Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014
Thực trạng tình hình TTBT tiền và CK trên TTCK Việt Nam
5
Trên cơ sở thực trạng của hệ thống TTBTø và các phương pháp
phòng ngừa RR của Việt Nam có tham khảo mô hình của các quốc gia,
đề tài cố gắng đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn chỉnh hoạt động
phòng ngừa RR trong TT trên TTCK Việt Nam.
4.
ĐỐI TƯNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số hệ thống TTBTø cùng các
giải pháp phòng ngừa RR trong TT của một số quốc gia cũng như của
Việt Nam
Nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Tổng quan về hoạt động TTBTø.
Chương II: Thực trạng tình hình TTBTø tiền và CK trên TTCK Việt
Nam.
Chương III: Một số giải pháp nhằm hạn chế RR trong TT tiền và CK
trong thời gian qua.
Phòng ngừa RR trong TT là một vấn đề lớn và khó mà trong phạm vi
đề tài này khó chuyển tải hết nội dung. Vì vậy tác giả của luận văn rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp của các Quý thầy cô, các
chuyên gia tài chính và các đồng nghiệp nhằm cùng nhau thiết kế một
hệ thống phòng ngừa RR ngày càng an toàn và hiệu quả.
6
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TTBT
I.
HỆ THỐNG TTBT TIỀN VÀ CK TRÊN TTCK (TTCK):
1.
Qúa trình phát triển các hình thức thanh toán GD CK
Hoạt động TTBTø có thể được chia thành hai mảng tách biệt nhau:
hoạt động bù trừ (BT) và hoạt động TT. đa số các quốc gia, hai hoạt
động này tách biệt hẳn với nhau và do hai tổ chức khác nhau đảm
nhiệm. Theo nghóa chung nhất thì hoạt động BT là hoạt động đối chiếu
so khớp các GD giữa các TV với Trung tâm LKù và giữa các TV LKù với
nhau. Trong khi đó, TT là việc thực hiện các bút toán ghi Nơ/ghi Có qua
lại trên các TK của các TV có liên quan vào qúa trình TT tương ứng với
số CK thực nhận hay thực giao của các TV này mà không cần phải
chuyển giao bất kỳ chứng chỉ CK nào.
Cùng với sự hình thành và phát triển của TTCK trên thế giới, hệ
thống LKù, hệ thống TTBTø cũng ngày càng được hoàn chỉnh và phát
triển. Trong thời kỳ đầu, do doanh số GDCK không lớn cũng như số
người tham gia giao dòch (GD) chưa nhiều nên hầu hết các vấn đề liên
quan đến việc chuyển giao CK và TT tiền do các Công ty môi giới tự
đảm nhiệm để phục vụ khách hàng. Vì thế chưa có sự góp mặt của hệ
thống BT. Từ cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, cùng với sự đa dạng
của các chửng loại CK, TTCK chuyển sang giai đoạn phát triển với số
lượng người tham gia GD ngày càng nhiều, khối lượng GD giữa hai bên
phát sinh lớn đã đòi hỏi một hệ thống BT cần phải được hình thành để
đáp ứng. Từ khi ra đời đến nay, hệ thống BT đã ngày càng được nâng
cấp. Bên cạnh đó cùng với sự phát triển của hệ thống lưu ký (LK)ù tập
7
trung chứng chỉ CK, việc TT đã chuyển từ chuyển giao chứng chỉ CK
giữa các bên thành việc chuyển giao bằng các bút toán ghi sổ trên các
tài khoản (TK) của các Thành viên TT được mở tại Trung tâm LKù mà tại
đó các chứng chỉ CK đã được cất giữ tập trung và được thể hiện bằng
các con số trên TK.
2.
Vai trò vò trí của hệ thống TTBT trong toàn bộ qúa trình hoạt động
của TTCK:
Nhìn chung, TTCK là tổng thể các quy trình, các mối quan hệ hết
sức phức tạp (Xem Sơ đồ minh hoạ). Các quy trình, các mối quan hệ
này là những mắt xích rất quan trọng mà thiếu một trong chúng sẽ dẫn
đến sự đình trệ của toàn bộ thò trường hoặc không còn là thò trường. Tuy
nhiên, để đạt được mục tiêu hoạt động hiệu quả và an toàn thì có thể
nói hệ thống TTBTø chiếm vò trí trung tâm trong toàn bộ qúa trình hoạt
động của TTCK.
Xét theo đúng tên gọi thì TTBTø đơn thuần chỉ là các hoạt động mà
Xét theo đúng tên gọi thì TTBT đơn thuần chỉ là các hoạt động mà
Trung tâm LKù CK cung cấp cho các TV. Tuy nhiên trên thực tế, TTBTø
f Thanh toán
Hệ thống Giám
sát
Hệ thống quản
lý thành viên
Hệ thống Niêm yết
Hệ thống Giao dòch
SƠ ĐỒ 1:TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG TRÊN TTCK
Hệ thống ĐK-
TTBT-LK CK
8
là một tiện ích hữu hiệu cung cấp cho các chủ thể tham gia vào TTCK
những giá trò to lớn hơn nhiều:
- Giảm đáng kể các thao tác phải thực hiện cho việc TT GDCK. Thay
vì cứ mỗi một GD, TV phải chuyển đi hay nhận chứng khoán đến thì
thông qua việc BT, số lượng rất nhiều các thao tác đó đã trở thành một
thao tác duy nhất là chuyển đi số lượng thực giao hay nhận số lượng
thực nhận vào cuối ngày GD cho một loại CK;
- Giảm số lượng CK phải chuyển giao. Nếu không có hệ thống BT, TV
sẽ phải chuyển một số lượng CK cho các GD bán và sau đó lại nhận về
một số lượng CK khác cho các GD mua. Điều này vừa gây ra tốn kém
cho TV mà lại làm giảm tính ưu việt của hệ thống LKù CK;
- Hệ thống TT cùng với sự trợ giúp của hệ thống LKù đã giúp cho việc
hoàn tất thủ tục cuối cùng và cũng là thủ tục quan trọng nhất của GD
được diễn ra một cách hoàn hảo - đó là việc TT mà không kèm theo
chứng chỉ CK và tiền mặt.
Giả sử hệ thống TT không có BT và các TV tự TT với nhau mà
không cần phải có một đònh chế nào đứng ra hỗ trợ: nếu một TV không
đủ khả năng TT cho GD của mình, các TV đối tác của anh ta sẽ không
nhận được tiền hay CK, đến lượt các TV đối tác này lại không có tiền
hay CK để TT lại cho các TV khác là đối tác của mình…., người gánh
chòu cuối cùng sẽ là NĐT, ngược lại nếu các TV TT với nhau qua những
con số đã được BT và do một đònh chế trung gian đứng ra đảm nhiệm
thay: nếu một TV thất bại trong việc chuyển tiền hay CK cho tổ chức
trung gian, tổ chức trung gian sẽ không có tiền hay CK chuyển cho một
9
hay nhiều TV khác và đến lượt họ lại không thể TT cho NĐT. NĐT vẫn
chính là người bò thiệt hại.
Những phân tích trên cho thấy rằng dù việc TT có diễn ra cùng với
hệ thống BT hay không thì việc ngưng trệ hoạt động TT cũng sẽ ảnh
hưởng lớn đến toàn bộ hoạt động của thò trường. Đặc biệt là với hoạt
động GDCK được xem là một loại hình kinh doanh cao cấp của cơ chế
kinh tế thò trường thì hệ thống TT lại càng có ý nghóa quan trọng. Nếu
hệ thống TT không được vận hành một cách an toàn và hiệu quả thì sự
sụp đổ của các TV, sự thiệt hại của NĐT, sự mất lòng tin của NĐT vào
TTCK nói riêng và thò trường tài chính nói chung của quốc gia sẽ đến
sự bất ổn trong môi trường kinh tế vó mô… Thiệt hại là khôn lường.
Chính vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều tìm cách xây dựng cho
mình một hệ thống bảo vệ nhằm hạn chế đến mức tối đa những nguy
cơ RR tiềm ẩn trong hệ thống TT cũng như có khả năng bồi hoàn đến
mức cao nhất có thể cho những thiệt hại xảy ra nếu có một sự thất bại
trong TT xảy ra.
3.
Cơ cấu của hệ thống TTBT:
3.1
Lưu ký CK
Nhằm tìm hiểu một cách triệt để hơn về hoạt động TTBTø, trước tiên
chúng ta cần nghiên cứu sơ lược về hoạt động LKù CK vốn đóng một vai
trò hết sức quan trọng trong việc hình thành và thúc đẩy hiệu qủa của
hoạt động TTBTø.
3.1.1
Chức năng:
Hệ thống LKù CK có 3 chức năng chủ yếu sau:
10
3.1.1.1 Chức năng lưu giữ:
− Lưu giữ an toàn chứng chỉ CK:
Lưu giữ an toàn chứng chỉ CK là một chức năng cơ bản của trung
tâm LKù thể hiện qua việc cất giữ CK tại các đòa điểm có đủ các yếu tố
an toàn.
− Tập trung hóa và phi vật chất hóa chứng chỉ CK:
Tập trung hóa chứng chỉ CK là đưa chứng chỉ CK vào lưu giữ duy
nhất tại trung tâm LKù trong khi Phi vật chất hoá chứng chỉ CK là việc
loại bỏ chứng chỉ CK vật chất vốn được sử dụng để làm bằng chứng
quyền sở hữu CK.
− Lưu giữ đa dạng và lưu giữ tổng hợp:
Lưu giữ đa dạng là việc cất giữ nhiều loại CK khác nhau tại trung
tâm LKù trong khi lưu giữ tổng hợp là tất cả các chứng chỉ cùng một đợt
phát hành của một loại CK được cất chung một nơi trong kho của trung
tâm LKù, không cần cất giữ riêng theo từng chủ sở hữu. Đây là một chức
năng mang tính nguyên tắc trong hoạt động của trung tâm LKù.
3.1.1.2
Chức năng trung gian thanh toán:
− Chuyển giao bằng hình thức bút toán ghi sổ:
Chuyển giao bằng hình thức bút toán ghi sổ là quá trình hoàn thành
việc TT thông qua một hệ thống kế toán đã được vi tính hóa tại trung
tâm LKù. Hiệu lực của chuyển giao bằng hình thức bút toán ghi sổ có giá
trò tương đương với chuyển giao bằng hình thức chứng chỉ vật chất.
11
− Giao CK đồng thời với TT tiền (DVP):
Giao CK đồng thời với TT tiền có nghóa là TT tiền phải xảy ra tại thời
điểm giao CK. Nguyên tắc này đòi hỏi CK và tiền của các đối tác tham
gia GD phải ở trong trạng thái sẵn sàng.
3.1.1.3
Các chức năng phụ trợ khác:
− Thực hiện quyền:
Do CK được lưu giữ tập trung tại trung tâm LKù nên sẽ không kinh tế
và khoa học khi chủ sở hữu rút CK ra để thực hiện quyền rồi sau đó LKù
trở lại. Do vậy trung tâm LKù phải chòu trách nhiệm thay mặt chủ sở hữu
để nhận các quyền lợi của CK LKù.
− Chuyển nhượng và đăng ký CK:
Chuyển nhượng là sự thay đổi mang tính pháp lý của quyền sở hữu
CK trên sổ sách của tổ chức phát hành. Trong môi trường LKù, trung
tâm LKù chỉ đơn giản sử dụng tên danh nghóa cho tất cả các chứng chỉ
vật chất LKù là các TVLKù và hệ thống bút toán ghi sổ cho phép chuyển
nhượng được xảy ra mau chóng, loại bỏ sự chuyển dòch chứng chỉ vật
chất và không cần phải đăng ký lại tên.
− Hoạt động cầm cố CK:
Cầm cố CK là một thủ tục cho phép CK được sử dụng để thế chấp
cho các khoản vay có bảo đảm, các hợp đồng tương lai hoặc quyền
chọn và các hình thức tín dụng khác.
− Cho vay CK:
Cho vay CK là phương thức để giải quyết sự thiếu hụt CK vào thời
điểm TT. Người vay CK, là người không có sẵn CK để đáp ứng nghóa vụ
TT, phải thế chấp cho số CK vay. Ngoài việc thế chấp, người đi vay còn
12
phải trả cho người cho vay một khoản phí cho việc sử dụng tạm thời CK
của họ.
− Kết nối với hệ thống xác nhận GD và BT :
Sẽ không cần phải kết nối nếu tất cả các chức năng xác nhận GD,
TTBTø CK và tiền và LKù chỉ do một mình trung tâm LKù đảm nhiệm. Tuy
nhiên, chức năng BT và TT có thể được thực hiện riêng, ngay cả trong
cùng trung tâm LKù hoặc bởi các tổ chức riêng biệt, lúc này việc kết nối
mạnh mẽ giữa các hệ thống sẽ nâng cao hiệu quả TT rất nhiều.
3.1.2
Các đối tượng tham gia vào hệ thống LKù:
Tham gia vào hệ thống LKù nhìn chung có các đối tượng chính sau:
− Trung tâm LKù là tổ chức đứng ra cung cấp các dòch vụ LKù như sẽ
được trình bày ở phần sau. Trung tâm LKù là đơn vò trung tâm trong
hoạt động của hệ thống LKù;
− TVLKù: là các Công ty môi giới, các Ngân hàng LKù sử dụng các dòch
vụ LKù do Trung tâm LKù cung cấp;
− Ngân hàng chỉ đònh TT: là tổ chức đảm nhiệm việc TT tiền cho các
GDCK dưới sự quản lý của Trung tâm LKù.
Ngoài ra còn có một số đối tượng khác như các Tổ chức phát hành
(trường hợp Trung tâm LKù còn thực hiện chức năng Đại lý chuyển
nhượng hay Đại lý đăng ký), NĐT (đối với mô hình quản lý TK một cấp…
3.1.3
Các nghiệp vụ LKù.
Các nghiệp vụ LKù là biểu hiện ra bên ngoài của các chức năng của
hệ thống LKùù. Nhìn chung nghiệp vụ LKù được chia thành hai nhóm :
nhóm các dòch vụ cơ bản và nhóm các dòch vụ đặc biệt. Các dòch vụ cơ
bản là các dòch vụ tối thiểu một trung tâm LKù phải có. Nó được thấy ở
13
bất kỳ trung tâm LKù nào. Các dòch vụ đặc biệt là những dòch vụ chỉ có
thể thấy ở trung tâm LKù này nhưng không thấy ở trung tâm LKù khác.
a. Nhóm các dòch vụ cơ bản :
i) Nhận LKù tập trung chứng chỉ CK.
ii) Thực hiện yêu cầu rút chứng chỉ CK.
iii) TT CK LKù đã GD.
iv) Cầm cố và giải toả cầm cố CK LKù.
v) Thực hiện quyền cho CK LKù.
b. Nhóm các dòch vụ đặc biệt :
i) Nhận LKù đặc biệt.
ii) Cho vay CK.
iii) Phi vật chất hóa chứng chỉ CK.
iv) BT CK LKù đã GD.
v) Đại lý chuyển nhượng.
vi) Đại lý phát hành.
vii) Đại lý đăng ký trái phiếu.
viii) Thu các loại thuế liên quan đến CK LKù.
ix) Cung cấp thông tin TK đến nhà đầu tư.
x) Các loại dòch vụ khác trên cơ sở nhu cầu cụ thể của từng thò
trường và khả năng của từng trung tâm LKù.
3.2
Hoạt động BT
Trên thế giới hiện nay có 3 mô hình quản lý TK: mô hình quản lý TK
hai cấp, mô hình quản lý TK một cấp và mô hình quản lý TK hỗn hợp
trong đó mô hình quản lý hai cấp được áp dụng nhiều nhất vì tính tiện
lợi và hiệu quả của nó. Để phản ánh xu hướng của thế giới, ở đây luận
14
văn chỉ đi vào xem xét cơ cấu của hệ thống TTBTø theo mô hình quản lý
hai cấp với hai chức năng: Bù trừ và Thanh toán (Xem Sơ đồ 2):
f Thanh toán
SƠ ĐỒ 2: HOẠT ĐỘNG TTBT
Thành viên lưu
ký
Hệ thống Giao dòch
Hệ thống TTBT
Kết quả giao dòch
Kết quả
Thanh toán
Thanh toán chứng
khoán bằng
chuyển khoản trên
hệ thống TK mở tại
Trun
g tâm lưu ký
Kết hợp và quản lý
Ngân hàng chỉ đònh
trong việc chuyển
khoản tiền
Xác nhận
BT là việc khấu trừ giữa khối lượng mua và bán của một TV để cho
ra một kết quả cuối cùng. Giả sử trên thò trường chỉ có 2 TV và có 1 loại
CK thì việc BT sẽ hết sức đơn giản và gọn nhẹ. Tuy nhiên, trên thực tế
không tồn tại một thò trường nào chỉ có 2 TV và một loại CK mà khối
lượng TV và CK lớn hơn rất nhiều. Chính vì vậy, tất cả các nước đều
trang bò cho mình một hệ thống máy tính tự động BT GDCK. Nhờ đó,
công việc BT trở nên đơn giản hơn rất nhiều.
Hàng ngày, kết qủa GD được chuyển đến từ Sở GDCK bằng máy
tính. Ở đa số thò trường, hoạt động BT được tiến hành bất kể GD đó có
đúng với yêu cầu của TV hay không, việc sửa sai GD chỉ được tiến
hành sau khi đã BT xong. Trong rất nhiều trường hợp, Sở GDCK đảm
nhiệm luôn việc BT GDCK. Kết quả GD này là cơ sở để máy tính thực
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét