Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014
Tài liệu Quản trị tài chính quốc tế - Khủng hoảng nợ pdf
Những cơn sốc về kinh tế
NGUYÊN NHÂN KHỦNG HOẢNG NỢ
1. Cuộc suy thoái sâu sắc của thế giới diễn ra
một phần do đợt tăng giá dầu lửa trong thời
gian 1979 đến 1981làm giảm sút các khoản
thu nhập xuất khẩu của nhiều nước mắc nợ
2. Tăng vọt về lãi suất cho vay trên thế giới
những năm 1979 đến hết năm 1983 khiên
các nước nợ càng khó khăn
DIỄN BIẾN KHỦNG HOẢNG NỢ
Ngày 12 tháng 8 năm 1982, Chính phủ
Mexico ra tuyên bố Mexico mất khả năng
hoàn trả nợ vay 80 tỷ USD cho các ngân
hàng quốc tế
Một số nước kém phát triển cũng ra tuyên bố
rằng họ cũng đang gặp phải những khó khăn
lớn trong việc hoàn trả nợ vay nước ngoài.
1.Mối quan hệ lợi ích giữa các nước :
Nước kém phát triển có thu nhập thấp, nguồn
vốn khan hiếm -> tồn tại nhiều cơ hội đầu tư
trong nước, có tiềm năng thu lợi nhuận cao.
Ngoài ra, do tỷ lệ “vốn/nhân công” thấp làm
cho hiệu quả của tư bản sẽ cao.
DIỄN BIẾN KHỦNG HOẢNG NỢ
Các nước phát triển có thu nhập cao , thị
trường vốn phát triển, trong khi đó tỷ lệ
“vốn/nhân công” lại quá cao làm cho hiệu
quả biên của tư bản thấp, dẫn đến hạn chế
các cơ cấu đầu tư trong nước có khả năng
sinh lời cao.
DIỄN BIẾN KHỦNG HOẢNG NỢ
Thấy được lợi ích từ việc đầu tư cho vay nợ,
các nước phát triển tăng dần khoản nợ cho
các nước kém phát triển vì họ cho rằng có
thể được tận dụng được nguồn nguyên liệu
từ các nước kém phát triển để hỗ trợ tái thiết
và tăng trưởng kinh tế của các nước phát
triển
DIỄN BIẾN KHỦNG HOẢNG NỢ
2. Khởi nguồn của khủng hoảng nợ:
Bắt đầu từ cú sốc giá dầu lần thứ 1 vào
tháng 10 năm 1973. Giá dầu tăng gấp 4 lần,
làm giảm năng lực xuất khẩu của các nước
kém phát triển
Kết quả làm thâm hụt cán cân thanh toán
vãng lai của các nước kém phát triển. Điều
kiện thương mại các nước kém phát triển bị
sói mòn nghiêm trọng
DIỄN BIẾN KHỦNG HOẢNG NỢ
Các nước OPEC đã ưu tiên gửi tiền tại trung
tâm tài chính của các nước phát triển
Khi đã hút được nguồn vốn khổng lồ trong
tay thì các ngân hàng quốc tế tập chung đầu
tư vào khu vực có tiềm năng tăng trưởng
kinh tế là châu Mỹ La Tinh với lãi xuất thả nổi
DIỄN BIẾN KHỦNG HOẢNG NỢ
3. Những dấu hiệu của khủng hoảng nợ:
Năm 1979 các nước OPEC tăng giá dầu lần
thứ 2 khiến các nước công nghiệp hóa đã
phản ứng mạnh mẽ, thông qua các biện
pháp kiên quyết nhằm hạn chế hậu quả gây
áp lực lạm phát do giá nhập khẩu dầu tăng
cho dù tỉ lệ thất nghiệp có tăng nên.
DIỄN BIẾN KHỦNG HOẢNG NỢ
Trong thời gian này, hầu hết các nước phát
triển (Mỹ, Pháp, Italia, Nhật…) cũng áp dụng
chính sách thặt chặt tiền tể để kiểm soát lạm
phát.
Các nước kém phát triển lại ưu tiên vay nợ
để tài trợ cho thâm hụt cán cân vãng lai, kết
quả là nợ nước ngoài tăng nên (nợ 336 tỷ
USD vào năm 1976 nên con số 662 tỷ USD
vào năm 1982).
DIỄN BIẾN KHỦNG HOẢNG NỢ
Một nguyên nhân khác làm cho nợ nước
ngoài của các nước kém phát triển tăng là do
thâm hụt ngân sách Mỹ tăng nên nhanh
chóng làm cho mức lãi xuất LIBOR bằng
USD tăng (tỷ lệ lãi xuất năm 1978 là 9,5%
tăng lên 16,6% vào giữa năm 1981) góp
phần làm suy thoái nền kinh tế thế giới trong
thời kỳ từ năm 1981 đến 1983.
DIỄN BIẾN KHỦNG HOẢNG NỢ
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét