Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Tình hình xuất khẩu giày dép Việt Nam sang thị trường EU hiện nay

mình . Sự ổn định kinh tế của EU được xem là một trong những nhân tố chính
giúp cho nền kinh tế thế giới tránh được nguy cơ suy thoái toàn cầu. Năm 2003
tuy tốc độ tăng trưởng nền kinh tế có chiều hướng giảm , nguyên nhân chính là
do sự giảm giá của đồng Euro và sản xuất công nghiệp giảm sút , nhưng đến nay
tình hình đã được cải thiện. Theo Uỷ Ban Châu Âu (EC), kinh tế EU đang phát
triển khả quan. Năm 2005 , GDP của EU cao hơn năm 2004 là 1,1%. Các nhà
phân tích kinh tế lạc quan nói rằng xu hướng đi lên của nền kinh tế Châu Âu vẫn
tiếp tục . Tăng trưởng GDP của 25 quốc gia thuộc khu vực đồng Euro là 3%
trong năm 2005. Tốc độ tăng trưởng của các quốc gia công nghiệp chủ chốt
trong EU là khác nhau, tốc độ tăng trưởng cao nhất thuộc về Ai Len 8,5%. Năm
2006, theo dự tính của EC thì GDP của hầu hết các nước thành viên EU sẽ cao
hơn năm trước là 0,4%-1,5%. Hơn nữa lạm phát ở EU vẫn ở mức 1,1%-mức
thấp chưa từng có trong lịch sử . Tỷ lệ thất nghiệp giảm từ hơn 10% xuống còn
8,6% năm 2005. Thâm hụt ngân sách của các nước thành viên ở mức thấp 0,5%-
1,7% GDP.
Sự lớn mạnh về kinh tế qua quá trình nhất thể hóa và những bước đi xa
hơn đã và đang đem lại cho Liên Minh Châu Âu một sức mạnh kinh tế chính trị
to lớn trên thế giới . EU ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy
sự phát triển kinh tế toàn cầu. Hiển nhiên , thị trường EU ngày càng rộng lớn và
đầy sức hấp dẫn đối với các doanh nghiệp , trong đó có các doanh nghiệp xuất
khẩu giày dép của Việt Nam .
2. Vai trò kinh tế của EU trên thị trường thế giới
2.1. Vai trò của EU trong thương mại quốc tế
Thương mại tự do là một trong những mục tiêu chủ yếu của Liên Minh
Châu Âu ( EU ). Với hơn 600 triệu người, EU đã tạo ra một thị trường quan
trọng của thế giới , đẩy mạnh thương mại giữa 25 nước thành viên và phụ thuộc
nhiều vào thương mại quốc tế , nhiều hơn so với Mỹ.
Qua các việc làm thiết thực , EU đã có những đóng góp không nhỏ đối với
việc phát triển thương mại thế giới . Khối lượng thương mại ngày nay đã tăng
lên đáng kể so với 50 năm qua nhờ vào việc tiếp tục loại bỏ các hàng rào thuế
quan và phi thuế quan. Từ năm 1985-2005 , tỷ trọng thương mại chiếm trong
GDP thế giới đã tăng bốn lần so với thập kỷ trước và tăng gần ba lần so với
những năm 60.
Kim ngạch xuất khẩu của EU tăng lên hàng năm (1995: 1.463,13 tỷ USD,
1996: 1.532,37 tỷ USD , 1997: 1.572,51 tỷ USD , 1998: 1.632,42 tỷ USD ,
1999: 1.698,45 tỷ USD , 2000: 1.756,98 tỷ USD , 2001: 1.798,45 tỷ USD ,
2002: 1.843,65 tỷ USD , 2003: 1.876,94 tỷ USD , 2004: 1.883,59 tỷ USD ,
2005: 1.936,78 tỷ USD ), chiếm 24,47% kim ngạch thương mại toàn cầu giai
đoạn 1995-2005, trong khi đó của Mỹ và Nhật Bản là 19,89% và 11,4%.
Kim ngạch xuất khẩu của EU ngày càng tăng lên, chiếm khoảng 21,49%
kim ngạch xuất khẩu thế giới (1995-2005), con số này của Mỹ và Nhật Bản là
17,34% và 10,97%. Bên cạnh đó , kim ngạch nhập khẩu của EU cũng không
ngừng gia tăng , chiếm 20,13% thế giới còn con số của Mỹ và Nhật Bản là
21,34% và 9,96%(1995-2005).
Năm 2005 kim ngạch thương mại thế giới đạt 5.948,39 tỷ USD , trong đó
kim ngạch xuất nhập khẩu của Mỹ là 1.974,55 tỷ USD , chiếm 21,54% kim
ngạch thương mại thế giới , kim ngạch xuất nhập khẩu của EU và Nhật Bản là
1.737,56 tỷ USD và 1.272,85 tỷ USD chiếm 20,36% và 11,67%. Như vậy , trong
năm 2005 Mỹ là nước có kim ngạch ngoại thương lớn nhất thế giới , tiếp theo là
EU và Nhật Bản .
Chiếm tỷ trọng lớn trong thương mại toàn cầu và với vai trò nổi bật trong
tổ chức thương mại thế giới (WTO) , EU là một nhân tố quan trọng trong việc
phát triển thương mại thế giới .
2.2.Vai trò của EU trong đầu tư quốc tế
EU không những là trung tâm thương mại lớn thứ hai thế giới sau Mỹ
mà còn là nơi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn nhất thế giới . Nguồn vốn FDI
của EU chiếm 45,7% tổng vốn FDI toàn cầu, trong khi đó của Mỹ và Nhật Bản
là 27,1% và 6,7 %.
Các nước Châu Âu như Anh , Pháp, Đức… tiến hành công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nền kinh tế sớm nhất thế giới (từ thế kỷ thứ XVIII). Vì vậy, khi các
ngành công nghiệp phát triển mạnh và nền kinh tế đạt tới trình độ phát triển
cao , nguồn nguyên liệu đầu vào trở nên khan hiếm và giá nhân công tăng , để
hạ giá thành sản phẩm và tăng lợi nhuận họ đã tiến hành di chuyển các ngành
công nghiệp cạnh tranh kém (các ngành công nghiệp sử dụng nhiều nguyên vật
liệu và lao động ) sang những nơi gần nguồn nguyên liệu ,cụ thể là Mỹ ,Nhật
Bản … Chính vì thế , đầu tư nước ngoài đã ra đời . Chúng ta có thể khẳng định
rằng các nước Châu Âu là những người đi tiên phong trong lĩnh vực đầu tư quốc
tế và cho đến tận bây giờ vẫn dẫn đầu trong lĩnh vực này.
Năm 1991, FDI toàn thế giới là 198.143 triệu USD ; FDI của EU là
106.113 triệu USD , chiếm 53,55% FDI thế giới , trong khi đó FDI của Mỹ và
Nhật Bản là 31.380 triệu USD và 31.620 triệu USD , chiếm 15,83% và 15,95%
FDI thế giới .
Năm 1995, FDI toàn cầu là 352.514 triệu USD ; FDI của EU là 159.124
triệu USD , chiếm 45,13% FDI toàn cầu ; FDI của Mỹ và Nhật Bản là 96.650
triệu USD và 22.510 triệu USD , chiếm 27,41% và 6,38% FDI toàn cầu.
Năm 1997, FDI toàn cầu là 423.666 triệu USD ; FDI của EU là 203.237
triệu USD , chiếm 47,97% FDI toàn cầu ; còn FDI của Mỹ và Nhật Bản là
121.840 triệu USD và 26.060 triệu USD , chiếm 28,75% và 6,15% FDI toàn cầu.
Năm 2000, FDI toàn cầu là 787.396 triệu USD ; FDI của EU là 395.560
triệu USD ,chiếm 47,65% FDI toàn cầu ; FDI của Mỹ và Nhật Bản là 238.521
triệu USD và 46.980 triệu USD chiếm 46,73% và 6,64% FDI toàn cầu.
Năm 2004, FDI toàn cầu là 1.346.280 triệu USD ; FDI của EU là 621.908
triệu USD ,chiếm 45,76% FDI toàn cầu ; FDI của Mỹ và Nhật Bản là 401.632
triệu USD và 89.095 triệu USD , chiếm 29,91% và 7,36% FDI toàn cầu.
Ngày nay, các nước thành viên EU đều là các nước công nghiệp có nền
kinh tế phát triển mạnh đang tập trung phát triển các ngành công nghiệp có hàm
lượng công nghệ cao , như điện tử tin học, viễn thông, công nghệ sinh học…
Do vậy, FDI của EU chủ yếu tập trung ở các nước phát triển , cụ thể : Mỹ chiếm
39,7% , Nhật Bản chiếm 32,1%, ASEAN chiếm 12,6% FDI của EU và 15,6%
FDI còn lại của EU đầu tư vào các nước Trung Cận Đông và Châu Phi.
3.Sự phù hợp của hàng hóa cần xuất khẩu của Việt Nam đối với nhu cầu
của thị trường EU .
Thị trường EU có nhu cầu lớn , rất đa dạng và phong phú về hàng hóa
nhất là mặt hàng giày dép ( kiểu dáng, mẫu mã, tính năng, tác dụng… ). Mặt
khác giày dép xuất khẩu của Việt Nam đã đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của
người tiêu dùng EU , đáp ứng được các tiêu chuẩn về kỹ thuật , vệ sinh môi
trường và các chỉ số khác của EU . Hơn nữa , thị trường EU có nhu cầu nhập
khẩu rất lớn và ổn định đối với mặt hàng giày dép , trong khi đó Việt Nam rất có
khả năng đáp ứng được các đơn hàng nhập khẩu lớn của EU ,đồng thời vẫn đáp
ứng được đúng thời điểm và chất lượng giày dép , đa dạng về chủng loại, đẹp về
mẫu mã. Do vậy, tăng cường xuất khẩu giày dép sang EU các doanh nghiệp
Việt Nam không những đảm bảo ổn định được sản xuất mà còn nâng cao được
trình độ và tay nghề của người lao động , mặt khác còn góp phần thay đổi cơ cấu
kinh tế của Việt Nam .
EU là thị trường có nhu cầu nhập khẩu lớn và khá ổn định những mặt
hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam nhất là mặt hàng giày dép , đến hơn 80%
khối lượng giày dép xuất khẩu là xuất khẩu sang thị trường EU . EU là một thị
trường lớn có chính sách thương mại chung cho 25 nước thành viên và đồng tiền
thanh toán cho 11 nước thuộc EU -11. Khi xuất khẩu giày dép sang bất cứ thành
viên nào trong khối chỉ cần tuân theo chính sách thương mại chung và thanh
toán bằng tiền Euro( EU -11) ; không phức tạp như trước đây là phải tính giá
theo 11 đồng tiền bản địa và biểu thuế nhập khẩu , quy chế nhập khẩu rất khác
nhau. Tuy nhiên, hiện nay cũng có những khác biệt nhỏ trong quy chế nhập
khẩu trong 25 nước thành viên . Thị trường EU thống nhất , mở ra cơ hội lớn và
thuận lợi cho các nhà xuất khẩu giày dép Việt Nam .

CHƯƠNG HAI:
TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU GIÀY DÉP VIỆT NAM VÀO EU
HIỆN NAY
I.KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG EU
1.Tập quán ,thị hiếu tiêu dùng và kênh phân phối
1.1.Tập quán và thị hiếu tiêu dùng:
EU là một thị trường rộng lớn, với 375,5 triệu người tiêu dùng. Thị trường
EU thống nhất cho phép tự do lưu chuyển sức lao động, hàng hóa,dịch vụ và
vốn giữa các nước thành viên. EU gồm 25 thị trường quốc gia, mỗi thị trường lại
có đặc điểm tiêu dùng riêng. Do vậy, có thể thấy rằng thị trường EU có nhu cầu
rất cao, đa dạng và phong phú về hàng hóa. Có những loại hàng hóa rất được ưa
chuộng ở thị trường Pháp,Ý,Bỉ, nhưng lại không được ưa chuộng ở Ai len, Đức,
Đan Mạch, Anh. Nhưng nhìn chung, các nước EU có những điểm chung về thói
quen và sở thích tiêu dùng, đối với giày dép: người dân Áo, Đức, và Hà Lan chỉ
mua hàng giày dép không chứa chất nhuộm có nguồn gốc hữu cơ. Khách hàng
EU đặc biệt quan tâm tới chất lượng và thời trang của giày dép. Nhiều khi yếu tố
thời trang lại có tính quyết định cao hơn nhiều so với giá cả. Hện nay, người tiêu
dùng EU đang có xu hướng đi giày vải. Xu hướng này ngày càng tăng lên tỷ lệ
thuận với nhu cầu tiêu dùng giày dép tăng hàng năm ở EU. Đối với mặt hàng
này nhu cầu thay đổi nhanh chóng, đặc biệt về mặt mẫu mốt.
Người tiêu dùng EU có sở thích và thói quen sử dụng các sản phẩm có
nhãn hiệu nổi tiếng trên thế giới. Họ cho rằng, những nhãn hiệu này gắn liền
với chất lượng sản phẩm và có uy tín lâu đời, cho nên dùng những sản phẩm
mang nhãn hiệu nổi tiếng sẽ rất an tâm về chất lượng và an toàn cho người sử
dụng. Nhiều trường hợp, những sản phẩm này giá rất đắt, nhưng họ vẫn mua và
không thích thay đổi sang những sản phẩm không nổi tiếng khác cho dù giá rẻ
hơn nhiều. Đặc biệt đối với những sản phẩm của các nhà sản xuất không nổi
tiếng hay nói cách khác những sản phẩm có nhãn hiệu ít người biết đến thì rất
khó tiêu thụ trên thị trường này. Người tiêu dùng EU rất sợ mua những sản
phẩm như vậy, vì họ cho rằng sản phẩm của các nhà sản xuất không danh tiếng
sẽ không đảm bảo về chất lượng ,và an toàn cho người sử dụng, do đó không an
toàn đối với sức khỏe và cuộc sống của họ.
Thị trường EU về cơ bản cũng giống như thị trường một quốc gia. Do vậy
có 3 nhóm người tiêu dùng khác nhau: (1) nhóm có khả năng thanh toán ở mức
cao, chiếm gần 20% dân số của EU, dùng hàng có chất lượng tốt nhất và giá cả
cũng đắt nhất hoặc những mặt hàng hiếm và độc đáo; (2) nhóm có khả năng
thanh toán ở mức trung bình, chiếm 68% dân số, sử dụng chủng loại hàng hóa
kém hơn một chút so với nhóm một và giá cả cũng rẻ hơn; (3) nhóm có khả
năng thanh toán ở mức thấp, chiếm hơn 10% dân số, tiêu dùng những loại hàng
hóa có chất lượng và giá cả đều thấp hơn so với hàng của nhóm 2. Hàng hóa đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường này gồm cả hàng cao cấp lẫn hàng bình
dân phục vụ cho mọi đối tượng. Đối tượng tiêu dùng hàng Việt Nam là nhóm 2
và nhóm 3. Các đối thủ cạnh tranh chính của hàng Việt Nam là hàng Trung
Quốc và hàng của các nước ASEAN khác(Thái Lan, Indonexia, Malaixia,…)
Sở thích và thói quen tiêu dùng của người dân EU đang thay đổi rất nhanh cùng
với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ. Ngày nay, người tiêu
dùng EU cần nhiều chủng loại hàng hóa có số lượng lớn và những hàng hóa có
vòng đời ngắn. Không như trước kia họ chỉ thích sử dụng những sản phẩm đắt
tiền, chất lượng cao, vòng đời sản phẩm dài, hiện nay sở thích tiêu dùng lại là
những sản phẩm có chu trình ngắn hơn, giá rẻ hơn,và phương thức dịch vụ tốt
hơn. Tuy có sự thay đổi về sở thích và thói quen tiêu dùng như vậy nhưng chất
lượng hàng hóa vẫn là yếu tố quyết định đối với phần lớn các hàng hóa được
tiêu thụ trên thị trường này. Để xuất được hàng hóa vào thị trường EU, các
doanh nghiệp Việt Nam không những phải nắm vững nhu cầu thị trường ,thị
hiếu tiêu dùng và đảm bảo sản phẩm có sức cạnh tranh về chất lượng cũng như
giá cả ,mà còn phải thông thạo kênh phân phối và hệ thống pháp luật của EU,
nắm được hệ thống quản lý xuất nhập khẩu.
1.2.Kênh phân phối
Hệ thống phân phối EU về cơ bản cũng giống như hệ thống phân phối của
một quốc gia ,gồm mạng lưới bán buốn và mạng lưới bán lẻ. Tham gia vào hệ
thống phân phối này là các công ty xuyên quốc gia ,hệ thống các cửa hàng, siêu
thị, các công ty bán lẻ độc lập,…
Các công ty xuyên quốc gia EU thường phát triển theo mô hình, gồm: ngân hàng
hoặc công ty tài chính, nhà máy, công ty thương mại, siêu thị, cửa hàng… các
công ty xuyên quốc gia tổ chức mạng lưới tiêu thụ của mình rất chặt chẽ, họ chú
trọng từ khâu đầu tư sản xuất hoặc mua hàng đến khâu phân phối hàng cho
mạng lưới bán lẻ. Do vậy, họ có quan hệ rất chặt chẽ với các nhà thầu nước
ngoài (các nhà xuất khẩu ở các nước) để đảm bảo nguồn cung cấp hàng ổn định
và giữ uy tín với mạng lưới bán lẻ.
Hình thức phổ biến nhất của các kênh phân phối trên thị trường EU là
theo tập đoàn và không theo tập đoàn. Kênh phân phối theo tập đoàn có nghĩa là
các nhà sản xuất và nhà nhập khẩu của một tập đoàn chỉ cung cấp hàng hóa cho
hệ thống các cửa hàng và siêu thị của tập đoàn này mà không cung cấp hàng cho
hệ thống bán lẻ của tập đoàn khác. Còn kênh phân phối không theo tập đoàn thì
ngược lai, các nhà sản xuất và nhập khẩu của tập đoàn ngoài việc cung cấp hàng
hóa cho hệ thống bán lẻ của tập đoàn mình còn cung cấp hàng hóa cho hệ thống
bán lẻ của tập đoàn khác và các công ty bán lẻ độc lập.
Hệ thống phân phối của EU đã hình thành lên một tổ hợp rất chặt chẽ và có
nguồn gốc lâu đời. Tiếp cận hệ thống phân phối này không phải là dễ đối với các
nhà sản xuất xuất khẩu của Việt Nam hiện nay. Theo nhóm nghiên cứu,các nhà
xuất khẩu của ta muốn tiếp cận các kênh phân phối chủ đạo trên thị trường EU
thì phải tiếp cận được với các nhà nhập khẩu EU. Có thể tiếp cận với các nhà
nhập khẩu EU bằng hai cách: thứ nhất, tìm các nhà nhập khẩu của EU để xuất
khẩu trực tiếp (tìm các nhà nhập khẩu này qua các thương vụ của Việt Nam tại
EU ,phái đoàn EC tại Hà Nội, các đại sứ quán của các nước EU tại Việt Nam );
thứ hai, những doanh nghiệp Việt Nam có tiềm lực kinh tế nên thành lập liên
doanh với các công ty xuyên quốc gia EU để trở thành các công ty con.
2.Các biện pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của EU
Để đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng ,EU tiến hành kiểm tra các sản
phẩm ngay từ nơi sản xuất và có hệ thống báo động giữa các nước thành viên
,đồng thời bãi bỏ việc kiểm tra các sản phẩm ở biên giới. EU đã thông qua
những quy định bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng về độ an toàn chung của
các sản phẩm được bán ra, các hợp đồng quảng cáo, bán hàng tận nhà, nhãn
hiệu… Các tổ chức chuyên nghiên cứu đại diện cho giớ tiêu dùng sẽ đưa ra các
quy chế định chuẩn quốc gia hoặc Châu Âu. Hiện nay, ở EU có 3 tổ chức định
chuẩn: Ủy ban Châu Âu về định chuẩn, Ủy ban Châu Âu về định chuẩn điện tử,
Viện định chuẩn viễn thông Châu Âu . Tất cả các sản phẩm chỉ có thể bán được
trên thị trường này với điều kiện phải bảo đảm tiêu chuẩn an toàn chung của EU,
các luật và các định chuẩn quốc gia được sử dụng chủ yếu để cấm buôn bán sản
phẩm được sản xuất ra từ những nước có những điều kiện sản xuất chưa ngang
bằng với tiêu chuẩn của EU.
Để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng ,EU tích cực tham gia chống nạn
hàng giả bằng cách không cho nhập khẩu những sản phẩm đánh cắp bản quyền.
Ngoài việc ban hành và thực hiện quy chế trên, EU đưa ra các Chỉ thị kiểm soát
từng nhóm hàng cụ thể về chất lượng và an toàn đối với người tiêu dùng .
3. Chính sách thương mại chung của EU
3.1. Chính sách thương mại nội khối
Chính sách thương mại nội khối tập trung vào việc xây dựng và vận hành
thị trường chung Châu Âu nhằm xóa bỏ việc kiểm soát biên giới lãnh thổ quốc
gia ,biên giới hải quan ( xóa bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan ) để tự
do lưu thông hàng hóa ,sức lao động ,dịch vụ và vốn; và điều hòa các chính
sách kinh tế và xã hội của các nước thành viên.
Thị trường chung Châu Âu dựa trên nền tảng của việc tự do di chuyển 4
yếu tố cơ bản của sản xuất hàng hóa ,sức lao động ,dịch vụ và vốn.
+Lưu chuyển tự do hàng hóa : Để hàng hóa được tự do lưu thông trong thị
trường chung các nước thành viên EU đều nhất trí áp dụng những biện pháp sau
đây: (1) Xóa bỏ hoàn toàn mọi loại thuế quan đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu
giữa các nước thành viên ;(2) Xóa bỏ hạn ngạch (quota) áp dụng trong thương
mại nội khối; (3) Xóa bỏ tất cả các biện pháp tương tự hạn chế về số lượng ( các
biện pháp hạn chế dưới hình thức là các quy chế và quy định về cấu thành sản
phẩm ,đóng gói, tiêu chuẩn công nghiệp và an toàn kỹ thuật); và (4) Xóa bỏ tất
cả các rào cản về thuế giữa các nước thành viên ( Điều khoản 9-37, Hiệp ước về
Liên Minh Châu Âu ).
+ Tự do đi lại cư trú trên toàn lãnh thổ Liên Minh: Để đảm bảo việc tự do
đi lại và cư trú của công dân trong lãnh thổ EU, các nước thành viên đều nhất trí
đảm bảo các quyền sau cho công dân của họ: (1) Tự do đi lại về mặt địa lý; (2)tự
do di chuyển vì nghề nghiệp; (3)Nhất thể hóa về xã hội; và (4) Tự do cư trú
(Điều 48-58, Hiệp ước Liên Minh Châu Âu )
+Lưu chuyển tự do vốn: Trong một thời gian dài, thương mại tự do về
hàng hóa và dịch vụ sẽ không thể duy trì được nếu vốn không được lưu chuyển
tự do và được chuyển tới nơi nó được sử dụng một cách có hiệu quả kinh tế
nhất.
3.2. Chính sách ngoại thương
Chính sách ngoại thương của EU gồm: chính sách thương mại tự trị và
chính sách dựa trên cơ sở hiệp định, được xây dựng dựa trên các nguyên tắc sau:
không phân biệt đối xử ,minh bạch ,có đi có lại và cạnh tranh công bằng. Các
biện pháp được áp dụng phổ biến trong chính sách này là thuế quan, hạn chế về
số lượng ,hàng rào kỹ thuật, chống bán phá giá và trợ cấp xuất khẩu.
EU đang thực hiện chương trình mở rộng hàng hóa :đẩy mạnh tự do hóa thương
mại ( giảm dần thuế quan đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu và tiến tới xóa bỏ
hạn ngạch, GSP). Hiện nay, 25 nước thành viên của EU cùng áp dụng một biểu
thuế quan chung đối với hàng hóa xuất nhập khẩu . Đối với hàng nhập khẩu vào
khối ,mức thuế trung bình đánh vào hàng công nghiệp là 2%.
Các chính sách chủ yếu của EU gồm:chính sách khuyến khích xuất
khẩu ,chính sách thay thế nhập khẩu ,chính sách tự do hóa thương mại và chính
sách hạn chế xuất khẩu tự nguyện. Việc ban hành và thực hiện các chính sách
này có liên quan chặt chẽ tình hình phát triển kinh tế ,tiến trình nhất thể hóa
Châu Âu và khả năng cạnh tranh trong từng thời kỳ của các sản phẩm của Liên
Minh Châu Âu trên thị trường thế giới.
Để đảm bảo cạnh tranh công bằng trong thương mại ,EU đã thực hiện các
biện pháp :chống bán phá giá, chống trợ cấp xuất khẩu và chống hàng giả.
Không chỉ dừng lại ở việc áp dụng các biện pháp chông cạnh tranh không lành
mạnh trong thương mại ,EU còn sử dụng các biện pháp để đẩy mạnh thương mại
với các nước đang phát triển và các nước chậm phát triển. Đó là hệ thống ưu đãi
thuế quan phổ cập (GSP)-một công cụ quan trọng của EU để hỗ trợ các nước nói
trên. Bằng cách này ,EU có thể làm cho nhóm các nước chậm phát triển dễ dàng
thâm nhập vào thị trường của mình. Nhóm các nước chậm phát triển có thể được
hưởng ưu đãi cao hơn các nước đang phát triển .
4. Tình hình nhập khẩu giày dép của EU trong những năm gần đây
Liên Minh Châu Âu có nền ngoại thương lớn thứ hai thế giới sau Mỹ, là
thị trường xuất khẩu lớn nhất và thị trường nhập khẩu lớn thứ hai thế giới. Hàng
năm EU nhập khẩu một khối lượng lớn hàng hóa từ các nước trên thế giới. Kim
ngạch nhập khẩu không ngừng gia tăng, từ 698,65 tỷ USD năm 1995 lên tới
987,45 tỷ USD năm 2005. Kim ngạch nhập khẩu của EU chiếm tỷ trọng 48,76%
trong tổng số kim ngạch xuất nhập khẩu của EU hàng năm.
Các thị trường nhập khẩu chủ yếu của EU: Mỹ chiếm 19,65% tổng kim
ngạch nhập khẩu , Nhật Bản chiếm 9,75%, Trung Quốc chiếm 5,02%, khối
NAFTA chiếm 22,15%, khối ASEAN chiếm 6,5%, khối OPEC chiếm 7,75%
Các số liệu cho thấy nhập khẩu hàng hóa từ các nước đang phát triển vào EU
đang gia tăng và có chiều hướng nhập nhiều hàng chế tạo. Trung Quốc ,các thị
trường mới nổi ở Châu Á và Mỹ La Tinh đóng góp khá lớn vào sự phát triển của
thị trường này. EU nhập khẩu các mặt hàng nông sản ,khoáng sản ,giày dép
,thủy hải sản và hàng dệt may chủ yếu từ các nước đang phát triển ;còn nhập
khẩu máy móc và thiết bị từ các nước phát triển. EU là thị trường nhập khẩu lớn

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét