Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
# Thứ hai là giai đoạn thực hiện đầu tư:
- Xin giao đất hoặc thuê đất theo quy định của Nhà nước (bao gồm cả
mặt nước. mặt biển).
- Tổ chức đền bù, giải phóng mặt bằng; chuẩn bị mặt bằng xây dựng.
- Tổ chức tuyển chọn tư vấn khảo sát, thiết kế, giám định kĩ thuật và
chất lượng công trình.
- Thẩm định thiết kế, tổng dự toán công trình.
- Tổ chức đấu thầu mua sắm thiết bị, thi công xây lắp.
- Xin giấy phép xây dựng công trình (nếu quy định phải có) và giấy
phép khai thác tài nguyên (nếu có).
- Ký kết hợp đồng với nhà thầu để thực hiện dự án.
- Thi công xây lắp công trình.
- Theo dõi kiểm tra việc thực hiện các hoạt động.
- Quyết toán vốn đầu tư xây dựng sau khi hoàn thành xây lắp đưa dự án
vào khai thác, sử dụng.
* Giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa dự án vào khai thác sử dụng:
-Bàn giao công trình.
-Kết thúc xây dựng.
-Bảo hành công trình.
-Vận hành dự án.
Chúng ta cũng cần phải có sự phân biệt các giai đoạn tiến hành đầu tư
theo các dự án trên đây với khái niệm chu trình (hay vòng đời) của dự án. Chu
trình dự án bắt đầu từ khi chúng ta nghiên cứu cơ hội đầu tư (nhận dạng dự án)
và kéo dài cho đến lúc kết thúc việc vận hành dự án, tiến hành đánh giá sau dự
án.
2. Thẩm định dự án đầu tư (TĐDADT).
a/ Khái niệm: Thẩm định DAĐT là xem xét một cách khách quan khoa
học, toàn diện một dự án đầu tư để cấp giấy phép đầu tư, ra quyết định đầu tư,
quyết định tài trợ.
Thực chất của công tác TĐDAĐT là nhằm phân tích làm sáng tỏ một
loạt các vấn đề có liên quan tới tính khả thi trong từng quá trình thực hiện dự
án: thị trường, công nghệ, kỹ thuật, khả năng tài chính, quản lý thực hiện dự
án từ đó tính toán kết quả mà dự án có thể mang lại cho chủ đầu tư, cho xã
hội để ra quyết định đúng đắn.
Nguyễn Duyên Ngọc Lớp TCDN 16C
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
Trên thực tế, TĐDAĐT chính là việc kiểm tra, phân tích, đánh giá về
từng phần và toàn bộ các mặt trong mối liên hệ mật thiết với các thông tin có
thể có và các giả thiết về môi trường trong đó dự án sẽ hoạt động.
b/ Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thẩm định DAĐT.
Bất cứ một DAĐT nào trước khi bước vào giai đoạn thực hiện đầu tư,
thậm chí ngay cả khi đang được đầu tư hay đang vận hành đếu được thẩm
định không chỉ bởi một mà là nhiều cơ quan tổ chức khác nhau. Tuỳ theo
chức năng vị trí của mình mà mỗi cơ quan tổ chức có những quan điểm và
mục tiêu thẩm định không giống nhau.
Một cách chung nhất chúng ta có ba nhóm khác nhau trực tiếp tiến
hành thẩm định các DAĐT, đó là : các nhà đầu tư, các cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền quyết định đầu tư và các nhà tài trợ.
Các nhà đầu tư (hay các chủ đầu tư) là những người trước hết tiến hành
cuộc thẩm định DAĐT. Bên cạnh nhiều mục tiêu đặc biệt khác, các nhà đầu tư
có một mục tiêu chủ yếu là làm sao để có được một lợi ích tài chính (thu nhập
bằng tiền) thích đáng và tối đa cho dự án đầu tư của họ. Vì vậy, độ lớn và tính
chắc chắn của các luồng thu nhập tài chính trong tương lai luôn là mối quan
tâm hàng đầu của họ, nó xuyên suốt quá trình thẩm định cũng như quá trình
thực hiện và khai thác DAĐT.
Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định đầu tư: là người đại
diện cho lợi ích của toàn thể mọi người, toàn xã hội nên phải đứng trên quan
điểm tổng thể để xem xét các DAĐT. Không chỉ là chi phí và lợi ích thuần tuý
vật chất, cũng không phải chỉ là một hay một nhóm người mà phải là lợi ích
đạt được và chi phí phải bỏ ra đối với toàn xã hội khi DAĐT được thực hiện,
phải được cân nhác xem xét trong quá trình thẩm định. Các cơ quan này phải
luôn quan tâm tới những đóng góp của dự án cho nền kinh tế, cho xã hội
trong sự so sánh với những thứ mà dự án lấy đi của xã hội. Một tập hợp các
chỉ tiêu phải xem xét, tính toán như là: mức độ tạo công ăn việc làm, cải thiện
đời sống nhân dân, tăng thu ngân sách Nhà nước, thúc đẩy các ngành khác
phát triển những tác động tới môi trường, việc sử dụng tài nguyên thiên
nhiên và con người
Các nhà tài trợ (như các thể chế tài chính, NSNN, các tổ chức, các cá
nhân khác ) khi quyết định tài trợ bao nhiêu, cho ai và tài trợ như thế nào
đều phải cân nhắc xem liệu DAĐT đó có đáp ứng được mục tiêu mong muốn
Nguyễn Duyên Ngọc Lớp TCDN 16C
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
của họ hay không. Cho dù đó là mục tiêu lợi nhuận, kinh tế chính trị hay mục
tiêu xã hội, nhân đạo một quyết định đúng đắn và một kết quả mong đợi
luôn phụ thuộc phần lớn vào việc thẩm định các DAĐT.
c/ Các mặt thẩm định chủ yếu:
*Pháp lý: Việc thẩm định mặt pháp lí nhằm đảm bảo việc tuân thủ luật
pháp của chủ dự án và các hoạt động của dự án, tránh việc xâm phạm những
quy định, luật lệ do nhà nước ban hành cũng như việc đi ngược lại các định
hướng phát triển kinh tế xã hội của nhà nước. Một dự án không chứng minh
được một cách đầy đủ tính hợp lí hợp lệ của nó chắc chắn sẽ bị loại bỏ.
*Thị trường: Xem xét kiểm tra sự chính xác của những dự tính về khả
năng tiêu thụ sản phẩm; tìm hiểu, đánh giá hiện trạng và xu hướng của cung
cầu sản phẩm trên thị trường; mức độ cạnh tranh về giá, chất lượng; chiến
lược tiêu thụ sản phẩm của dự án, các kế hoạch hỗ trợ và dự phòng v.v. Đây
là một mặt thẩm định cơ bản quyết định tới qui mô đầu tư, trang thiết bị máy
móc, cơ cấu tổ chức.
*Kỹ thuật công nghệ: Xem xét tính khả thi về mặt thiết bị công nghệ,
liệu công nghệ, giải pháp kỹ thuật, địa điểm xây dựng như vậy là có phù hợp
không; các biện pháp kiểm soát chất thải gây ô nhiễm đã đáp ứng được yêu
cầu chưa,
*Tổ chức quản lý: số lượng chất lượng lao động liệu có đáp ứng yêu
cầu vận hành dự án có hiệu quả, đặc biệt là cơ quan quản lý và kỹ thuật, việc
thiết lập hệ thống phòng ban phân xưởng có hợp lý không,
*Tài chính: Thẩm định tài chính phải xem xét các kế hoạch tài chính
(gắn với các kế hoạch đầu tư và sản xuất); đánh giá được hiệu quả tài chính
và các rủi ro có thể có đi liền với nó.
*Kinh tế - xã hội: Đây là khía cạnh mà các cơ quan quản lý Nhà nước
rất quan tâm. Thẩm định KT- XH giống như thẩm định khía cạnh tài chính,
việc ra quyết định chủ yếu dựa trên sự cân nhắc, so sánh giữa thu nhập và chi
phí của dự án. Nhưng một khác biệt rất cơ bản là thẩm định KT-XH phải đứng
trên phương diện xã hội chứ không phải cá nhân chủ đầu tư để tính toán các
mức chi phí hay thu nhập. Vì vậy các mức tính giá thị trường vốn là nền tảng
cho các phân tích tài chính, có thể phải thay đổi, thuế trợ cấp cũng phải điều
chỉnh, cũng như phải tính tới các tác động ảnh hưởng (tích cực hoặc tiêu cực)
Nguyễn Duyên Ngọc Lớp TCDN 16C
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
của dự án đối với các đối tượng khác trong nền KT-XH… nhằm thể hiện đầy
đủ chi phí và thu nhập mà xã hội phải chi trả và nhận được từ dự án.
Sự phân chia các mặt thẩm định ở đây với mục đích là làm cho nhận
thức của chúng ta được toàn diện hơn. Tuy nhiên, đây chỉ là sự phân chia
tương đối và trên thực tế cũng không hề có sự thống nhất trong việc chia tách
các nội dụng cụ thể vào các mặt thẩm định khác nhau. Hơn thế nữa, giữa các
nội dụng các mặt thẩm định luôn tồn tại một mối quan hệ mật thiết quyết định
lẫn nhau. Các cán bộ thẩm định không thể chỉ xem xét một hoặc một số mặt
một cách phiến diện. Cho dù là chủ đầu tư, cơ quan nhà nước, hay nhà tài trợ
thì họ đều phải xem xét toàn diện mọi khía cạnh của dự án và sự khác nhau
chỉ là ở chỗ họ đặt trọng tâm vào đâu mà thôi.
II/ THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1. Quy trình thẩm định tài chính dự án của Ngân hàng thương mại.
Trước khi phê duyệt và cấp các khoản vay, cán bộ tín dụng cần phải
thẩm định kỹ càng về bộ hồ sơ vay vốn mà khách hàng gửi đến theo các
trình tự sau:
1.1. Thẩm định tư cách pháp lý
Thẩm định tư cách pháp lý của khách hàng vay vốn là việc xem xét
năng lực pháp luật và năng lực hành vi của họ. Mục đích và nội dung của
việc thẩm định này nhằm khẳng định điều kiện thứ nhất được quy định tại
điều 7 (điều kiện vay vốn) là: "khách hàng vay vốn phải có năng lực pháp
luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy
định của pháp luật. Để tiến hành thẩm định tư cách pháp lý của khách hàng,
Ngân hàng lần lượt xem xét các giấy tờ sau:
+ Quyết định thành lập hoặc giấy phép thành lập
+ Đăng ký kinh doanh
+ Điều lệ
Cấp có thẩm quyền nào quyết định thành lập thì cấp đó phê duyệt điều lệ.
+ Quyết định bổ nhiệm tổng giám đốc, giám đốc
+ Quyết định bổ nhiệm kế toán trưởng
+ Biên bản giao vốn, biên bản góp vốn
Kết thúc bước thẩm định này, cán bộ thẩm định phải rút ta được nhận
xét về tư cách pháp lý và người đại diện hợp pháp của khách hàng. Sau đó
cán bộ tín dụng tiếp tục xét đến khả năng tài chính của khách hàng.
Nguyễn Duyên Ngọc Lớp TCDN 16C
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
1.2. Thẩm định khả năng tài chính của khách hàng.
Xác định khả năng tài chính của khách hàng là một khâu quan trọng
trong quy trình thẩm định liên quan trực tiếp đến khả năng thu hồi vốn đầu
tư sau này. Vì vậy ngoài việc thẩm định khả năng trả nợ của chính dự án,
phương án vay vốn, cán bộ thẩm định còn phải xem xét khả năng tài chính
của khách hàng ở thời gian trước và vào thời điểm đề nghị vay vốn.
Để thực hiện được bước này, cán bộ tín dụng cần phải dựa vào
những tài liệu sau:
- Báo cáo tài chính thời điểm gần nhất và 2 năm liền kề với thời điểm vay
vốn.
- Báo cáo hàng hoá tồn kho.
- Báo cáo tình hình tài chính của tổng công ty.
Cán bộ thẩm định có thể sử dụng nhiều phương pháp nhưng chủ yếu
là phương pháp so sánh về số tuyệt đối và chỉ số tương đối để đưa ra các
kết luận từng phần và toàn diện về khả năng tài chính của khách hàng nhằm
giúp cho việc quyết định cho vay hay không cho vay. Chỉ tiêu thường dùng
là xem xét nguồn vốn chủ sở hữu, hàng tồn kho doanh thu, phân tích các hệ
số tài chính
Kết thúc bước thẩm định này, cán bộ thẩm định phải nhận xét được
khả năng tài chính của khách hàng đến thời điểm vay vốn.
1.3. Thẩm định dự án đề nghị vay vốn lưu động.
1.3.1 Hồ sơ
Cán bộ thẩm định căn cứ vào bộ hồ sơ do khách hàng có nhu cầu vay
vốn gửi đến NH để phân tích và đưa ra nhận xét về nhu cầu vay vốn ngắn
hạn của khách hàng.
- Nhận xét tính hợp pháp, hợp lệ về kế hoạch sản xuất kinh doanh của
khách hàng nếu khách hàng xin duyệt hạn mức tín dụng cho cả năm
thì cơ sở để tính toán nhu cầu vốn vay là kế hoạch sản xuất kinh
doanh đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Nhận xét về các hợp đồng giữa khách hàng vay vốn với người cung
ứng nguyên, nhiên vật liệu
Nguyễn Duyên Ngọc Lớp TCDN 16C
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
1.3.2. Xác định khả năng thực hiện dự án, nhu cầu vốn vay và khả năng trả
nợ.
Qua thẩm định bộ hồ sơ và tình hình thực tế khách hàng, cán bộ
thẩm định đưa ra các nhận xét sau:
- Tính hợp pháp hay không hợp pháp của doanh nghiệp dựa trên cơ
sở năng lực sản xuất kinh doanh, công nghệ và công suất máy móc
thiết bị thực tế.
- Thực tế cung cấp nguyên, nhiên, vật liệu và các yếu tố đầu vào
- Thực tế tiêu thụ sản phẩm và các nhân tố ảnh hưởng
- Xác định vốn của khách hàng tham gia vào sản xuất kinh doanh
- Tính hợp lý của vòng quay vốn lưu động kỳ kế hoạch (so sánh với kỳ
trước).
- Xác định được tổng nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của khách
hàng từ đó xác định nhu cầu vốn vay.
Tuy nhiên cần phải so sánh nhu cầu vốn vay với tài sản làm đảm bảo
nợ vay và khả năng nguồn vốn của khách hàng để quyết định mức vay cho
phù hợp với quy định hiện hành của Ngân hàng.
Kết thúc bước thẩm định kỳ này, cán bộ tín dụng phải rút ra nhận xét
và đưa ra đề xuất đối với nhu cầu vay vốn của khách hàng. Trong phần
nhận xét, cán bộ thẩm định phải tóm tắt lại toàn bộ những nội dung chính
về nhu cầu vay vốn, các chính sách, chế độ của Nhà nước có liên quan.
Phần đề xuất nói rõ đồng ý hay không đồng ý cho vay, với mức cho vay,
thời hạn cho vay và biện pháp bảo đảm tiền vay cũng như các đề xuất có
liên quan.
1.4. Thẩm định tài sản làm đảm bảo nợ vay
Tài sản làm đảm bảo nợ vay được thực hiện theo quy định hiện hành
của các Ngân hàng. Hiện nay, việc thẩm định tài sản đảm bảo vẫn còn gặp
nhiều khó khăn cho cán bộ tín dụng và công tác này cần phải có biện pháp
khắc phục.
Trên đây là quy trình thẩm định hồ sơ vay vốn của khách hàng, thẩm
định là phần quan trọng nhất để giúp tổng giám đốc, các giám đốc đưa ra
quyết định đâù tư một cách chuẩn xác. Quá trình thẩm định đòi hỏi phải có
sự hiểu biết và vận dụng một cách toàn diện các kiến thức về kinh tế, xã
hội, chính trị của khu vực và thế giới. Tuỳ thuộc vào điều kiện thực tế ở
Nguyễn Duyên Ngọc Lớp TCDN 16C
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
từng địa phương, từng kế hoạch và dự án, khi trực tiếp thẩm định các dự án
cụ thể, các cán bộ tín dụng cần phải xem xét và vận dụng linh hoạt các nội
dung thẩm định nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
2. Nội dung thẩm định dự án của Ngân hàng thương mại.
2.1. Tài liệu dùng để xét duyệt
Trước hết là các thông tin được thu thập từ các nguồn khác nhau. Có
thể là dựa vào giấy đề nghị vay vốn, kế hoạch kinh doanh Bên cạnh đó,
để tiến hành vay tiền khách hàng phải gửi đến Ngân hàng hồ sơ vay vốn,
ngân hàng có thể dùng chính tài liệu đó để xét duyệt. Bộ hồ sơ bao gồm:
- Giấy đề nghị vay vốn: Khách hàng phải làm rõ một số nội dung
sau:
+ Tên khách hàng, địa chỉ, người đại diện, chứng minh thư, nơi cấp,
số tài khoản tiền gửi tại ngân hàng.
+ Quyết định thành lập hay đăng ký kinh doanh.
+ Mục đích vay vốn.
+ Nhu cầu vốn để thực hiện phương án.
+ Thời hạn vay tiền, lãi suất, nguồn trả.
+ Những biện pháp bảo đảm tiền vay.
+ Ngoài ra khách hàng có cam kết về việc sử dụng tiền vay.
- Những tài liệu về năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự.
+ Đối với pháp nhân là doanh nghiệp tư nhân: Phải có quyết định
thành lập, đăng ký kinh doanh hay giấy phép hành nghề (nếu có ), khách
hàng phải có giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu ( nếu có ). Nếu là công
ty thì phải có điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm của người điều hành
và kế toán trưởng.
+ Đối với hộ gia đình và cá nhân: Phải có giấy phép kinh doanh, hợp
đồng hợp tác (đối với những tổ hợp tác), chứng minh thư, hộ khẩu hoặc
giấy phép hành nghề (nếu có).
- Dự án hay phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng: Đối với
tất cả các trường hợp xin vay vốn thì kế hoạch kinh doanh nên do chính
người xin vay hoặc cố vấn của người xin viết.
- Các tài liệu báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh, dịch vụ đời
sống và khả năng tài chính của khách hàng như: Bảng tổng kết tài sản, tài
khoản lỗ lãi hoặc chi phí thu nhập Các tài liệu này giúp Ngân hàng đánh
giá được mục đích sử dụng tiền vay và khả năng tự bù đắp của khách hàng.
Nguyễn Duyên Ngọc Lớp TCDN 16C
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
- Tài liệu chứng minh về tính hợp pháp và giá trị các tài sản bảo đảm nợ
vay.
Ngoài ra cán bộ tín dụng còn căn cứ vào các văn bản pháp lý có liên quan
đến việc thẩm định hồ sơ vay vốn lưu động như là:
* Các luật đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
thông qua bao gồm:
- Bộ Luật dân sự có hiệu lực thi hành ngày 1/7/1996 quy định trách nhiệm
và nghĩ vụ của người vay vốn, bên bảo lãnh đối với ngân hàng.
- Luật các Tổ chức tín dụng được thông qua ngày 12/12/1997.
- Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam .
- Luật doanh nghiệp ngày 1/1/2000.
* Các văn bản dưới luật:
- Qui chế tín dụng của NHNN&PTNT đối với khách hàng kèm theo
quyết định số 60/99 QDHDQT 10/4/1999
- Pháp lệnh Hội đồng kinh tế do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ký ngày
25/9/1989 quy định về việc ký kết các hợp đồng kinh tế.
- Nghị định 165/1999/NĐ - Chính phủ ngày 19/11/1999 về giao dịch đảm
bảo do Chính phủ ban hành.
- Nghị định 278/ 2005 /NĐ - CP về đảm bảo tiền vay các tổ chức tín dụng
do Chính phủ ban hành ngày 29/12/2005.
- Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng với khách hàng
kèm theo Quyết định 284/2000/QĐ - NHNN1 ngày 25/8/2000
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Thông tư 06/2000/TT - NHNN1 ngày 4/4/2000 Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam hướng dẫn thực hiện Nghị định 178 của
Chính phủ về đảm bảo tiền vay đối với tổ chức tín dụng.
2.2. Nội dung thẩm định.
Cán bộ tín dụng khi nhận được bộ hồ sơ xin vay cần thẩm định tính
hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ vay vốn và điều quan trọng là phải thu thập
được những thông tin chính xác về khách hàng xin vay, xác định rõ nguồn
gốc về số liệu, về giá trị của tài sản và khả năng xử lý các tài sản làm đảm
bảo tiền vay. Để làm được điều đó cần phải xem xét chi tiết các vấn đề sau:
2.2.1. Giấy chứng nhận về tư cách pháp nhân hoặc thể nhân
Nguyễn Duyên Ngọc Lớp TCDN 16C
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
- Theo luật pháp quy định, một đơn vị hay cá nhân có tư cách pháp
nhân hoặc thể nhân mới có quyền ký kết hợp đồng kinh tế. Đối với hợp
đồng tín dụng cũng vậy, Ngân hàng chỉ cho vay đối với các đơn vị có đầy
đủ năng lực pháp lý và năng lực hành vi.
Biểu hiện cụ thể là:
- Đối với pháp nhân: Một đơn vị có đầy đủ tư cách pháp nhân phải
được cấp có thẩm quyền cấp đầy đủ các giấy tờ sau:
+ Giấy phép hoạt động
+ Đăng ký kinh doanh
+ Điều lệ hoạt động
+ Quyết định bổ nhiệm Tổng giám đốc, Giám đốc, Chủ nhiệm
+ Giấy phép hành nghề ( Nếu có).
Các giấy tờ trên phải phù hợp với quy đinh trong luật Doanh nghiệp
Nhà nước, luật Doanh nghiệp Tư nhân, luật Công ty, luật Hợp tác xã, luật
Đầu tư nước ngoài
Có như vậy Ngân hàng mới có cơ sở quyết định duyệt một dự án
vay.
- Đối với thể nhân: Phải có giấy CMND, giấy hôn thú, sổ hộ khẩu
2.2.2. Uy tín của người vay vốn
Đây là yếu tố quan trọng hơn cả trong toàn bộ mối quan hệ giữa
Ngân hàng Thương Mại với khách hàng. Bởi lẽ bản thân của từ " Tín dụng
" cũng như một trong những đặc trưng của tín dụng là sự tin tưởng và tín
nhiệm trong quan hệ vay mượn. Tuy nhiên, việc thẩm định uy tín của người
vay là hoàn toàn mang tính chủ quan nên rất khó đánh giá chính xác. Xong
có thể xem xét ở một vài khía cạnh khác nhau sau:
- Quá trình hoạt động: Về mặt này, đối với những khách hàng mới
quan hệ lần đầu thì hoàn toàn khó khăn đối với Ngân hàng trong việc đánh
giá uy tín của họ. Có làm được thì cũng tốn kém và mất thời gian. Tuy
nhiên đối với những khách quen, thường xuyên giao dịch, vay vốn của
Ngân hàng thì việc đánh giá uy tín của họ có thể thực hiện được. Uy tín của
họ được thể hiện ở việc thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ trả nợ, ở tình hình
sản xuất kinh doanh ổn định và ở khả năng tài chính lành mạnh
-Sự nhất quán: Thể hiện ở những gì khách hàng vay vốn trả lời
phỏng vấn hay những gì họ làm . Liệu những thông tin họ cung cấp trong
Nguyễn Duyên Ngọc Lớp TCDN 16C
Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Ngân Hàng Tài Chính-ĐHKTQD
cuộc phỏng vấn, những con số trên thực tế có trùng khớp với những thông
tin trong hồ sơ vay vốn và báo cáo tài chính không. Liệu họ có sẵn sàng và
thực tâm gánh trách nhiệm như đã cam kết trong giấy đề nghị vay vốn
không? Thái độ của họ có trung thực không?
- Khả năng: Khả năng của người vay vốn được thể hiện qua năng lực
quản lý và năng lực chuyên môn của người lãnh đạo, của chủ đơn vị. Khi
xem xét vấn đề này, ngân hàng có thể dựa trên một số điểm như:
+ Tổng giám đốc (hoặc đại diện pháp nhân, thể nhân) có trình độ tay
nghề liên quan đến hoạt động sản xuất của đơn vị hay không.
+ Kinh nghiệm của Giám đốc cũng như nhân viên trong lĩnh vực
kinh doanh đó, thị phần của công ty, khách hàng chính, địa điểm tiêu thụ.
+ Đại diện pháp và tập thể đơn vị phải có ý tưởng, mục đích, mục
tiêu kinh doanh rõ ràng và phải cam kết thực hiện được mục tiêu đó. Năng
lực quản lý và kinh doanh của người điều hành cần được biểu hiện ở việc
sử dụng hiệu quả các yếu tố đầu vào để tạo ra các sản phẩm dịch vụ với
chất lượng và khả năng thu lợi nhuận cao, biểu hiện ở những báo cáo tài
chính nhất quán, sự thành công vững chắc qua nhiều năm và việc phân
phối lợi nhuận một cách hợp lý.
Ngoài ra, để đánh giá uy tín của người vay vốn, ngân hàng còn dựa
vào mối quan hệ của họ với bạn hàng và với các tổ chức tín dụng khác.
Đảm bảo không có nợ quá hạn và không lợi dụng chiếm đoạt vốn của
người khác, hoạt động theo quy định của pháp luật và thực hiện đầy đủ
nghĩa vụ với nhà nước
2.2.3. Đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Tình hình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp tốt hay xấu, có
triển vọng phát triển hay không được thể hiện ở hai chỉ tiêu là doanh thu và
lợi nhuận. Chính vì vậy, khi đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh ngân
hàng cũng tiến hành phân tích hai chỉ tiêu này.
- Doanh thu : Là chỉ tiêu kinh tế cơ bản phản ánh chất lượng của quá
trình tiêu thụ hàng hoá.
Nhìn chung, doanh thu tăng là một biểu hiện tốt, phản ánh tình hình
tài chính của doanh nghiệp lành mạnh, có năng lực mở rộng sản xuất, có
điều kiện trả nợ ngân hàng. Tuy nhiên để đi đến quyết định cho vay ngân
hàng cần phải phân tích nguyên nhân dẫn đến việc tăng doanh thu bởi lẽ
Nguyễn Duyên Ngọc Lớp TCDN 16C
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét