Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu

Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
Mã ở Rôm, Vạn lý trường thành ở Trung Quốc…). Điều này nói lên giá
trị lớn của các thành quả ĐTPT.
•Các thành quả của các hoạt động ĐTPT sẽ là các công trình xây dựng sẽ
hoạt động ở nay nơi mà nó được tạo dựng nên. Do đó, các điều kiện về
địa lý, địa hình tại đó ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thực hiện đầu tư
cũng như tác dụng sau này của các kết quả đầu tư
•Mọi thành quả và hậu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu ảnh hưởng
nhiều của các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của
không gian.
•Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao
đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị. Sự chuẩn bị này được thể hiện
trong việc soạn thảo các dự án đầu tư (lập dự án đầu tư) có nghĩa là phải
thực hiện đầu tư theo dự án được soạn thảo với chất lượng tốt nhất
2. Hoạt động đầu tư theo chiều rộng và đầu tư chiều sâu
a. Đầu tư theo chiều rộng.
Đầu tư theo chiều rộng là hình thức đầu tư trên cơ sở cải tạo và mở rộng cơ
sở vật chất kỹ thuật hiện có, xây dựng mới nhưng với kỹ thuật công nghệ cơ bản
như cũ.
Nội dung đầu tư theo chiều rộng bao gồm các hoạt động mua sắm máy móc
thiết bị theo dây chuyền đã có từ trước, đầu tư xây dựng mới nhà cửa, cấu trúc hạ
tầng theo thiết kế được phê chuẩn đầu tiên. Các nhà cửa, cấu trúc hạ tầng này là
các tài sản cố định trước đây chưa có trong bảng cân đối TSCĐ của ngành, của
doanh nghiệp.
Đầu tư chiều rộng có đặc điểm là: Trên cơ sở hiện đại, đầu tư mở rộng sản
xuất nhưng cơ bản công nghệ không thay đổi. Tốc độ tăng của lao động thường
lớn hơn hoặc bằng tốc độ tăng của vốn. Chi phí nguyên vật liệu, chi phí lao động
thường là tăng tương ứng nhưng năng suất lao động có thể không tăng. Công nghệ
Đề án kinh tế đầu tư. 5
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
thừơng là đầu tư vào những công nghệ sử dụng nhiều lao động, do đó năng suất
lao động không cao. Đầu tư vào lao động và phương pháp quản lý ở mức độ vừa
phải, không được quan tâm nhiều.
b. Đầu tư theo chiều sâu.
Đầu tư chiều sâu là hình thức đầu tư trên cơ sở nâng cấp đồng bộ hóa, hiện
đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, đầu tư mới nhưng với công nghệ và kỹ
thuật hiện đại hơn mức trung bình tiên tiến của ngành, vùng.
Sự cần thiết khách quan phải có đầu tư theo chiều sâu:
• Một chiến lược quan trọng trong quá trình CNH-HĐH đất nước là chú
trọng phát triển các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, nhưng trong quá
trình phát triển có nhiều vấn đề tồn tại: thị trường hạn hẹp, không ổn định,
vốn ít, kỹ thuật công nghệ lạc hậu. Ngược lại do ít vốn nên không có khả
năng đổi mới kỹ thuật công nghệ, do đó sản phẩm không cạnh tranh đựơc
trên thị trường, không có thị trường. Bởi vậy cần thiết phải đầu tư chiều
sâu, phát triển năng lực sản xuất nhằm nâng cao năng suất, hạ giá thành
sản phẩm để sản phẩm của doanh nghiệp có thể chiến thắng được trong
cạnh tranh.
• Đường lối phát triển kinh tế nước ta là tiến hành CNH-HĐH với phương
châm lấy khoa học công nghệ làm nền tảng, lấy hiệu quả KT-XH làm tiêu
chuẩn cơ bản để xác định phương hướng phát triển. Do đó cần phải phát
triển đầu tư chiều sâu, coi đó là động lực trực tiếp thúc đẩy tiến trình
CNH-HĐH.
• ĐTCS nhằm khai thác tối đa khả năng hiện có của các doanh nghiệp, rút
ngắn khoảng cách tiến tới kỹ thuật sản xuất tiên tiến, công nghệ hiện đại,
đạt hiệu quả KT-XH cao nhất, tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý của nền
sản xuất hiện đại phù hợp yêu cầu về trình độ tăng trưởng kinh tế trong
những năm tiếp theo.
Đề án kinh tế đầu tư. 6
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
Nội dung đầu tư chiều sâu bao gồm: cải tạo, nâng cấp, đồng bộ hóa, hiện đại
hóa dây chuyền công nghệ hiện có thay thế dây chuyền công nghệ cũ; đầu tư phát
triển nguồn nhân lực; đầu tư vào khâu thiết yếu nhất trong dây chuyền công nghệ;
đầu tư để tổ chức lạ bộ máy quản lý, phương pháp quản lý của doanh nghiệp.
Một số yêu cầu cơ bản đối với quá trình đầu tư chiều sâu:
• Lấy hiệu quả của kinh doanh làm động lực trực tiếp và lấy hiệu quả KT-
XH làm tiêu chuẩn cơ bản để định hướng phát triển, lựa chọn dự án đầu
tư và phướng hướng công nghệ đảm bảo chống thất thoát và lãng phí về
vốn đầu tư và thu hồi nhanh trên cơ sở tốc độ hao mòn vô hình và hữu
hình của máy móc thiết bị.
• Khai thác tối đa năng lực hiện có của kỹ thuật công nghệ đặc biệt là kết
hợp giữa công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, đồng thời tập
trung vào khâu quyết định đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm
• Không gây ra ô nhiễm môi trường: chất thải, khí độc…
Đầu tư chiều sâu có đặc điểm là: nó gắn liền với hoạt động đổi mới kỹ thuật
công nghệ nhưng phải đồng nhất. Trong đầu tư chiều sâu, tốc độ tăng vốn lớn hơn
tốc độ tăng của lao động. Đầu tư chiều sâu thừơng dẫn đến giảm chi phí sản xuất,
tăng năng suất lao động và nâng cao được hiệu quả sử dụng vốn.
Như vậy qua sự phân tích này, chúng ta có thể rút ra rằng: tiêu chí cơ bản để
phân loại hoạt động đầu tư chiều rộng và đầu tư chiều sâu chính là mối quan hệ
giữa tốc độ tăng vốn với tốc độ tăng lao động, trình độ thiết bị công nghệ đưa vào
đầu tư. Đầu tư chiều sâu được hiểu trên hai khía cạnh:
- Đầu tư chiều sâu là hoạt động đầu tư tập trung vào khâu khai thác công
trình để đồng bộ hóa hoặc hiện đại hóa dây chuyền công nghệ
- Đầu tư chiều sâu được hiểu theo ngắn hạn giữa hiện đại hóa sản xuất với
nâng cao năng lực sản xuất. Nội dung chủ yếu của hoạt động đầu tư chiều sâu là
đổi mới công nghệ và nâng cao trình độ sử dụng máy moc thiết bị công nghệ mới.
Tuy nhiên ta không thể đồng nhất 2 khái niệm đó mà chỉ có thể hiểu đầu tư chiều
Đề án kinh tế đầu tư. 7
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
sâu và đổi mới công nghệ có quan hệ mật thiết, hữu cơ, và luôn luôn đi liền với
nhau. Đầu tư chiều sâu là nhân tố quyết định đổi mới công nghệ, tạo điều kiện và
khả năng cho đổi mới công nghệ. Đổi mới công nghệ là nôi dung, là phương thức
tiến hành hoạt động đầu tư chiều sâu có hiệu quả.
c. Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu
trong doanh nghiệp.
• Đầu tư chiều rộng là nền cơ sở, là bước đi đầu tiên để đầu tư chiều sâu
Trước hết, có thể khẳng định rằng đầu tư theo chiều rộng là nền tảng, cơ sở
để doanh nghiệp đầu tư chiều sâu có hiệu quả.
Đối với hầu hết các doanh nghiệp khi bước đầu thành lập đều phải tiến hành
đầu tư theo chiều rộng để tạo nền tảng cơ bản cho doanh nghiệp đi vào hoạt động.
Đó chính là đầu tư vào xây dựng cơ sở hạ tầng nhà xưởng, mua sắm máy móc
thiết bị, thuê công nhân Rồi chính trên nền tảng ban đầu đó, doanh nghiệp sẽ
tiến hành đầu tư theo chiều sâu như hiện đại hóa, đổi mới công nghệ, áp dụng
khoa học công nghệ tiên tiến, đào tạo nâng cao trình độ tay nghề cũng như quản
lý của người lao động Như vậy, đầu tư theo chiều rộng đóng vai trò rất lớn đối
với hoạt động đầu tư theo chiều sâu của doanh nghiệp sau này.
Nếu xét cụ thể đối với một doanh nghiệp trẻ, mới thành lập thì đầu tư theo
chiều rộng chiếm chủ yếu bởi doanh nghiệp cần chú trọng xây dựng cơ sở vật
chất kỹ thuật cơ bản để có thể tiến hành sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, không
phải vì vậy mà sản phẩm của doanh nghiệp trẻ kém tính cạnh tranh hơn, bởi họ có
cơ hội áp dụng những công nghệ tiên tiến nhất, xây dựng được cơ sở ban đầu
hoàn thiện đồng bộ hơn. Chính vì vậy, lợi thế này sẽ tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp trẻ sau này tiến hành đầu tư theo chiều sâu có hiệu quả bởi họ đã có một
nền tảng khá hiện đại.
Đối với một doanh nghiệp đã có vị thế trên thị trường thì việc kết hợp giữa
đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu một cách hợp lý sẽ đem lại hiệu
quả cao cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp phải tiến hành đầu tư
Đề án kinh tế đầu tư. 8
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
theo chiều rộng để duy trì năng lực kinh doanh, giữ được uy tín và thị phần của
mình. Như vậy, có nghĩa là doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư thay thế máy móc, thiết
bị đã quá cũ, tu sửa, cải tạo nhà xưởng Hay doanh nghiệp mở rộng hoạt động
sản xuất để đáp ứng nhu cầu của thị trường như xây dựng thêm nhà máy mới, mua
thêm dây truyền sản xuất Mặt khác, trước tình hình cạnh tranh ngày càng gay
gắt buộc doanh nghiệp phải lưu ý đầu tư chiều sâu để tăng tính cạnh tranh cho sản
phẩm của mình, như đổi mới công nghệ, đổi mới cơ chế quản lý, hay nâng cao
trình độ tay nghề cho công nhân Để từ đó tăng năng suất lao động, hạ giá thành
sản phẩm. Tóm lại, doanh nghiệp phải kết hợp một cách khoa học và khéo léo đầu
tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu mới đem lại lơi ích lâu dài và cào nhất
cho doanh nhiệp.
• Đầu tư chiều sâu tiếp tục tạo ra những tiền đề để đầu tư chiều rộng ở
những phương diện mới
Đầu tư theo chiều sâu là động lực thúc đẩy doanh nghiệp phát triển sản xuất,
tiếp tục tiến hành đầu tư theo chiều rộng.
Khi doanh nghiệp thực hiện đầu tư theo chiều sâu có hiệu quả sẽ nâng cao
chất lượng sản phẩm với giá thành ngày càng rẻ hơn, tăng tính cạnh tranh trên thị
trường, đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp và từ đó doanh nghiệp nâng cao
được tỷ lệ tích lũy tạo ra nguồn lực mới để doanh nghiệp có thể mở rộng cơ sở
sản xuất, tăng khối lượng sản phẩm phục vụ khách hàng, và từ đó cũng giải quyết
thêm công ăn việc làm cho người lao động – một vấn đề mà nếu chỉ đầu tư theo
chiều rộng thì không thể đạt được.
Mặt khác, đầu tư theo chiều sâu có hiệu quả sẽ tạo điều kiện thuận lợi để
doanh nghiệp có thể đầu tư nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm mới hoặc các
lĩnh vực kinh doanh có tiềm năng. Đầu tư theo chiều sâu có hiệu quả sẽ tạo đà cho
doạnh nghiệp có thể chuyển từ đơn sản phẩm thành đa sản phẩm, hay từ đơn lĩnh
vực thành đa lĩnh vực, qua đó doanh nghiệp lại tiếp tục đầu tư chiều rộng ở những
phương diện mới. Và từ đó, doanh nghiệp có thể khẳng định được vị thế của mình
trên thị trường, duy trì tốc độ tăng trưởng, đồng thời không ngừng phát triển cả về
Đề án kinh tế đầu tư. 9
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
chiều sâu lẫn chiều rộng. Nhu cầu của thị trường là rất đa dạng, biến động, yêu
cầu ngày càng cao về mọi mặt nên đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn linh hoạt trong
vấn đề phối kết hợp đầu tư theo chiều rộng và chiều sâu.
• Đầu tư chiều sâu và đầu tư chiều rộng không tách rời nhau, đan xen và
bổ sung lẫn nhau trong quá trình thực hiện chiến lược đầu tư phát triển
của doanh nghiệp và đầu tư chiều sâu là chiến lược đầu tư lâu dài của
doanh nghiệp
- Đầu tư chiều rộng và đầu tư chiều sâu có mối quan hệ tác động qua lại, hỗ
trợ và kiềm chế nhau. Không phải lúc nào đầu tư theo chiều rộng cũng có tác
dụng là động lực thúc đẩy đầu tư theo chiều sâu. Đầu tư theo chiều rộng không
hợp lý, tràn lan đôi khi lại hạn chế hiệu quả của hoạt động đầu tư theo chiều sâu
của doanh nghiệp.
Thứ nhất, khi cơ sở vật chất do đầu tư chiều rộng tạo ra không phù hợp và
đồng bộ như nhà xưởng xây dựng không đúng quy cách, hay dây chuyền máy
móc nhập lúc đầu quá lạc hậu hay quá tiên tiến, sự chênh lệch về trình độ công
nghệ quá lớn giữa các bộ phận sản xuất sẽ dẫn đến tình trạng làm cho đầu tư
theo chiều sâu không phát huy được hiệu quả, gây lãng phí, thất thoát. Doanh
nghiệp không thể phát triển lên được nếu đứng trên một nền móng không vững
vàng hay không phù hợp với mình.
Thứ hai, tiềm lực của mỗi doanh nghiệp là có hạn, do đó, đầu tư theo chiều
rộng một cách tràn lan, không đồng bộ, không có trọng tâm, trọng điểm sẽ làm
hạn chế vốn và nguồn lực để doanh nghiệp đầu tư theo chiều sâu. Bởi một trong
những đặc điểm của đầu tư theo chiều rộng đó là vốn lớn, thời gian khê đọng vốn
dài nên một khi doanh nghiệp phân tán nguồn lực của mình, mở rộng nhà xưởng,
thêm công nhân, dây chuyền sản xuất, tăng khối lượng sản phẩm càng nhiều càng
tốt thì không có đủ điều kiện để đầu tư theo chiều sâu. Như vậy, khi đó doanh
nghiệp sẽ bị giảm tính cạnh tranh trên thị trường do không nâng cao chất lượng
của sản phẩm, năng suất lao động thấp hơn, giá thành cao.
Đề án kinh tế đầu tư. 10
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
Doanh nghiệp luôn phải cân nhắc cẩn thận khi đầu tư để có hiệu quả kinh
doanh cao nhất sao cho đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu hỗ trợ lẫn
nhau, phát huy ưu điểm và hạn chế nhược điểm của mỗi loại hình đầu tư.
- Ngược lại, đầu tư chiều sâu không hiệu quả sẽ làm cho doanh nghiệp không
có đủ điều kiện để tiếp tục đầu tư chiều rộng, mở rộng sản xuất.
Khi đầu tư theo chiều sâu không đạt được hiệu quả, sản phẩm sản xuất ra
không đáp ứng được nhu cầu của thị trường: giá thành quá cao, sản phẩm quá
hiện đại khó sử dụng, hoặc sản phẩm đã trở nên lỗi thời với nhu cầu xã hội ngày
càng phát triển hiện nay sẽ gây lãng phí về vốn đầu tư của doanh nghiệp mà
không mang lại hiệu quả kinh tế nào. Do vậy, doanh nghiệp sẽ rất khó cạnh tranh
với các doanh nghiệp khác trên thị trường.
Đầu tư theo chiều sâu không có hiệu quả khiến doanh nghiệp không thu được
lợi nhuận cao, thậm chí thất thu nên tỷ lệ tích lũy của doanh nghiệp là rất thấp.
Hâu quả là doanh nghiệp vừa bị mất tính cạnh tranh trên thương trường vừa bị
thiệt hại về nguồn lực vì thế doanh nghiệp sẽ rất khó khăn để có thể mở rộng hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình.
Tóm lại, đầu tư chiều rộng và đầu tư chiều sâu có mối quan hệ vô cùng mật
thiết. Hoạt động đầu tư này góp phần tăng hiệu quả của hoạt động đầu tư kia và
ngược lại. Do đó, để thực hiện đầu tư có hiệu quả nhất thiết các doanh nghiệp cần
xem xét đầy đủ, chú trọng một cách đúng mức, nghiên cứu kỹ lưỡng để phối hợp
một cách hợp lý hai hoạt động đầu tư này trong hoạt động của mình, tạo nên sức
cạnh tranh, chỗ đứng vững chắc trong nền kinh tế thị trường hiện nay.
II. Các tiêu chí để đánh giá và phân tích hiệu quả của đầu tư theo
chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu trong doanh nghiệp.
1. Hệ thống các chỉ tiêu đánh gía hiệu quả.
Đối với các doanh nghiệp (chủ đầu tư thì hoạt động đầu tư có thể có các mục
tiêu khác nhau tuỳ theo quan điểm của chủ đầu tư nhưng nhìn chung thì có hai
nhóm mục tiêu chính. Nhóm mục tiêu kinh tế với lợi nhuận là mục tiêu bao trùm
Đề án kinh tế đầu tư. 11
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
nhất, tổng quát nhất. Nhóm mục tiêu xã hội: gồm có tăng thu nhập quốc dân, tạo
việc làm và làm các lợi ích công cộng khác…Những nhóm chỉ tiêu này lại được
thể hiện dưới hai cách thức khác nhau, đó là định lượng và định tính.
Để có thể lựa chọn một dự án đầu tư có hiệu quả nhất cần phải lựa chọn
giữa các dự án đầu tư thông qua một hệ thống các chỉ tiêu hiệu quả phản ánh khả
năng, mức độ sinh lời của dự án, mức độ đáp ứng những mục tiêu KT-XH đã
được đặt ra.
 Nhóm các chỉ tiêu định lượng.
 Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh
• Chỉ tiêu NPV (giá trị hiện tại ròng)
Chỉ tiêu này cho ta biết quy mô số tiền sinh lời của dự án đầu tư sau khi đã
hoàn trả đủ vốn. Tiền lời nói ở đây cũng bao gồm có khấu hao và lãi suất ròng
hiệu quả hàng năm, tức là thu hồi ròng hàng năm.

=
+

+−=
n
i
i
ii
r
CB
KNPV
0
)1(
)(
Trong đó: NPV là tổng lãi cầu dự án quy về thời điểm hiện tại
B
i
: Lợi ích của dự án tại năm i
C
i
: Chi phí của dự án tại năm i
R : Lãi suất huy động vốn.
K
i
: Đầu tư tại năm i
NPV > 0 Dự án có lãi
NPV = 0 Dự án hoà vốn
NPV < 0 Dự án thua lỗ
Như vậy NPV càng lớn thì càng có lợi. Chỉ tiêu NPV là chỉ tiêu rất quan
trọng, nó phản ánh hiệu quả về phương diện tài chính. Mặc dù vậy, chỉ tiêu NPV
Đề án kinh tế đầu tư. 12
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
vẫn phụ thuộc vào lãi suất, lãi suất càng lớn thì NPV càng nhỏ và ngược lại. Nói
cách khác, nó không cho ta biết được tỉ lệ sinh lời mà bản thân dự án có thể tạo ra.
• Chỉ tiêu suất thu hồi nội bộ IRR
Suất thu hồi nội bộ là suất chiết khấu mà ứng với nó tổng giá trị thu hồi ròng
vừa bằng tổng hiện giá vốn đầu tư.
21
112
1
)(
NPVNPV
NPVii
iIRRr
+

+==
Trong đó: IRR: tỷ lệ lãi do dự án đem lại.
i
1
: lãi suất chiết khấu tự chọn lần1 (thường lấy = lãi suất vay
vốn), rồi tính ra NPV1
i
2
: lãi suất chiết khấu tự chọn lần2 (thường lấy ở vùng lân cận),
rồi tính ra NPV2
IRR là một chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư rất quan trọng. Nó cho ta biết
được lãi suất mà tự bản thân dự án mang lại cho chủ đầu tư. Đặc biệt trong trường
hợp đầu tư bằng vốn vay thì nó giúp chủ đầu tư so sánh IRR với lãi suất tiền vay
(i) để quyết định phương án đầu tư.
• Chỉ tiêu tỷ số lợi ích trên chi phí (B/C)
B/C cho ta biết tỷ lệ tương đối giữa giá trị hiện tại của thu nhập so với giá trị
hiện tại của chi phí (giá thành).


=

=

+
+
=
n
i
t
t
n
i
t
t
iC
iB
CB
0
1
)1(
)1(
/
Trong đó: Bt: Thu nhập tại năm t
Ct: Chi phí tại năm t
B/C = 1 thì dự án có thể chấp nhận được
Đề án kinh tế đầu tư. 13
Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu.
• Chỉ tiêu phân tích điểm hoà vốn.
Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó doanh thu vừa đủ trang trải các khoản chi
phí bỏ ra, hay đó chính là giao điểm của đường biểu diễn doanh thu và đường
biểu diễn chi phí, tại đó chưa có lời và cũng chưa bị thua lỗ. Bởi vậy, chỉ tiêu này
cho biết khối lượng sản phẩm và mức doanh thu (do bán sản phẩm đó) thấp nhất
cần phải đạt được của dự án để đảm bảo bù đắp được chi phí bỏ ra.
Nếu sản lượng hoặc doanh thu của cả đời dự án lớn hơn sản lượng hoặc
doanh thu tại điểm hoà vốn thì dự án thì dự án càng có lãi, ngược lại nếu đạt thấp
hơn thì dự án bị lỗ. Do đó, chỉ tiêu điểm hoà vốn càng nhỏ càng tốt, mức độ an
toàn của dự án càng cao, thời hạn thu hồi vốn càng ngắn.
 Nhóm các chỉ tiêu đánh gía hiệu quả kinh tế xã hội.
Nhóm chỉ tiêu đánh giá tiềm lực tài chính của doanh nghiệp mới chỉ được
xem xét ở tầm vi mô do đứng trên góc độ chủ đầu tư nhằm mục tiêu tối thiểu hoá
chi phí, tối đa hóa lợi nhuận. Ngoài ra nếu xem xét ở tầm vĩ mô đứng trên góc độ
toàn xã hội nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế, phúc lợi xã hội và bảo vệ môi
trường thì cần phải có một nhóm các chỉ tiêu đánh gía hiệu quả kinh tế xã hội của
dự án.
• Chỉ tiêu tỷ suất vốn đầu tư ICOR
ICOR là chỉ tiêu tổng hợp cho phép đánh giá hiệu quả đầu tư cuả một nền
kinh tế, được tính toán trên cơ sở so sánh đầu tư với mức tăng trưởng kinh tế hàng
năm.
Theo cách tính thông thường và đơn giản nhất
ICOR = Vốn đầu tư/mức tăng GDP do vốn tạo ra
= Vốn đầu tư/∆GDP
Hoặc ICOR= (tỷ lệ đầu tư/GDP)/nhịp tăng GDP
Đề án kinh tế đầu tư. 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét