Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

PPA_Lao_cai-1stdraft-vietnamese

DỰ THẢO - BÁO CÁO PPA LÀO CAI 2003
• Tuyên truyền áp dụng 'lò cứu rừng' để tiết kiệm củi
v
DỰ THẢO - BÁO CÁO PPA LÀO CAI 2003
Mục lục
Lời cảm ơn ii
Tóm lược iii
Mục lục vi
1. Giới thiệu 1
2. Tình hình xoá đói giảm nghèo thời gian qua 4
3. Sự tham gia vào việc ra quyết định tại địa phương 17
4. Cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo 23
4.1. Giáo dục 23
4.2. Y tế 30
4.3. Khuyến nông 38
5. Hỗ trợ xã hội 43
6. Cải cách hành chính và XĐGN 48
7. Tài nguyên - môi trường và XĐGN 53
Phụ lục 1 60
vi
DỰ THẢO - BÁO CÁO PPA LÀO CAI 2003
1. Giới thiệu
Từ ngày 10 đến 31 tháng 7 năm 2003, Văn phòng Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh
(DFID) tại Việt Nam cùng với UBND tỉnh Lào Cai đã phối hợp tổ chức đợt Đánh giá nghèo
đói với sự tham gia của cộng đồng (PPA) tại tỉnh Lào Cai. Đợt đánh giá này nhằm cập nhật sự
hiểu biết về xoá đói giảm nghèo tại Lào Cai, đóng góp vào báo cáo phát triển của Việt Nam
năm 2003 cùng với đợt khảo sát tại 12 tỉnh trên cả nước. Ðợt đánh giá lần này cũng nhằm tìm
hiểu cơ hội hỗ trợ nâng cao năng lực triển khai, theo dõi đánh giá Chiến lược toàn diện về tăng
trưởng và xóa đói giảm nghèo (CPRGS) ở cấp tỉnh.
Địa điểm tiến hành đợt PPA lần này trùng với những địa điểm đã tiến hành đợt PPA năm 1999,
cụ thể tại 2 huyện, 4 xã và 6 thôn như sau:
• Huyện Bảo Thắng : (vùng thấp, là huyện phát triển nhất tỉnh)
• Xã Bản Cầm: thôn Nậm Tang
• Xã Phong Niên: 2 thôn Cốc Sâm 1 và Tân Hồ
• Huyện Mường Khương : (vùng cao, cùng với Xi Ma Cai là 2 huyện khó khăn nhất tỉnh)
• Xã Pha Long: thôn Xín Chải
• Xã Tả Gia Khâu: 2 thôn Thải Giàng Sán và Lao Chải
Hai xã Bản Cầm và Phong Niên (huyện Bảo Thắng) đại diện cho các xã vùng thấp trong tỉnh,
thuận lợi về cơ sở hạ tầng và đông người Kinh. Hai xã Pha Long và Tả Gia Khâu (huyện
Mường Khương) đại diện cho các xã vùng cao sát biên giới, điều kiện về cơ sở hạ tầng còn khó
khăn, đông đồng bào dân tộc. Cả 4 xã khảo sát đều thuộc Chương trình 135 của Chính phủ
1
.
Nhóm nghiên cứu và hỗ trợ khảo sát 26 người (trong đó có 7 nữ), gồm 1 cán bộ của DFID,
nhóm tư vấn 6 người từ Hà nội, 2 cán bộ của Sở LĐ-TBXH Lào Cai, 4 cán bộ UBND huyện
Bảo Thắng và Mường Khương, và 13 cán bộ của 4 xã khảo sát. Với sự hỗ trợ tích cực của cán
bộ địa phương từ cấp tỉnh đến huyện, xã và đến từng thôn bản, quá trình khảo sát đã diễn ra rất
thuận lợi, trôi chảy từ đầu đến cuối. Danh sách các thành viên nhóm nghiên cứu và hỗ trợ khảo
sát có thể xem ở Phụ lục 1.
Khảo sát được tiến hành ở cả bốn cấp:
• Cấp Tỉnh – gặp lãnh đạo Tỉnh, tham vấn các sở, ban, ngành chức năng ….
• Cấp Huyện – tham vấn lãnh đạo huyện và các phòng ban ngành chức năng
• Cấp Xã – tham vấn lãnh đạo xã và các cán bộ chuyên trách, trạm xá, trường học
• Cấp Thôn bản – thảo luận nhóm và phỏng vấn người dân địa phương (nhóm hỗn hợp, nam,
nữ, khá, nghèo), đến thăm và phỏng vấn sâu một số hộ gia đình. Đây là cấp cơ sở được chú
trọng nhất, tốn thời gian nhất trong quá trình khảo sát.
Tổng cộng, đã tiến hành 45 cuộc thảo luận nhóm, gồm 453 người tham gia (167.người Kinh,
286 người các dân tộc Hmong, Phù Lá, Thu Lao, Nùng, Dao ) trong đó có 320 nam, 133 nữ;
ngoài ra còn tiến hành 122 cuộc phỏng vấn sâu (51 cuộc phỏng vấn cán bộ các cấp tỉnh,
huyện, xã và 71 cuộc phỏng vấn hộ gia đình tại thôn bản).
Cụ thể theo bảng sau:
1
Hai xã vùng thấp Bản Cầm và Phong Niên mới được bổ sung vào CT135 từ năm 2000. Hai xã vùng cao Pha
Long và Tả Gia Khâu còn được hưởng hỗ trợ dành riêng cho các xã biên giới theo Chương trình 186 của Chính
phủ (bên cạnh khoản hỗ trợ 500 triệu đồng/năm theo CT135, mỗi xã biên giới được hỗ trợ thêm 500 triệu
đồng/năm theo CT186 - tổng cộng là khoảng 1 tỷ đồng/năm).
1
DỰ THẢO - BÁO CÁO PPA LÀO CAI 2003
Số cuộc
Số người
Chia ra Số cuộc
Nam Nữ Kinh Dân tộc
Tỉnh 1 16 12 4 15 1 11
Huyện 7 48 41 7 38 10 15
Xã 12 131 111 20 50 81 25
Thôn bản 25 258 156 102 64 194 71
Tổng cộng 45 453 320 133 167 286 122
Do quay trở lại đúng những địa điểm đã tiến hành PPA năm 1999 nên đoàn khảo sát lần này
có điều kiện tìm hiểu kỹ hơn những thay đổi trong vòng 4 năm trở lại đây. Đặc biệt, đoàn khảo
sát đã đến thăm hầu hết những trường hợp hộ gia đình được mô tả trong báo cáo PPA năm
1999. Nhiều cán bộ và người dân ở đây đã làm quen với các công cụ nghiên cứu tham gia
(PRA) như phân loại kinh tế hộ, liệt kê - xếp hạng, viết bìa màu Khó khăn lớn nhất trong quá
trình khảo sát là khác biệt về ngôn ngữ khi thảo luận với đồng bào dân tộc, nhất là nhóm đồng
bào H'Mong và Phù Lá hầu hết phải qua phiên dịch. Thời điểm khảo sát vào đúng lúc bắt đầu
mùa mưa ở vùng cao, nên đường dốc trơn trượt đi lại khó khăn và tốn thời gian.
Kết quả khảo sát sơ bộ đã được phản hồi lại với đại diện UBND và các ban ngành của tỉnh Lào
Cai tại cuộc họp ngày 31/7/2003 ngay sau khi kết thúc 3 tuần đi thực địa. Dự thảo báo cáo này
sẽ được gửi cho các ban ngành của tỉnh Lào Cai để xin ý kiến chỉnh lý trước khi trình bày tại
cuộc hội thảo vào cuối tháng 10 năm 2003 tại Lào Cai.
Đề xuất:
Lồng ghép khảo sát định tính và định lượng về đói nghèo ở cấp tỉnh
Trong cuộc họp sơ kết 6 tháng đầu năm 2003 của Ban chỉ đạo XĐGN tỉnh Lào Cai
ngày 11/7/2003, sau khi nghe báo cáo và thảo luận về tình hình đói nghèo thời gian
qua, lãnh đạo UBND tỉnh đã đề nghị Sở LĐ-TBXH phối hợp với các đoàn thể thành
lập một số nhóm (gọn nhẹ) đi khảo sát ở các huyện để trả lời một số câu hỏi bức xúc
của tỉnh về XĐGN:
• tại sao còn một bộ phận dân không dám vay ?
• khuyến nông - khuyến lâm đã đến dân chưa ?
• Ban chỉ đạo XĐGN ở huyện và xã hoạt động như thế nào ?
• Việc bố trí cán bộ chuyên trách XĐGN ở huyện làm đến đâu ?
• Triển khai 6 Chương trình hướng về cơ sở như thế nào ?
Rõ ràng ở cấp tỉnh đang có nhu cầu phối hợp giữa số liệu định lượng và định tính nhằm
giám sát đói nghèo để phục vụ lập kế hoạch tốt hơn.
Hàng năm Sở LĐ-TBXH đều có tổ chức đợt điều tra số liệu hộ nghèo trên toàn tỉnh
(thường bắt đầu vào tháng 11), huy động khá đông cán bộ chuyên môn của tất cả các
huyện và xã trong tỉnh tham gia. Sẽ có ích hơn nhiều nếu cuộc điều tra hộ nghèo hàng
năm theo phiếu hỏi được lồng ghép với một số nội dung khảo sát nghèo đói với sự
tham gia của cộng đồng (PPA), từ đó tổng hợp ý kiến của người dân và cán bộ cơ sở về
một số vấn đề trọng tâm trong chính sách XĐGN của tỉnh.
Các đoàn thể cũng có thể tăng cường hoạt động giám sát thường xuyên việc thực hiện
các chính sách, chương trình, kế hoạch XĐGN ở cơ sở thông qua các hoạt động tham
vấn hội viên trong hệ thống hội của mình.
Thông tin tốt hơn về XĐGN luôn là điểm khởi đầu để có thể cải thiện việc lập kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của tỉnh phục vụ giảm nghèo tốt hơn. Đây dường
2
DỰ THẢO - BÁO CÁO PPA LÀO CAI 2003
như là cánh cửa để đưa cách tiếp cận giảm nghèo trong Chiến lược toàn diện tăng
trưởng và xoá đói giảm nghèo (CPRGS) vào quá trình lập kế hoạch ở cấp tỉnh. Cơ hội
cho các nhà tài trợ trong việc cung cấp hỗ trợ kỹ thuật nhằm nâng cao năng lực cho cấp
tỉnh có thể bắt đầu ngay từ khâu thu thập vầ tổng hợp thông tin này
3
DỰ THẢO - BÁO CÁO PPA LÀO CAI 2003
2. Tình hình xoá đói giảm nghèo thời gian qua
2.1. Xu hướng chung
Cán bộ các cấp tỉnh, huyện, xã đều phấn khởi về thành tựu giảm nghèo khả quan trong mấy
năm qua. Theo số liệu điều tra của ngành LĐ-TBXH từ năm 2000 đến nay, số hộ nghèo hàng
năm giảm bình quân trên 5% tại tất cả các xã khảo sát. Với đà hiện nay, Lào Cai chắc sẽ sớm
hoàn thành mục tiêu của tỉnh đề ra là đến năm 2005 hạ tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 15%, và
cũng sẽ đạt mục tiêu đến 2005 giảm 2/5 tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia so với năm 2000 -
như nêu trong Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo (CPRGS).
Kết quả điều tra hộ nghèo 2 năm gần đây (theo tiêu chí mới của MOLISA)
11/2000 11/2002
Tỉnh Lào Cai 29.96%
(34.016 hộ)
19.19%
(22.699 hộ)
Huyện Bảo Thắng 33,15% 19,74%
Xã Bản Cầm 29,77% 16.92%
Xã Phong Niên 31,35% 19,02%
Huyện Mường Khương 44,88% 30,85%
Xã Pha Long 33,26% 20,43%
Xã Tả Gia Khâu 55,18% 42,32%
Nguồn: báo cáo về XĐGN của ngành LĐ-TBXH và của các xã khảo sát, 7/2003
Qua thảo luận nhóm (phân loại mức sống) và phỏng vấn hộ, người dân địa phương đều cho
rằng đời sống của cả hộ khá và hộ nghèo hiện nay đã đi lên về mọi mặt so với thời
năm 1999. An ninh lương thực được cải thiện nhiều, tình trạng đói đã giảm
mạnh. Tại các thôn vùng thấp đến nay cơ bản không còn hộ đói. Tại các thôn vùng
cao xa xôi vẫn còn một số hộ đói, nhưng trước đây thời gian thiếu ăn phổ biến 3-6
tháng thì nay giảm chỉ còn 1-2 tháng. Tiêu chí nghèo đói bây giờ đã khác trước, như
nhóm cán bộ xã Phong Niên so sánh "năm 1999, nghèo có nghĩa là lương thực
không đủ ăn, nhà không có mà ở, quần áo, chăn màn thiếu, đẻ nhiều con. Còn nay,
năm 2003, người nghèo cũng có nhà, có lương thực tạm đủ ăn, chỉ thiếu vốn, số con
giảm, biết khoa học kỹ thuật, làm năng suất tăng "; hoặc như lãnh đạo Hội Nông
dân huyện Bảo Thắng cho biết "nghèo bây giờ bằng trung bình khá ngày xưa, giờ là
thiếu sắm sửa, vật dụng, thức ăn ". Nhận thức của người dân về giáo dục, y tế đã
cải thiện nhiều. Đã xuất hiện tình trạng "nghèo vì cố lo chi phí cho con ăn học", đây
là một vấn đề rất khác với thời mấy năm về trước "không cho con đi học vì nghèo".
Điều đáng quan tâm là mức độ tăng thu nhập và giảm nghèo giữa vùng thấp và vùng cao trong
tỉnh còn có sự chênh lệch lớn. Khoảng cách giàu nghèo đang dãn ra.
• Các thôn vùng thấp (các xã Bản Cầm, Phong Niên - huyện Bảo Thắng) gần đường lớn,
hạ tầng cơ sở tương đối tốt. Đa số đã có điện, có xe đạp. Các hộ trung bình trở lên đa số
có ti vi, nhà ngói. Thời gian qua người dân thâm canh tăng năng suất dùng giống mới
đại trà, tích cực chuyển dịch cơ cấu, chăn nuôi lợn phát triển mạnh, các ngành kinh
doanh - dịch vụ, các công việc phi nông nghiệp đều tăng (nhất là việc làm thuê trong
ngành xây dựng gắn với các khoản đầu tư lớn về hạ tầng cơ sở). Thách thức lớn của
vùng thấp hiện nay là giúp người dân làm quen và đối phó với các yếu tố thị trường
trong các nỗ lực đa dạng hoá sản phẩm.
• Các thôn vùng cao (các xã Pha Long, Tả Gia Khâu - huyện Mường Khương) đi lại còn
khó khăn, nhiều nơi chưa có điện và thiếu nước sạch, nông nghiệp nhờ vào nước trời.
4
DỰ THẢO - BÁO CÁO PPA LÀO CAI 2003
Với điểm xuất phát thấp nên mấy năm qua nạn đói giảm nhiều nhưng mức tăng thu
nhập còn hạn chế, tình trạng nghèo ở một số thôn bản vẫn khá phổ biến. Các cộng đồng
thiểu số sống ở vùng cao điều kiện sản xuất khó khăn như người H'Mong, Dao, Phù
Lá mới thoát đói gần đây, cơ hội sản xuất hàng hoá, chuyển dịch cơ cấu còn ít nên
nhìn chung mức độ cải thiện cuộc sống chưa bằng các nhóm dân tộc khác sống ở vùng
thấp hơn. Vùng cao vẫn đang cần sự hỗ trợ lớn để tiếp tục cải thiện cơ sở hạ tầng, tăng
sản phẩm hàng hoá phá thế thuần nông để có thể tăng thu nhập.
So sánh tiêu chí phân loại kinh tế hộ
Thời điểm 1999 và 2003
thôn Xín Chải
thôn vùng cao xa xôi, sát biên giới
thuộc xã Pha Long - huyện Mường Khương
thôn Cốc Sâm 1
thôn vùng thấp dễ tiếp cận, cạnh đường quốc lộ,
thuộc xẫ Phong Niên - huyện Bảo Thắng
1999 2003 1999 2003
Loại cao nhất:
• có nhiều đất hơn
các hộ khác
• đất canh tác gần
nhà hơn và màu mỡ
hơn
• chăn nuôi tốt, gia
súc, gia cầm ít bị bệnh
• có trâu và bò
(trung bình là 3 con)
• đủ lương thực ăn
quanh năm
• nhà gỗ chắc chắn
Loại cao nhất:
• ruộng nương
nhiều
• có xe máy,
• có tivi, có máy
xát (thời 1999 chưa
có điện)
• nhà giá trị cao
• trâu bò nhiều
(3-4 trâu), lợn nhiều
• ngô thóc nhiều,
đậu nhiều
• có tiền mua
phân bón
• biết tính toán
làm ăn
• thạo tiếng Kinh
Loại cao nhất:
• có thu nhập bằng
tiền mặt—một số hộ
tiết kiệm tiền và có tiền
cho vay
• có đủ ăn quanh
năm
• có xe máy, máy
thu hình, đồ đạc và tiện
nghi khác
• một số có nhà gỗ
hoặc nhà gạch xây đẹp
• trẻ em đi học đầy
đủ
• có trâu, bò và
một số có máy xát gạo
Loại cao nhất:
• thu ổn định:
lương hoặc dịch vụ
• chăn nuôi phát
triển (nhất là nuôi
lợn)
• buôn bán ở chợ
• nhà mặt đường
• có ruộng (trừ
giáo viên)
• tất cả đều nhà
ngói, có ti vi
Loại thấp nhất
• không có trâu bò,
thiếu sức kéo, phải đi
mượn trâu bò cày
• đất xấu, xa thôn
• thiếu lao động
• thiếu ăn khoảng 3-
4 tháng trong năm
• không chăn nuôi,
nhiều bệnh gia súc
• giường nằm gãy
nát, không có tiền mua
màn
• một số không làm
ăn chăm chỉ như hộ
khác
• các hộ gia đình trẻ
mới tách ra ở riêng
Loại thấp nhất
• có ít trâu bò,
lợn
• vợ/chồng già,
tàn tật, bỏ nhau
• không biết tính
toán
• đông con, con
nhỏ
• thiếu ăn 1-2
tháng trong năm
• một số nhà đã
có mái fibrô-ximăng
(giường màn có đủ)
• đi làm thuê (làm
cỏ rau, ngô, đậu)
• con cái học ít
hơn
• không biết tiếng
Kinh
Loại thấp nhất
• thiếu đất canh
tác, đất xấu
• hay ốm đau,
bệnh tật
• số người đi học
hạn chế
• nhà tranh tạm bợ
• đồ đạc rất ít, chỉ
có giường và bàn
• thiếu ăn 5-6
tháng
• ít quan hệ với
người ngoài và cộng
đồng
• phải đi làm thuê
để có thu nhập
Loại thấp nhất
• già cả, độc
thân, đông con
• bệnh tật
• nữ là chủ hộ
• thiếu lao động
• không buôn bán
• không cải tiến
kỹ thuật
• nghèo vì lo cho
con đi học
• còn 7/17hộ nhà
tranh
• còn 3/17 nhà
không có điện (cả
thôn trên 90% có
điện, 1999 chỉ có
50% có điện)
Nguồn:thực hành phân loại kinh tế hộ 7/2003 và trích báo cáo PPA 1999
2.2. Động lực xoá đói, giảm nghèo

5
DỰ THẢO - BÁO CÁO PPA LÀO CAI 2003
Không có gì ngạc nhiên khi các cán bộ cấp tỉnh thường đề cập nguyên nhân bao trùm trong xoá
đói giảm nghèo là sự quan tâm chỉ đạo hướng về cơ sở của các cấp đảng và chính quyền kèm
theo đầu tư lớn của Nhà nước ("các công trình đầu tư mấy năm trước bây giờ đã phát huy tác
dụng"), cộng với ý thức tự vươn lên của bản thân người nghèo. Còn các nhóm dân và cán bộ xã
huyện tham gia thảo luận trong đợt PPA này thường gắn xoá đói giảm nghèo với những kết quả
cụ thể hơn; họ đều có ý kiến khá thống nhất về 3 động lực chủ yếu trong công cuộc xóa đói
giảm nghèo mấy năm qua tại các xã ĐBKK của Lào Cai là: (i) tăng năng suất lương thực; (ii)
mở rộng tín dụng; và (iii) cải thiện cơ sở hạ tầng.
Phân bổ ngân sách phục vụ XĐGN
Tỉnh Lào Cai: thực hiện 2 năm 2001-2002 và kế hoạch 5 năm 2001-2005
triệu đồng
Thực hiện 2 năm
2001-2002
Kế hoạch 5 năm
2001-2005
I. Các dự án trực tiếp hỗ trợ xđgn 42.900 119.500
1 Khuyến nông - khuyến lâm, hướng dẫn người
nghèo cách làm ăn (kể cả phụ cấp 90.000đ/tháng
cho 171 KNV xã)
1.200 8.400
2 Cấp bù lãi suất tín dụng nông thôn (chủ yếu tín
dụng ưu đãi cho người nghèo)
10.300 20.000
3 Hỗ trợ chất lợp, nước ăn 14.958 73.000
4 Hỗ trợ giáo dục cho người nghèo (miễn học phí và
các khoản đóng góp, phát sách vở, trợ cấp)
8.773 19.650
5 Hỗ trợ y tế cho người nghèo (khám chữa bệnh, cấp
thuốc miễn phí)
7.300 8.400
6 Nâng cao năng lực cán bộ XĐGN (tập huấn-tham
quan, điều tra - đánh giá XĐGN, hệ thống sổ sách
theo dõi hộ nghèo, kinh phí hoạt động BCĐ)
371 10.680
II. Các dự án lồng ghép hỗ trợ xđgn
1 Cơ sở hạ tầng cho 138 xã ĐBKK và biên giới
(CT135, dự án WB, CT186)
111.490
Đầu tư của Tỉnh cho 20 xã nghèo ngoài CT135 2.000
2 Qui hoạch sắp xếp ổn định dân cư 11.728
3 Hỗ trợ phát triển ngành nghề nông thôn (cấp phát
vật tư nông nghiệp, cây con giống)
5.613
4 Hỗ trợ sản xuất và đời sống (vay cứu đói, hỗ trợ hộ
ĐBDT ĐBKK)
6.810
Ngu ồn : Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN và Việc
làm 3 năm 2001-2003 (20/5/2003) và Đề án XĐGN 5 năm (2001-2005) của tỉnh Lào Cai
Tăng năng suất lương thực
Từ năm 1999 đến nay, nhờ trồng giống lúa mới (lúa lai) và giống ngô mới kết hợp với tăng
cường sử dụng phân bón, năng suất đã tăng lên đáng kể, giúp cải thiện an ninh lương thực cho
người nghèo. Kết quả khảo sát trong đợt PPA lần này cho thấy trong 3-4 năm qua năng suất lúa
ngô đã tăng bình quân 30-50%, có nơi tăng gấp đôi. Trong bối cảnhh diện tích canh tác tăng
không đáng kể, việc tăng năng suất lương thực đã cơ bản giải quyết được tình trạng đói ngay
cả vùng sâu vùng xa thuộc huyện Mường Khương (như Pha Long và Tả Gia Khâu). Đa số bà
con đã có lương thực để đến vụ sau. Lương thực có dư nên chăn nuôi lợn gà phát triển. Ngô
hàng hoá (bán cho tư thương dưới xuôi lên thu mua hoặc bán sang Trung quốc, có lẽ chủ yếu
để làm thức ăn chăn nuôi lợn) đã trở thành nguồn thu tiền mặt chủ yếu của đa số đồng bào dân
tộc vùng cao. Điều đáng mừng là ngô đang được giá (1500-1700 đ/kg) và thị trường tiêu thụ
thuận lợi, chưa thấy có biến động gì lớn.
Bà con tích cực dùng giống mới còn vì giống mới được trợ giá thông qua hệ thống vật tư nông
nghiệp nhà nước nên giá thấp hơn giá thị trường từ vài nghìn - ở xã Bản Cầm, đến chục
6
DỰ THẢO - BÁO CÁO PPA LÀO CAI 2003
nghìn/kg - ở xã Tả Gia Khâu (từ 2001 tỉnh Lào cai trợ giá 30% giá giống mới cho bà con khu
vực 3, dự kiến sẽ giảm dần và chấm dứt sau 3 năm). Phân bón ở vùng cao được trợ cước, có
đợt được chương trình ĐCĐC cấp không. Ở vùng cao người dân còn được vay phân theo thoả
thuận giữa ngân hàng nông nghiệp và trạm vật tư nông nghiệp ("mọi người đăng ký vay phân
qua trưởng thôn, trưởng thôn lấy xác nhận của xã rồi đưa ngân hàng, ngân hàng duyệt rồi đưa
qua trạm vật tư nông nghiệp, cả thôn đến trạm vật tư lĩnh phân về, sau 6 tháng trả gốc cộng lãi
suất ưu đãi 0.21%" - xã Tả Gia Khâu). Hiện nay trạm vật tư cụm xã Pha long tiêu thụ vài trăm
tấn phân/năm, tất cả đều được trợ giá (thời 1999 tiêu thụ phân không đáng kể).
Trường hợp xã Pha Long - huyện Mường Khương:
Tăng năng suất nông nghiệp và mở rộng tín dụng
1999-2000 2003
Năng suất
Ngô 20 tạ/ha 28 tạ/ha
Lúa nước 32 tạ/ha 40 tạ/ha
Đậu tương 5,5 tạ/ha 7 tạ/ha
Tỷ lệ sử dụng giống mới
Giống ngô Quần Cải 70% > 95%
Giống lúa mới 50% > 95%
Diện tích đất nông nghiệp 587 ha 602 ha
Lúa nước 102 ha 107 ha
Ngô và đậu tương 445 ha 450 ha
Bình quân lương thực 280 kg/người.năm 345 kg/người.năm
Vay vốn
Dư nợ 160 triệu đồng 900 triệu đồng
Số hộ vay n/a 385 (trong tổng số 467 hộ)
Số lượng gia súc
Bò 182 con 287 con
Trâu 578 con 607 con
Ngựa 69 con 64 con
Lợn 1513 con 1888 con
Nguồn: thảo luận nhóm lãnh đạo xã Pha Long, 7/2003
Mở rộng tín dụng
Tỉnh Lào Cai đã tìm nhiều cách để tăng cường cho người dân vay vốn, như cấp bù lãi suất (lãi
suất cho vay người nghèo vùng 3 của Ngân hàng chính sách xã hội 0.4-0.45% được tỉnh cấp
bù một nửa, chỉ còn 0.21%), nâng hạn mức vay không cần thế chấp lên 7-10 triệu đồng, thời
hạn vay được kéo dài 3-5 năm đủ thời gian cho gia súc sinh sản, mở rộng vốn vay ưu đãi cho
cả các hộ cận nghèo Tại các thôn khảo sát, lượng vốn vay đã tăng nhiều so với năm 1999, đa
số người nghèo đã vay vốn bình quân 2-5 triệu đồng. Nguồn tín dụng ưu đãi chủ yếu được bà
con mua trâu bò (bà con vùng cao trước đây nuôi nhiều ngựa nhưng khi đường xá tốt lên bà
con giảm nuôi ngựa, vì: ngựa chỉ để thồ không cày được, tốn công nuôi vì không chăn thả
được, lại hay bị ốm do lạnh). Sở hữu trâu bò là một khía cạnh quan trọng của kinh tế hộ
gia đình ở vùng cao, rất có hiệu quả đối với công tác giảm nghèo tại Lào Cai :
• có trâu bò là chủ động được sức kéo, không phải đi đổi công mượn trâu bò để cày bừa,
tránh lỡ thời vụ.
• có nguồn phân để bón ruộng nương (ở vùng cao phân trâu bò phơi khô rất quí)
• nuôi trâu bò là một cách tiết kiệm có lãi (bò mẹ đẻ bò con).
Còn một số hộ chưa vay vốn - chiếm khoảng 30% - cho biết họ không có nhu cầu vay hoặc
không dám vay vì sợ không trả nổi lãi và gốc; một số ít hộ quá nghèo (đói) không được trưởng
thôn bảo lãnh. Mặc dù vậy hầu hết các hộ gia đình đều có vay phân bón (vài trăm ngàn
7
DỰ THẢO - BÁO CÁO PPA LÀO CAI 2003
đồng/vụ) từ các đại lý tư nhân (ở vùng trung du) hoặc trạm vật tư cuả công ty nhà nước (ở
vùng cao) để sản xuất nông nghiệp.

Trường hợp hộ thoát nghèo: Sùng Vần Chẩn (24 tuổi) & Giàng Seo Mỷ (25 tuổi)
Thôn Xín Chải, xã Pha Long, huyện Mường Khương
Trường hợp hộ anh Chẩn, chị Mỷ được nêu trong báo cáo PPA năm 1999. Gia đình hiện có 5
người, gồm ông bố bị bệnh tâm thần, anh Chẩn, chị Mỷ, con gái lớn 5 tuổi, con trai thứ hai gần
3 tuổi. Đợt PPA năm 1999, anh chị được xếp vào loại hộ nghèo nhất, khi đó nhà còn thiếu ăn.
Đợt đánh giá năm nay, hộ không được xếp vào loại nghèo nữa do đã đủ ăn, dùng giống mới
mỗi năm cũng thu được 40 bao thóc và 80 địu ngô.
Năm 2000 anh chị vay vốn ngân hàng người nghèo mua bò, để kéo cày, làm ruộng kịp thời vụ.
Năm 2002 anh chị bán bò con để trả vốn, bán bò mẹ để lấy tiền mua gỗ làm nhà. Trước đây cả
nhà ở trong một túp lều tạm, một gian, mái lá, nay đã làm được nhà tường trình, khung gỗ, mái
lợp fibrô-ximăng 4 gian. Ngoài tấm lợp của nhà nước cấp, anh chị chi phí làm nhà hết khoảng 8
triệu đồng. Anh chị còn nợ anh em 80 lít rượu, đậu tương hạt 40 kg, tiền mặt 600.000 đồng chi
phí làm nhà, dự tính sau vụ ngô năm nay sẽ trả hết.
Hiện nay khó khăn nhất của gia đình là thiếu trâu bò để cày. Anh Chẩn rất muốn được vay tiếp
nhưng hiện nay không còn là hộ nghèo theo phân loại của nhà nước nên không được vay với
lãi suất ưu đãi 0,21%. Nếu muốn vay, sẽ phải chịu lãi 0,7% tháng, mà như vậy thì "không làm
đủ lãi để trả, vì bây giờ muốn mua trâu bò phải vay lớn, 4 triệu đồng, hàng tháng không làm gì
đã phải có 28.000 đ để trả lãi thì nhà em không làm gì ra được thế ".
Cải thiện cơ sở hạ tầng
Lào cai có 138 xã (trong tổng số 180 xã phường) thuộc loại đặc biệt khó khăn được đầu tư theo
Chương trình 135 (trong đó 11 xã biên giới còn được đầu tư bổ sung theo chương trình riêng
của Chính phủ). Một lượng lớn vốn đầu tư từ các nguồn đã được đổ vào các xã ĐBKK. Theo
báo cáo của UBND Tỉnh, trong 2 năm 2001-2002 đã đầu tư trên 110 tỷ đồng cho cơ sở hạ tầng
tại 138 xã này. Ưu tiên đầu tư thời gian qua tại các điểm khảo sát là kênh mương thuỷ lợi,
đường giao thông, trường học và nước sạch - tương đối phù hợp với nhu cầu của bà con. Nhìn
chung, khi thảo luận với cán bộ cơ sở và người dân đều cho rằng các công trình hạ tầng đã
cải thiện đời sống dân sinh của bà con rất nhiều: đường xá đi lại tốt hơn, kênh mương kiên
cố hoá làm lúa tốt hơn, trường học tốt hơn và gần nhà trẻ em đi học đỡ vất vả hơn, đỡ khó khăn
về nước sạch
Một trong những tác động quan trọng của đường giao thông là giúp cải thiện việc tiếp cận thị
trường đối với đầu vào (phân, giống, thức ăn gia súc) và đầu ra (ngô, lợn, gà, đậu tương) của
sản xuất nông nghiệp của đồng bào dân tộc vùng cao - với tập quán chỉ sử dụng tiền mặt chủ
yếu trong các phiên chợ. Như một cán bộ xã Pha Long nhận xét " các thôn xa (như thôn Xín
Chải) chưa phát triển mạnh lên được cũng là do đường giao thông chưa tốt, bà con chưa ai
biết buôn bán, tư thương cũng chưa ai đến đó được ". Người dân ở thôn Nậm Tang (xã Bản
Cầm) - thôn vùng sâu ở xã vùng thấp, cũng có nhận xét tương tự về tình trạng của thôn mình.
Mạng lưới kinh doanh theo phiên chợ hàng tuần
xã Pha Long - huyện Mường Khương
Tại xã vùng cao Pha long, mấy năm gần đây khi đường xá tốt dần lên đã làm cho mạng lưới
thương mại theo phiên chợ hàng tuần giữa chợ cửa khẩu bên Trung quốc (Lao Kha) với chợ
trung tâm cụm xã Pha long, chợ thị trấn Mường Khương, và chợ của các xã xung quanh, trở
nên nhộn nhịp hơn. Mạng lưới này tạo việc làm và thu nhập đáng kể cho gần 100 hộ đồng bào
dân tộc (đa phần là phụ nữ) sống ở các thôn ngay gần trung tâm xã Pha Long chuyên đi các
chợ phiên trong tuần thu mua nông sản của bà con - nhất là ngô và gà (để bán cho tư thương
từ dưới xuôi lên) và bán các đồ dùng thiết yếu cho bà con tại phiên chợ.
8

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét