Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Ứng dụng tin học vào luật thuế thu nhập cá nhân


II. Ảnh hưởng của Luật thuế TNCN lên
hệ thống ứng dụng:

Hệ thống ứng dụng Quản lý thuế hiện tại không đáp ứng
yêu cầu quản lý của Luật thuế TNCN, vì các lý do:

Số lượng NNT tăng đột biến, dự kiến khoảng 15 triệu NNT
thuộc diện điều chỉnh của Luật thuế TNCN (so với số lượng
toàn bộ NNT hiện tại của toàn quốc là 3 triệu). Số NNT cần
cấp MST để quản lý là 15 triệu. Số tờ khai tạm nộp phải xử
lý hàng tháng từ 2-3 triệu, số cá nhân thực hiện quyết toán
năm có thể lên đến 10 triệu…

Liên quan đến việc triết trừ gia cảnh và quyết toán thuế
năm: Có nhiều thông tin cần kiểm soát mức toàn quốc,
nhiều thông tin kiểm soát phải kết nối với các ngành ngoài
(Công an, Kế hoạch đầu tư, Chứng khoán, Xuất nhập
cảnh…)

II. Ảnh hưởng của Luật thuế TNCN lên
hệ thống ứng dụng:

Hệ thống quản lý thuế có lịch sử gần 10 năm gặp khó khăn
nếu xử lý một khối lượng NNT và tờ khai quá lớn.

Cơ sở dữ liệu quản lý thuế hiện phân tán tại các cơ quan
thuế các cấp, không đáp ứng được việc kiểm soát thông tin
toàn quốc theo yêu cầu của Luật thuế TNCN
 Vì những lý do trên, cần thiết phải xây dựng một hệ
thống Quản lý thuế TNCN khắc phục được những nhược
điểm của hệ thống cũ và đáp ứng yêu cầu quản lý thuế
TNCN theo yêu cầu của Luật thuế TNCN.

II. Ảnh hưởng của Luật thuế TNCN lên
hệ thống ứng dụng:

Dự án xây dựng mới hệ thống ứng dụng QLT TNCN:
Tổng cục thuế đã lập dự án xây dựng Hệ thống quản lý
thuế Thu nhập cá nhân, trên cơ sở sử dụng (có chỉnh sửa)
giải pháp phần mềm chuẩn có sẵn của Quốc tế, theo mô
hình xử lý tập trung, đã được triển khai áp dụng ở các
nước. Dự án đã được Bộ tài chính phê duyệt, đang trong
giai đoạn thực hiện các công việc chuẩn bị, dự kiến đưa
vào triển khai vào cuối năm 2009.

II. Ảnh hưởng của Luật thuế TNCN lên
hệ thống ứng dụng:

Hệ thống ứng dụng hiện hành vẫn phải “gánh” một phần công việc
giai đoạn đầu thực hiện luật thuế TNCN.

Trong thời gian từ nay đến cuối năm 2009, Hệ thống mới chưa hoạt
động nhưng yêu cầu quản lý thì phát sinh ngay từ đầu năm, thậm chí
trước thời điểm hiệu lực của Luật, vì vậy, Tổng cục vẫn phải nâng cấp
hệ thống ứng dụng hiện tại để nhanh chóng đáp ứng các nhu cầu cấp
thiết.

Nhiệm vụ cụ thể: Nâng cấp hệ thống ứng dụng cả 3 cấp để phục vụ
các chức năng quản lý thuế TNCN như: Đăng ký thuế, Quản lý thuế,
Quản lý nợ, Quản lý hồ sơ thuế, Hỗ trợ kê khai thuế để nhập thông tin
đăng ký thuế, cấp mã số thuế và xử lý thông tin kê khai khấu trừ, tạm
nộp thuế TNCN của các đơn vị khấu trừ thuế và các cá nhận kê khai
tạm nộp thuế với cơ quan Thuế ngay từ đầu năm 2009.

III. Kế hoạch triển khai ứng dụng tin học
đáp ứng thực hiện Luật thuế TNCN.
01/2009
09/2009
Q1/2010
NC Hệ thống hiện hành:
-
Cẫp MST cho các đơn vị chi trả
thu nhập, cá nhân KD, cá nhân nộp
thuế trực tiếp cho CQT.
-
Quản lý kê khai, nộp thuế đối với
các tờ khai khấu trừ và cá nhân tự
kê khai (bao gồm cả cá nhân kinh
doanh)
Duy trì quản lý thuế
những NNT đã cấp mã
và kê khai khấu trừ,
tạm nộp trong GĐ I.
-
Chuyển đổi hệ thống MST
TNCN từ hệ thống
-
Bắt đầu cấp MST cho cá nhân
làm công ăn lương trên hệ
thống mới.
-
Vẫn quản lý thuế trên HT cũ
- Chuyển đổi dữ liệu kê
khai tạm nộp vào HT mới
- Quyết toán thuế TNCN
trên HT mới. - Bắt đầu
quản lý thuế từ năm 2010.

IV. Các công việc cụ thể triển khai GĐ I thực hiện
Luật thuế TNCN trên hệ thống hiện hành.
A. Nâng cấp Ứng dụng Đăng ký thuế (TIN):

Xây dựng bổ sung mẫu tờ khai ĐKT và xử lý cấp MST cho
Mẫu 01/ĐK-TNCN: Tờ khai đăng ký thuế TNCN theo thông tư
84

Nâng cấp danh mục MLNSNN mới theo quyết định 33 của Bộ
Tài chính để phục vụ hạch toán thuế TNCN cũng như các loại
thuế khác theo MLNS mới.

IV. Các công việc cụ thể triển khai GĐ I thực
hiện Luật thuế TNCN trên hệ thống hiện hành.
B. Cấp mã số thuế cho đơn vị chi trả thu nhập theo Luật
Thuế TNCN trên hệ thống hiện hành:

Đơn vị chi trả thu nhập hiện đang là ĐTNT như doanh
nghiệp, các đơn vị tổ chức HCSN, hoặc các Văn phòng đại
diện hiện đang nộp hộ thuế Thu nhập cao, đã có mã số thuế
sẽ tiếp tục sử dụng mã số thuế đã cấp để nộp thuế TNCN.

Các doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức có chi trả thu nhập mới
phát sinh vẫn thực hiện đăng ký thuế để được cấp mã số
thuế bình thường theo quy định tại thông tư 85/2007/TT-BTC
hoặc theo thông tư liên tịch 05/2008/TT-KHĐT-BTC-BCA

IV. Các công việc cụ thể triển khai GĐ I thực
hiện Luật thuế TNCN trên hệ thống hiện hành.
B. Cấp mã số thuế cho đơn vị chi trả thu nhập theo Luật
Thuế TNCN trên hệ thống hiện hành (t ):

Đối với các đơn vị hành chính thuộc diện thụ hưởng Ngân
sách Nhà nước (THNS) như các đơn vị Quản lý Nhà nước
thuộc các Bộ, Sở, Ban, Ngành, các cơ quan chính quyền địa
phương như UBND các cấp tỉnh, huyện, xã, phường v.v
chưa có mã số thuế sẽ phải triển khai cấp mã để thực hiện kê
khai khấu trừ thuế TNCN từ 1/1/2009 cho cá nhân trong cơ
quan. (Sử dụng mẫu 01/ĐKT-TCT của TT85, có loại bớt các
thông tin kê khai như đối với CQ HCSN)

IV. Các công việc cụ thể triển khai GĐ I thực
hiện Luật thuế TNCN trên hệ thống hiện hành.
B. Cấp mã số thuế cho đơn vị chi trả thu nhập theo Luật
Thuế TNCN trên hệ thống hiện hành (t ):
 Tổng cục đang lên phương án hỗ trợ cấp mã cho các
đơn vị này, tận dụng CSDL lưu thông tin các đơn vị thụ
hưởng Ngân sách NN của Bộ Tài chính, dự kiến như sau:
- TC chuyển danh sách các đơn vị THNS về các địa phương,
phân loại theo cấp quản lý từ tỉnh/ huyện/ phường xã.

IV. Các công việc cụ thể triển khai GĐ I thực
hiện Luật thuế TNCN trên hệ thống hiện hành.
B. Cấp mã số thuế cho đơn vị chi trả thu nhập theo Luật
Thuế TNCN trên hệ thống hiện hành (t ):
-
Các địa phương rà soát danh sách, loại trừ các đơn vị đã có
MST, bổ sung các thông tin còn thiếu, sau đó:

Chuyển danh sách lại cho TCT để được hỗ trợ cấp MST hàng
loại theo danh sách.

Vẫn YC các đơn vị nộp tờ khai đăng ký thuế để lưu chứng từ.
-
TCT chuyển danh sách MST đã cấp về cho cục Thuế để in
thông báo MST cho các đơn vị này.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét