Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

TBC (105)

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ BÁO CHÍ TBCN
Báo chí ở các nước TBCN có gì khác so với báo chí ở các nước khác?
Báo chí TBCN hình thành, phát triển như thế nào? Và trong suốt quá trình đó,
có thực sự báo chí TBCN luôn mang trên mình “cây quyền trượng tự do ngôn
luận”? Trong chương này, chúng tôi sẽ giải quyết những vấn đề đó.
1. Đôi nét về CNTB
Nền văn hóa, quan điểm văn minh ảnh hưởng rất lớn tới phong cách,
đường lối của báo chí. Đặc biệt dưới hình thái xã hội tư bản, báo chí có những
nét riêng biệt nhất định. Tìm hiểu về cơ sở xã hội để thấy rõ hơn về bản chất của
báo chí tại đây.
Chủ nghĩa tư bản là một hình thái kinh tế – xã hội phát triển cao của xã
hội loài người, xuất hiện đầu tiên tại châu Âu phôi thai và phát triển từ trong
lòng xã hội phong kiến châu Âu và chính thức được xác lập như một hình thái
xã hội tại Anh và Hà Lan ở thế kỷ thứ 18. Sau cách mạng Pháp cuối thế kỷ 18
hình thái chính trị của nhà nước tư bản chủ nghĩa dần dần chiếm ưu thế hoàn
toàn tại châu Âu và loại bỏ dần hình thái nhà nước của chế độ phong kiến, quý
tộc. Và sau này hình thái chính trị – kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa lan ra
khắp châu Âu và thế giới.
Đặc điểm đặc trưng nhất của chủ nghĩa tư bản là quyền sở hữu tư nhân
đối với phương tiện sản xuất và quyền tự do kinh doanh được xã hội bảo vệ về
mặt luật pháp và được coi như một quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của
con người. Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa không loại trừ hình thức sở hữu
nhà nước và sở hữu toàn dân và đôi khi ở một số nước tại một số thời điểm tỷ
trọng của các hình thức sở hữu này chiếm không nhỏ, nhưng điều cơ bản phân
biệt xã hội của chủ nghĩa tư bản với xã hội đối lập với nó là xã hội cộng sản là
trong xã hội tư bản chủ nghĩa quyền tư hữu đối với phương tiện sản xuất là
thiêng liêng được xã hội và pháp luật bảo vệ, sự chuyển đổi quyền sở hữu phải
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thông qua giao dịch dân sự được pháp luật và xã hội quy định. Còn chủ nghĩa
cộng sản loại trừ quyền tư hữu đối với phương tiện sản xuất.
Trong hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa các cá nhân dùng sở hữu tư nhân
để tự do kinh doanh bằng hình thức các công ty tư nhân để thu lợi nhuận thông
qua cạnh tranh trong các điều kiện của thị trường tự do: mọi sự phân chia của
cải đều thông qua quá trình mua bán của các thành phần tham gia vào quá trình
kinh tế. Các công ty tư nhân tạo thành thành phần kinh tế tư nhân là thành phần
kinh tế chủ yếu của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Có thể nói các yếu tố quyền tư
hữu, thành phần kinh tế tư nhân, kinh doanh tự do, cạnh tranh, động lực lợi
nhuận, tính tự định hướng tự tổ chức, thị trường lao động, định hướng thị
trường, bất bình đẳng trong phân phối của cải là các khái niệm gắn liền với nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa.
2. Các thời kì truyền thông chính trị
Chúng tôi tạm chia truyền thông trong chính trị ra làm 4 thời kì, đánh dấu
những bước phát triển quan trọng sứ mệnh chính trị của truyền thông. Từ đó
thấy rằng, ở nhà nước TBCN, truyền thông không thể tách rời chính trị và không
thể chối bỏ nhiệm vụ là công cụ của chính quyền.

2.1. Thời kỳ ‘0’
Có thể được xem là thời kỳ khai sinh nền truyền thông. Truyền thông vào
lúc này chủ yếu là báo chí, mà báo chí lại đi đôi với chính trị (chính quyền) ngay
từ ban đầu.
Thí dụ, đối với Úc, báo chí là một chi nhánh của chính quyền, điển hình
như tờ Sydney Gazette xuất bản năm 1803, chủ yếu là để đưa thông tin của
chính quyền đến người dân, và mãi cho đến năm 1826, chính quyền Úc gần như
nắm hoàn toàn quyền hành đối với báo chí (Theo Schultz, Julianne, Reviving the
Fourth Estate. Democracy, Accountability and them media, Cambridge
University Press, Cambridge, 1998 - Trang 81). Tuy nhiên, vào năm 1824, một
số tờ báo bắt đầu được xuất bản tại tiểu bang NSW mà không có sự đỡ đầu nào
từ chính quyền, từ đó khai mào cho sự hoạt động độc lập sau này. Tuy nhiên, cả
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
một thế kỷ tiếp theo đó, quan hệ giữa truyền thông và chính trị là một sự chồng
chéo phức tạp giữa kinh tế cũng như quyền lực và ảnh hưởng. Ngay cả đến cuối
thập niên 1930, truyền thông vẫn chủ yếu thiên đảng (tức nghiên về một đảng
nào đó), chứ vẫn chưa đứng khách quan, độc lập Ông Keith Murdoch, bố của
Rupert Murdoch (là một trong những chủ nhân sở hữu nhiều phương tiện truyền
thông đại chúng nhất trong nhiều thập niên qua), lúc đó chỉ sở hữu vài tờ báo
trên nước Úc, nhưng từng tuyên bố về cựu Thủ Tướng Úc, Joseph Lyons (1932-
1939), rằng "Tôi đã đưa ông ấy vào ghế đó và tôi sẽ đưa ông ra khỏi ghế đó"
(ông Murdoch đã thực sự làm được việc đó). Cho nên, nói tóm lại, quan hệ giữa
truyền thông và chính trị là một mối phức tạp, luôn thay đổi nhưng vẫn luôn chặt
chẽ không thể tách rời, dù trên lý thuyết (như hiến pháp) nó phải được tách rời
hẳn hoi.
2.2. Thời kỳ 1
Đó là hai thập niên sau Thế chiến thứ hai, được xem là thời kỳ hoàng kim
của các đảng phái chính trị. Trong thời gian này, hệ thống đảng là nơi chủ chốt
đề xướng các cuộc tranh luận để cải tổ xã hội, và là nơi chủ yếu quyết định
chính sách. Cử tri thì thường có một sự liên hệ (cảm tình viên, ủng hộ viên ),
với các đảng phái vững mạnh và hiện hữu lâu dài. Sự tin tưởng và đồng thuận
của quần chúng đối với các định chế chính trị rất cao, do đó truyền thông chính
trị chủ yếu phụ thuộc vào niềm tin cũng như các định chế chính trị vững mạnh
và ổn định. Vào lúc này, các nhà lãnh đạo chính trị thường nói về những vấn đề
họ quan tâm, đặc biệt là những thay đổi họ muốn thấy từ chính quyền cũng như
các chính sách và nguyên tắc mà phân biệt họ với các phiá đối lập. Nói chung,
vào lúc này, các thông điệp chính trị đúng đắn thường dễ được các phương tiện
truyền thông loan tải, phổ biến.
2.3. Thời kỳ 2
Đó là thời điểm mà truyền hình xuất hiện, với một số đài giới hạn phát
hình toàn quốc, và sau đó trở thành phương tiện truyền thông chính trị chính. Sự
xuất hiện của truyền hình, thể hiện rõ nhất qua cuộc tranh cử tổng thống Hoa Kỳ
năm 1960 giữa John Kennedy và Richard Nixon, đã thay đổi bộ mặt truyền
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thông chính trị. Lúc này, phần lớn các cơ quan truyền thông bắt đầu đứng độc
lập, không nghiêng hẳn về đảng nào, đề cao tính cách công bằng, không thiên vị,
khách quan và trung lập. Các giá trị này dần dần được xem là tiêu chuẩn mẫu
mực để đánh giá sản phẩm truyền thông. Do các yếu tố nêu trên, các đảng chính
trị không còn nhiều ảnh hưởng như trước đối với truyền thông, và ngay cả các
cơ quan truyền thông do các đảng chính trị nuôi dưỡng cũng không thể hoạt
động hiệu quả trong thời kỳ cạnh tranh này, bởi cảm nhận của đa số người dân
là không còn xem nó là khách quan và trung thực nữa. Do đó, các đảng chính trị
phải đưa ra những sáng kiến và chiến thuật mới để thu hút giới truyền thông, để
được truyền thông loan tải tin tức theo chiều hướng có lợi cho mình, và để ảnh
hưởng lên chương trình nghị sự của giới truyền thông, ví dụ như họp báo là hình
thức có thể chủ động để đưa ra các quan điểm đã chuẩn bị sẵn. Cũng vào lúc
này, các chủ đề vận động tranh cử phải được thử nghiệm trước, và các chính trị
gia không được khuyến khích nói ra những gì mình suy nghĩ như trước kia mà
thường phải tham khảo ý kiến của giới chuyên gia để lượng định kết quả (tích
cực hay tiêu cực) trước khi sự việc xảy ra, để rồi đi đến kết luận và lấy quyết
định nên hay không nên nói những gì qua truyền thông.
2.4. Thời kỳ 3 (đã, đang và vẫn còn tiếp diễn)
Giai đoạn này được đánh dấu bởi sự tràn ngập của các phương tiện truyền
thông đại chúng, từ báo chí, truyền thanh, truyền hình, đến truyền thông mới
(Internet). Hai giáo sư của lĩnh vực truyền thông Blumler và Kavanagh cho rằng
có 5 chiều hướng bao gồm các đặc điểm truyền thông chính trị như sau:
1- Sự gia tăng chuyên nghiệp trong cung cách vận động chính trị
2- Sự gia tăng áp lực cạnh tranh
3- Đại chúng hoá và chủ nghĩa quần chúng phản trí thức (hay phản ưu tú,
tức Anti-elitist)
4- Sự đa dạng hoá ly tâm (Centrifugal diversification)
5- Sự tiếp nhận của khán - thính - độc giả về chính trị
Để dễ phân tích và nhận định, xin tóm tắt 5 đặc điểm lại như sau:
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Gia tăng sự cạnh tranh và vận động chính trị: Trong thời đại này, các
nguồn gây ra áp lực trên chính trị và truyền thông là nhiều hơn bội phần so với
hai thời kỳ trước. Trong môi trường mới như thế, để thông tin, thuyết phục hay
đặt để vấn đề gì, chính trị phải có khả năng thu hút các nhà báo, chủ báo và khán
- thính - độc giả. Sự tràn ngập thông tin đã làm cho khán thính độc giả tự nhiên
thấy cần phải chọn cái gì thích hợp với mình nhất, từ đó văn hoá “lựa và chọn”
nảy sinh, cho nên truyền thông không còn mang nặng tính thiên đảng nữa.
Những chương trình chính trị hoàn toàn nghiêm chỉnh không còn được xem là
thu hút đối với đại đa số quần chúng hỗn hợp (thay vào đó là phương cách nửa
thông tin nửa giải trí - infotainment). Giới chính trị (đảng phái và chính trị gia)
đã phải tìm phương cách mới để ảnh hưởng lên truyền thông, và do đó phải lệ
thuộc khá nhiều vào sự giúp đỡ của giới chuyên môn trong lãnh vực truyền
thông để trau dồi, gia tăng khả năng thuyết phục. Kể từ đó, đại đa số các chính
quyền và đảng phái ở Hoa Kỳ, Anh, Úc đều bắt đầu hình thành các bộ phận
truyền thông (tuy trước đây đã có nhưng không mang tầm quan trọng, chuyên
môn và chiến lược như lúc này) để quản lý thông tin và quan hệ quần chúng.
Đại chúng hoá, chủ nghĩa quần chúng và đa dạng hoá theo chiều hướng
phản trí thức: Đầu thập niên 1990 xuất hiện các làn sóng đại chúng hoá và chủ
nghĩa quần chúng mang tính cách phản trí thức trong lĩnh vực chính trị và truyền
thông. Trong các thời kỳ trước, thí dụ như thời kỳ 2, khán thính độc giả nói
chung rất giống nhau, và nội dung các chương trình của truyền thông đại chúng
thật ra không khác nhau nhiều lắm. Phần lớn, truyền thông chính trị là từ trên đi
xuống, và đa số các vấn đề (chính sách, chiến lược v.v ) được hoạch định và
thảo luận trong đảng, nhưng cũng chủ yếu do giới ưu tú/ trí thức cầm đầu.
Những thông điệp chính trị thì nhắm vào đại đa số cử tri. Tuy nhiên, trong thời
kỳ 3, khi có quá nhiều chọn lựa thì số lượng khán thính độc giả cho bất cứ một
chương trình nào đó đều bị giảm đi, và họ có thể chọn nghe hoặc không nghe,
do đó các chương trình tin tức mang tính cách nặng nề và áp đặt rất khó được
chấp nhận như trước. Các chương trình truyền thông về chính trị phải được thực
hiện một cách hấp dẫn và lôi cuốn hơn. Giới chính trị phải nói theo ngôn ngữ
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
bình dân hơn, và phải tỏ ra quan tâm đến phúc lợi của người dân thường, điển
hình qua các chương trình hội luận (talk-shows, hay talk-back radios). Sự xuất
hiện của phương tiện truyền thông mới Internet, và chính trị trên Internet, đã
ngày càng gây nhiều ảnh hưởng và trở thành một phương tiện có thể dùng để
vận động chính trị cho các nhóm có chung quyền lợi, sở thích ở trong hay ngoài
lục địa quốc gia.
Khả năng tiếp thu của dân chúng về chính trị: Khi văn hoá “lựa và chọn”
xuất hiện, và khi thông tin bị tràn ngập và do ảnh hưởng của các quan điểm
chính trị khác nhau tác động, cách thu nhận các luồng thông tin của khán thính
độc giả cũng bị ảnh hưởng sâu rộng. Người dân được tiếp cận với các loại
chương trình chính trị mang tính cách ngoạn mục, gây cảm xúc mạnh, và lắm
khi tiêu cực. Ngoài ra, họ cũng tiếp thu luồng thông tin chỗ này và chỗ kia nên
cũng không biết hư thực ra sao, và không thể đan kết lại với nhau để hệ thống
hoá và không thể tiêu hoá nổi lượng thông tin đó. Cho nên nhiều khi mức độ
hiểu biết/ kiến thức của dân chúng có thể kết luận là phát triển bề rộng nhiều
hơn là bề sâu.
Nói chung, truyền thông chính trị đóng vai trò vô cùng quan trọng, nếu
không muốn nói hàng đầu, đối với mọi hoạt động chính trị và mọi giới chính trị
trong thời đại này. Cho nên, mọi quyết định chính trị hiện nay, không nhiều thì
ít, đều bao gồm yếu tố truyền thông trong đó.
3. Báo chí ở xã hội TBCN qua một số giai đoạn tiêu biểu
Chúng tôi tổng hợp 2 giai đoạn theo cách phân loại của Pierre Albert
trong bộ sách Que sais je?: giai đoạn thế kỉ 17, 18- báo chí có sự tiến bộ và đa
dạng hóa và giai đoạn đầu thế kỉ 19 đến năm 1871- thời kì công nghiệp hóa và
dân chủ hóa báo chí. Qua nền báo chí ở nhiều nước TBCN trong hai giai đoạn
này, chúng tôi làm rõ được phần nào bức tranh mang tên Tự Do của báo chí
TBCN. Từ khi ra đời đến khi bắt đầu có những bước phát triển, báo chí TBCN
chưa từng có khoảng thời gian “tự do” theo đúng nghĩa mà TBCN vẫn rêu rao.
Kiểm soát truyền thông - Những thành tích ngoạn mục của tuyên truyền
(Media control - The spectacular achievements of propaganda) của Noam
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Chomsky là một cuốn sách viết về vấn đề và tư tưởng trong các xã hội dân chủ
đương đại. Rất nhiều người lầm tưởng rằng vấn đề kiểm soát truyền thông và tư
tưởng chỉ có trong các xã hội toàn trị, nhưng thực chất nó tồn tại trong tất cả các
quốc gia hiện nay, kể cả Mỹ và Tây Âu, tuy ở các hình thức khác nhau thô thiển
hay tinh vi, đơn giản hay phức hợp, công khai hay che giấu. Chomsky viết rằng:
"Tuyên truyền của nhà nước, khi được các tầng lớp có học ủng hộ và khi không
có sự trệch hướng được cho phép, có thể có hiệu quả lớn. Đó là bài học được
Hitler và nhiều người khác học thuộc và nó vẫn còn được tiếp tục cho đến tận
hôm nay." Nền dân chủ khán giả và quan hệ công chúng chính là các hình thức
kiểm soát truyền thông và tư tưởng hữu hiệu. Mục đích của quan hệ công chúng
(public relations) chính là "kiểm soát nhận thức của công chúng" (Chomsky sử
dụng từ public mind). Nhiều người lầm tưởng rằng quan hệ công chúng chỉ là
một hình thức quảng cáo hay kinh doanh thuần túy. Nhưng đó chỉ là bề nổi, là
bộ mặt bên ngoải, còn bản chất bên trong chính là kiểm soát tư tưởng thông qua
truyền thông. Khi hệ thống chính trị áp dụng một cách nhuần nhuyễn quan hệ
công chúng đó là lúc tuyên truyền nhà nước thu được các kết quả ngoạn mục.
Chomsky còn có nhận xét thế này: "Lý thuyết dân chủ tự do và chủ nghĩa Marx
- Lenin rất gần nhau trong những giả định tư tưởng chung của chúng."
Chomsky nêu ví dụ rất hay về tuyên truyền qua hình thức quan hệ công chúng.
Đó là trận đình công ngành thép vào năm 1937 ở Tây Pennsyvalnia. Các phương
thức cũ chống đình công không hiệu quả. Và thế là người ta nghĩ ra cách mới
chống đình công: quan hệ công chúng. Mục đích của quan hệ công chúng là làm
sao để tất cả mọi người phản đối những người đình công, và cho mọi người thấy
những người đình công như là những kẻ phá hoại và gây hại đối với những lợi
ích chung và công cộng. Và thế là các giá trị Mỹ (Chomsky dùng từ
Americanism, chúng tôi tạm dịch là các giá trị Mỹ) được đề cao cổ vũ mọi
người trong một tinh thần hòa hợp. Truyền thông được huy động làm việc này.
Ai có thể chống lại giá trị Mỹ? Ai có thể chống lại sự hòa hợp? Không ai cả.
Nhận thức của công chúng được điều chỉnh theo tuyên truyền. Mọi người cứ
tưởng rằng tư tưởng và nhận thức của mình rất được tự do, rất được dân chủ,
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
nhưng thực chất đều đã bị điều chỉnh, đã bị kiểm soát một cách rất tinh vi. Và
kết quả đình công bị dập tắt. Những khẩu hiệu được đưa ra, những khẩu hiệu
không ai cảm thấy không thể đồng ý hay phản đối, nhưng thực ra rỗng tuếch,
không chứa bất cứ một nội dung thực tế nào, làm cho công chúng không còn
nhận ra bản chất thực sự của vấn đề.
Ví dụ gần đây, không phải do Chomsky viết trong sách, là chiến dịch
tuyên truyền Iraq có vũ khí hủy diệt hàng loạt. Cực kỳ hiệu quả, không chỉ trong
nước Mỹ, mà gần như trên toàn thế giới. Điều kỳ lạ là khi không ai có thể tìm ra
vũ khí hủy diệt ở Iraq, công chúng vẫn không cảm thấy mình bị lừa, hay bị
tuyên truyền. Sự kiểm soát truyền thông và tư tưởng có thể nói đạt tới cảnh giới
rất cao, cấp độ mà giới truyền thông ở một số nước còn lâu mới đạt tới. Sự thành
công của tuyên truyền nhà nước không khỏi không có sự ủng hộ của tầng lớp có
học. Nhưng có một điều lạ nữa là những tầng lớp có học ủng hộ tuyên truyền
này không bị (hay tự) dán mác "phò". (Tài liệu dịch).
Trích tiểu sử tác giả: Avram Noam Chomsky, Ph.D (sinh 7 tháng 12, 1928
tại East Oak Lane thuộc vùng ngoại ô của Philadelphia, Pennsylvania) là Giáo
sư về hưu (Emeritus) về ngôn ngữ học tại Massachusetts Institute of
Technology. Chomsky nhận bằng Ph.D về ngôn ngữ học từ Đại học
Pennsylvania vào năm 1955. Ông tiến hành các nghiên cứu cho luận án của
mình trong suốt 4 năm ở Đại học Harvard như là Harvard Junior Fellow. Trong
luận án tiến sỹ, ông bắt đầu phát triển một số ý tưởng về ngôn ngữ của mình,
phát triển thêm trong cuốn sách xuất bản năm 1957 Syntactic Structures (Các
cấu trúc ngữ pháp), có lẽ là công trình được nhiều người biết nhất trong ngành
ngôn ngữ học. Chomsky gia nhập như là giảng viên của Massachusetts Institute
of Technology vào năm 1955 và vào 1961 được phong hàm giáo sư trong Khoa
Ngôn ngữ hiện đại và ngôn ngữ học (nay là Khoa ngôn ngữ học và Triết học).
Từ 1966 đến 1976 ông nắm Ferrari P. Ward Professorship of Modern Languages
and Linguistics. Vào 1976 ông được phong Institute Professor. Chomsky giảng
dạy tại MIT một cách liên tục trong 50 năm qua.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Và 2 giai đoạn phát triển của lịch sử báo chí sau đây sẽ chứng minh nhận
định kiểm soát truyền thông của Noam Chomsky:
3.1. Thế kỉ XVII và XVIII
Đây là thời kì báo chí có sự tiến bộ và đa dạng. Tuy nhiên, để có được
thành quả này, báo chí đã phải vượt qua chế độ kiểm duyệt khắt khe kìm hãm,
bất chấp chế độ đặc quyền và bất chấp mọi sự kiểm duyệt.
3.1.1. Báo chí Anh: đấu tranh giành quyền lực (1621 – 1791)
Từ 1621 đến 1662, thực ra báo chí Anh sống dưới chế độ độc quyền, mà
tình hình chính trị bất an (do nội chiến) làm cho rắc rối thêm. Những tờ báo hợp
pháp có đời sống vất vả và ngắn ngủi. Dưới triều Tudor và đầu triều Stuart, báo
chí được đăng những tin chính thức của triều đình, thậm chí từ 1632 đến 1641
còn bị cấm không đăng các tin tức nước ngoài. Nghị viện thiết lập chế độ kiểm
duyệt chặt chẽ báo chí, do đó năm 1644 mới ra đời cuốn Aeropagitica của
Milton đấu tranh kịch liệt đòi tự do báo chí, tuy nhiên nói về sách nhiều hơn
báo.
Nền quân chủ được khôi phục năm 1660 càng làm chế độ đối với báo chí
thêm khắc nghiệt. Năm 1662, các báo bị cấm không được tường thuật các phiên
họp của Nghị viện, và pháp lệnh licensing act củng cố thêm việc ra báo phải xin
phép trước và bị kiểm duyệt. Chỉ đến 1695, sáu năm sau cuộc Cách mạng 1688,
pháp lệnh này mới hết hiệu lực. Trong vòng một thế kỷ, báo chí Anh được
hưởng tự do tương đối và đóng vai trò quyết định trong cuộc đấu tranh giữa phái
whigs (cấp tiến) và tories (bảo thủ). Tuy nhiên tính độc lập của các báo là có
giới hạn: báo chí luôn luôn bị truy tố ra tòa, và các chính phủ thường dùng tiền
bạc để khống chế báo chí. Từ 1712, Nghị viện hoảng sợ trước thanh thế của báo
chí, ra lệnh đánh tem thuế rất nặng vào từng số báo xuất bản và vào quảng cáo;
tuy nhiên biện pháp ấy không ngăn nổi số bản in của báo chí tăng tới 8 lần từ
1712 đến 1757. Sau hơn một nửa thế kỷ chống đối và cấm đoán, đến năm 1771,
Nghị viện mới cho phép các báo tường thuật các phiên họp. Pháp lệnh libel act
được thông qua năm 1792 quy định cụ thể các trường hợp nhà báo phải chịu truy
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tố trước pháp luật. Nghe có vẻ tự do, thực ra đây là một sự cứng rắn thêm trong
thái độ của chính phủ với báo chí.
3.1.2. Báo chí Đức bị kiểm duyệt đè nặng (1610 – 1792)
Các cuộc chiến tranh trong nửa đầu thế kỷ XVII không tạo thuận lợi cho
việc xuất bản tờ Gazette. Ở một đất nước có rất nhiều xưởng in, các đảng phái
đấu tranh lẫn nhau dùng các tờ bút chiến, tờ bướm khác nhau để tuyên truyền
cho mình, hơn là dùng báo. Hòa bình lập lại năm 1648 tạo điều kiện cho rất
nhiều báo định kỳ ra đời ở khắp các xứ lớn, nhỏ trong Đế chế: năm 1701 có 57
đầu báo, năm 1780 có 138, năm 1788 có 182, năm 1800 có 193. Chúng được đặt
dưới chế độ phép tắc và kiểm duyệt rất nghiêm ngặt - đặc biệt ở nước phổ dưới
thời Frédéric II - và chịu những phán quyết rất độc đoán của chính quyền. Do đó
những báo đó tồn tại không lâu và nội dung không có gì đáng chú ý.
Tuy nhiên, một số tờ báo cũng sống lâu, như tờ Magdeburgische Zeitung
(Báo Magdeburg) (1644) hoặc tờ Berlisichen Zeitung (Báo Berlin), còn gọi là
Vossische Zeitung, theo tên của người xuất bản, ra đời năm 1722, mà Lessing
công tác từ năm 1751 đến 1755, hoặc tờ cạnh tranh với nó là Berliner
Nachrichten (Tin tức Berlin) (còn gọi là Spenersche Zeitung), thành lập năm
1740, tờ Kolnische Zeitung (Báo Koln) ra đời năm 1763; hoặc có một số tờ
được tương đối hoan nghênh như FrankFurter Journal năm 1680 ra tới 1.500
bản. Tờ nhật báo đầu tiên xuất bản năm 1660 tại Leipzing dưới cái tên
Neuienlauffende Nachricht von Kriegs - und Welthandeln (Tin tức nóng sốt về
chiến tranh và thế giới).
Những tờ báo có tính toàn quốc sống rất chật vật do bị kiểm duyệt, phát
hành khó khăn do bị sự chia rẽ về chính trị cản trở. Theo gương tờ Journal des
Savants, năm 1682 tại leipzing ra đời các tờ Act eruditorum bằng tiếng Laitnh;
tập thử nghiệm Monatsgesprsche (Đàm thoại tháng) của Christian Thomasius
năm 1688 có cuộc sống ngắn ngủi, nhưng tờ tạp chí văn học và triết học này sẽ
sản sinh ra nhiều tờ kế tiếp. Ở thế kỷ XVIII, nhiều tạp chí loại này, thường xuất
bản ở Hambourg, lăm le ra mắt nhưng không thu nhiều kết quả. Những
14

Xem chi tiết: TBC (105)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét