đang tiếp tục thử
nghiệm việc kê khai điện tử như: Dự án "đăng ký cấp phép sản xuất thuốc thú y qua mạng
Internet" của Cục thú y, Bộ NNPTNT; Dự án "Đăng ký, giới thiệu việc làm qua mạng" củ
a
Trung ương Hội Liên hiệp thanh niên VN v.v.
Nhận xét chung:
So với các nước trên thế giới và đặc biệt so với các nước cùng trong khối ASEAN,
Việt Nam đang tỏ ra lạc hậu trong việc áp dụng các thành tựu của khoa học và công
nghệ để nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước nói chung,
cơ quan Thuế, nói riêng, và trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho các ĐTNT thực
hiện tốt nghĩa vụ kê khai và nộp thuế của mình.
TỔNG CỤC THUẾ
CÔNG TY HÀ THẮNG
Báo cáo tổng kết Đề tài "Thử nghiệm kê khai thuế giá trị gia tăng qua mạng Internet"
Hà Nội, 3/2004
14/14
Các cố gắng của một vài cơ quan, đơn vị cần được khuyến khích và ủng hộ, tuy
nhiên về phía Chính phủ cần có chiến lược cụ thể để sớm hình thành một môi trường
pháp lý, môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi cho việc áp dụng các hình thức kê khai
điện tử trong các hoạt động kinh tế - xã hội của đất nước.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét