ngoài phải liên hệ ngay với cơ quan Ngoại vụ cấp tỉnh hoặc thành phố trực thuộc
Trung ương để giải quyết theo hướng dẫn của các Bộ, ngành liên quan.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trao đổi thống nhất với Bộ
Giao thông vận tải về việc mở đường đi nhất định tại nơi nhân dân thường phải đi qua
đường sắt và phải làm cọc tiêu, biển báo hiệu trên đường bộ để hướng dẫn cho nhân
dân qua lại đường sắt.
Điều 15 Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khi lập quy hoạch xây dựng mới hoặc cải tạo
công trình có ảnh hưởng đến an toàn của các công trình giao thông đường sắt phải
được nhất trí bằng văn bản của Bộ Giao thông vận tải.
Chương 3:
ĐẢM BẢO AN TOÀN CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG ĐƯỜNG SẮT
Điều 16 Phạm vi bảo đảm an toàn công trình giao thông đường sắt bao gồm những
giới hạn trên mặt đất, dưới lòng đường, dưới mặt nước và trên không có liên quan đến
an toàn công trình và an toàn hoạt động giao thông đường sắt.
Điều 17 Phạm vi giới hạn bảo đảm an toàn của nền đường sắt là 5m kể từ chân nền
đường đối với nền đường đắp hay kẻ từ mép đỉnh đối với nền đường đào hoặc là 3m
kể từ chân rãnh dọc hay chân rãnh đỉnh của đường.
Đối với nền đường không đắp, không đào là 5,6m tính từ mép ngoài của ray ngoài
cùng trở ra.
Điều 18 Phạm vi giới hạn bảo đảm an toàn trên không của đường sắt là 7,5m kể từ
đỉnh ray trở lên theo phương thẳng đứng.
Điều 19 Phạm vi giới hạn bảo đảm an toàn của cầu đường sắt quy định như sau:
1. Theo chiều dọc nền đường sắt kể từ cột tín hiệu phòng vệ ở phía bên này cầu đến
cột tín hiệu phòng vệ phía bên kia cầu;
Cầu không có cột tín hiệu phòng vệ thì tính từ đuôi mố cầu ra mỗi bên 50m.
2. Theo chiều ngang cầu: Phạm vi tiếp giáp với cầu kể từ điểm ngoài cùng của kết cấu
cầu trở ra mỗi phía:
- Đối với cầu vượt trong thành phố tính từ mép lan can ngoài cùng trở ra mỗi bên là
5m.
- Đối với cầu loại nhỏ dài dưới 20m là 20m;
- Đối với cầu loại vừa dài từ 20m đến dưới 60m là 50m;
-
Đối với cầu loại lớn dài từ 60m đến 300m là 100m;
- Đối với cầu loại lớn dài trên 300m là 150m.
Điều 20 Phạm vi giới hạn bảo đảm an toàn của hầm đường sắt là vùng đất, đá,
khoảng không có khoảng cách từ điểm ngoài cùng của các bộ phận cấu tạo của hầm
trở ra là 50m.
Điều 21.
1. Phạm vi giới hạn bảo đảm an toàn của cột điện thoại, điện báo, tín hiệu của đường
sắt là 3,5m xung quanh cột kể từ tim cột trở ra.
2. Phạm vi giới hạn bảo đảm an toàn của đường dây điện thoại, điện báo, tín hiệu của
đường sắt là 2,5m kể từ đường dây ngoài cùng trở ra theo chiều ngang và chiều đứng.
3. Khoảng cách an toàn giữa các đường dây thông tin, tín hiệu của đường sắt với các
đường dây điện lực và đường dây thông tin khác phải theo đúng các tiêu chuNn kỹ
thuật Nhà nước hiện hành.
Điều 22 Phạm vi giới hạn bảo đảm an toàn của khu ga bao gồm toàn bộ vùng đất
(mặt đất, dưới lòng đất, trên không) phía trong tường rào ga hoặc mốc chỉ giới và từ
cột tín hiệu vào ga phía bên này đến cột tín hiệu vào ga phía bên kia.
Điều 23 Diện tích đất trong phạm vi giới hạn bảo đảm an toàn công trình giao thông
đường sắt chỉ được phép trồng loại cây ngắn ngày, thân thấp và phải trồng cách mép
chân nền đường đắp ít nhất 2m, cách mép đỉnh mái đường đào ít nhất 5m hoặc 3m
tính từ mép ngoài rãnh dọc của đường hoặc rãnh đỉnh trở ra.
Điều 24
1. Việc cắm mốc chỉ giới phạm vi giới hạn bảo đảm an toàn công trình giao thông
đường sắt phải tuân theo những quy định tại Nghị định này.
2. Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương có đường sắt đi qua chỉ đạo việc cắm mốc chỉ giới phạm vi giới
hạn bảo đảm an toàn công trình giao thông đường sắt.
Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm quản lý phạm vi giới hạn bảo đảm an toàn
công trình giao thông đường sắt.
3. Bộ Giao thông vận tải quy định cụ thể phạm vi giới hạn bảo đảm an toàn đường
ngang, giới hạn giữa nền đường sắt và nền đường bộ ở những đoạn đường đi song
song gần nhau.
Điều 25 Đơn vị quản lý công trình giao thông đường sắt có trách nhiệm:
1. Bảo đảm trạng thái an toàn kỹ thuật và tiêu chuNn kỹ thuật của công trình, bảo đảm
đầy đủ hệ thống tín hiệu, biển hiệu, mốc hiệu theo quy định;
2. Thực hiện các biện pháp xử lý kịp thời, ngăn ngừa tai nạn khi phát hiện hoặc nhận
được tin báo công trình giao thông đường sắt có hư hỏng hoặc có nguy cơ không bảo
đảm an toàn chạy tàu;
3. Thường xuyên kiểm tra và thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn giao thông trên
đoạn đèo dốc nguy hiểm, đoạn đường thường có đá lở, đất sụt, nước ngập (đặc biệt
trong mùa mưa bão, lũ lụt).
Đơn vị quản lý công trình giao thông đường sắt phải chịu trách nhiệm nếu do thiếu
tinh thần trách nhiệm hoặc không bảo đảm chất lượng công trình để xảy ra tai nạn
giao thông đường sắt.
Điều 26
1. Việc thi công, sửa chữa công trình giao thông đường sắt phải được phép của cơ
quan quản lý đường sắt có thNm quyền và chỉ được tiến hành thi công, sửa chữa khi
đã thực hiện đầy đủ các biện pháp bảo đảm an toàn giao thông.
2. Sau khi thi công, sửa chữa xong, công trình phải được cơ quan cấp phép nghiệm
thu. Mọi vật liệu, máy móc, thiết bị và tín hiệu phòng vệ phải được thu dọn.
Điều 27 Người phát hiện công trình giao thông đường sắt có trở ngại uy hiếp trực
tiếp đến an toàn chạy tàu có trách nhiệm tìm mọi biện pháp cấp báo ra hiệu cho tàu
dừng lại hoặc tìm cách báo cho nhân viên đường sắt, lực lượng công an, cơ quan Nhà
nước nơi gần nhất để có biện pháp xử lý kịp thời.
Điều 28 Việc xây dựng công trình, sử dụng và khai thác khoảng không, vùng đất,
vùng nước ngoài phạm vi giới hạn bảo đảm an toàn công trình giao thông đường sắt
phải bảo đảm tuyệt đối an toàn cho hoạt động giao thông vận tải đường sắt. Cơ quan
quản lý đường sắt có trách nhiệm kiểm tra, phát hiện, yêu cầu khắc phục ngay những
việc làm gây nguy hiểm đến trật tự, an toàn giao thông đường sắt.
Điều 29
1. Nhà làm bằng vật liệu dễ cháy phải cách chân đường sắt ít nhất 20m;
2. Lò vôi, lò gốm, lò gạch, lò nấu gang, thép, xi măng, thuỷ tinh phải đặt cách chân
nền đường sắt ít nhất 25m;
3. Các kho chứa chất độc, chất nổ, chất dễ cháy, chất dễ nổ phải làm cách xa nền
đường sắt theo quy định của pháp luật;
4. Cách cột điện, cột điện thoại thi công sau ngày ban hành Nghị định này phải đặt
cách mép vai đường sắt một khoảng cách lớn hơn chiều cao của cột. Đường dây tải
điện phía trên đường sắt phải có lưới bảo hiểm nhằm bảo đảm an toàn khi bị đứt dây
chuyển tải điện.
Điều 30 Các công việc sau đây làm ảnh hưởng đến an toàn công trình giao thông
đường sắt phải được cơ quan quản lý đường sắt có thNm quyền cho phép trước khi thi
hành:
1. Khoan, đào, xẻ nền đường sắt;
2. Đặt đường ống cấp nước, thoát nước, đường ống dẫn dầu khí; đặt cáp dẫn điện, cáp
thông tin, thiết bị chiếu sáng trong phạm vi giới hạn bảo đảm an toàn công trình giao
thông đường sắt.
Điều 31 Tổ chức, cá nhân có nhu cầu mở đường ngang, làm cầu vượt, cầu chui qua
đường sắt phải được Bộ Giao thông vận tải cho phép và chịu toàn bộ kinh phí đầu tư
xây dựng, quản lý, duy tu, sửa chữa; phải đặt đầy đủ thiết bị hướng dẫn giao thông và
bảo đảm trật tự, an toàn giao thông tại vị trí đó.
Điều 32 Việc xây dựng công trình quy định tại Điều 30, Điều 31 của Nghị định này
phải theo đúng giấy phép đã được cấp và sau khi hoàn thành công trình phải được cơ
quan cấp giấy phép nghiệm thu, chấp thuận.
Điều 33 Nghiêm cấm các hành vi làm ảnh hưởng đến an toàn công trình giao thông
đường sắt như:
1. Phá huỷ, tháo dỡ, trộm cắp, làm hư hỏng cấu kiện, phụ kiện, trang bị, thiết bị
phương tiện, thiết bị thông tin tín hiệu, vật tư đường sắt;
2. Xây dựng công trình, làm nhà, lều quán, biển quảng cáo hoặc những vật khác trong
phạm vi giới hạn bảo đảm an toàn công trình giao thông đường sắt; đào bới, lấy đất đá
trong khu vực nền đường sắt.
3. Thải nước và các chất độc hại vào đường sắt.
Chương 4:
NHÂN VIÊN ĐƯỜNG SẮT VÀ PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG SẮT
Điều 34
1. Nhân viên đường sắt phải được đào tạo, kiểm tra, sát hạch, cấp bằng, giấy phép lái
máy hoặc chứng chỉ chuyên môn nghiệp vụ theo tiêu chuNn quy định của Bộ Giao
thông vận tải.
2. Nhân viên đường sắt làm nhiệm vụ có liên quan đến chạy tàu phải chấp hành đầy
đủ các quy định của pháp luật về giao thông đường sắt và chịu trách nhiệm cá nhân về
bảo đảm chạy tàu an toàn trong phạm vi công việc được giao.
3. Thủ trưởng đơn vị các cấp trong ngành đường sắt tuỳ theo chức năng, nhiệm vụ
được quy định phải chịu trách nhiệm liên đới về việc chấp hành pháp luật giao thông
đường sắt của nhân viên thuộc quyền quản lý.
Điều 35 Cấm nhân viên đường sắt khi làm nhiệm vụ:
1. Trong tình trạng không đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ được giao;
2. Trong máu có độ rượu, bia vượt quá 50mg/100ml máu hoặc 0,25 mg/1 lít khí thở
hoặc sử dụng các chất kích thích khác;
3. Không có giấy phép, bằng, chứng chỉ chuyên môn tương ứng với nhiệm vụ được
giao.
Điều 36 Trường kỹ thuật nghiệp vụ đào tạo nhân viên đường sắt phải đủ điều kiện
vật chất kỹ thuật và đội ngũ giáo viên có nghiệp vụ theo đúng quy định của Bộ Giao
thông vận tải.
Điều 37
1. Phương tiện giao thông đường sắt (trừ goòng thủ công) hoạt động trên đường sắt
phải có ký hiệu, số hiệu và các tiêu chuNn kỹ thuật quy định. Ngoài tiêu chuNn trên,
đầu máy và phương tiện tự chạy trên đường sắt còn phải có còi, đèn chiếu sáng.
Nghiêm cấm người không có trách nhiệm đưa các phương tiện tự tạo lên đường sắt.
2. Phương tiện giao thông đường sắt phải được bảo dưỡng, kiểm định kỹ thuật định
kỳ theo quy định.
Điều 38 Thủ trưởng các đơn vị quản lý, chế tạo, sửa chữa, bảo dưỡng, kiểm định, sử
dụng phương tiện giao thông đường sắt theo chức năng nhiệm vụ được giao có trách
nhiệm bảo đảm trạng thái an toàn kỹ thuật và tiêu chuNn kỹ thuật của phương tiện; có
biện pháp xử lý kịp thời khi phương tiện giao thông đường sắt có hư hỏng không bảo
đảm an toàn chạy tàu.
Nghiêm cấm đưa các phương tiện không bảo đảm trạng thái an toàn kỹ thuật và tiêu
chuNn kỹ thuật vào sử dụng trên mạng lưới đường sắt quốc gia. Thủ trưởng các đơn vị
nói trên phải chịu trách nhiệm nếu để xảy ra tai nạn giao thông đường sắt do chất
lượng phương tiện không bảo đảm.
Chương 5:
QUY TẮC GIAO THÔNG ĐƯỜNG SẮT
Điều 39 Biểu đồ chạy tàu do cấp có thNm quyền phê duyệt và ban hành là cơ sở cho
việc tổ chức chạy tàu của ngành đường sắt.
Tất cả nhân viên đường sắt phải chấp hành nghiêm chỉnh những quy định của biểu đồ
chạy tàu.
Điều 40 Hàng hoá đưa lên toa xe phải được xếp ổn định, gia cố chắc chắn bảo đảm
an toàn trong quá trình vận chuyển.
Điều 41 Việc vận chuyển những loại hàng nguy hiểm, độc hại, dễ cháy, dễ nổ phải
tuân theo quy định về an toàn vận chuyển các chất đó.
Điều 42 Nghiêm cấm các hành vi say đây:
1. Đưa lên tàu khách các chất độc hại, dễ nổ, dễ cháy, và các chất nguy hiểm khác;
2. Chở hành khách, hàng hoá quá trọng tải quy định của toa xe.
3. Cho người không có trách nhiệm lên đầu máy, chở hàng trên đầu máy;
4. Chở người trên tàu hàng (trừ người có trách nhiệm);
5. Đưa vật phNm cấm chuyên chở vào ga, lên tàu.
Điều 43 Người điều khiển phương tiện giao thông đường sắt phải thuộc đường, vị trí
cầu, hầm, ga, trạm, tín hiệu, biển hiệu, mốc hiệu để chủ động điều khiển tàu chạy an
toàn; phải thường xuyên quan sát đường để xử trí kịp thời khi gặp trở ngại và phải báo
cho ga gần nhất biết nếu trở ngại đó còn đe doạ an toàn cho các đoàn tàu khác.
Nghiêm cấm người điều khiển phương tiện giao thông đường sắt chạy tàu quá tốc độ
quy định; dừng tàu không đúng vị trí quy định nếu không có lý do chính đáng.
Điều 44
1. Cấm đỗ tàu trên đường ngang trừ khi gặp chướng ngại hoặc tai nạn bất ngờ;
2. Trường hợp phải dồn hoặc đỗ tàu chiếm dụng đường ngang thì thời gian tạm ngừng
giao thông đường bộ không được vượt quá 3 phút đối với đường ngang cấp 1, cấp 2
và 5 phút đối với đường ngang cấp 3.
3. Trường hợp xảy ra tai nạn trên đường ngang trưởng tàu, người điều khiển phương
tiện giao thông đường sắt, người phụ trách cứu chữa tai nạn phải tìm mọi cách khắc
phục giao thông nhanh nhất.
Điều 45
1. Chắn đường ngang, cầu chung phải được đóng trước khi tàu hoả tới đường ngang,
cầu chung đúng thời gian quy định:
a. Một phút đối với chăn điện tời;
b. Một phút rưỡi đối với chắn thủ công;
2. Không đóng chắn quá sớm trước khi tàu hoả tới đường ngang, cầu chung:
a. Quá 3 phút đối với cầu chung, đường ngang cấp 1 và cấp 2;
b. Quá 5 phút đối với đường ngang cấp 3.
Điều 46 Tại đường ngang, cầu chung quy định như sau:
1. Quyền ưu tiên thuộc về các phương tiện giao thông hoạt động trên đường sắt;
2. Người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải chấp hành theo sự chỉ
dẫn của hệ thống báo hiệu sau:
a. Hiệu lệnh của người gác chắn;
b. Tín hiệu đèn, cờ, biển hiệu;
c. Chắn;
3. Khi có báo hiệu dừng (hiệu lệnh của người gác chắn, đèn đỏ, cờ đỏ, biển đỏ, chắn
đã đóng) người và tất cả các phương tiện tham gia giao thông đường bộ kể cả những
xe có quyền ưu tiên đều phải dừng lại về bên phải đường của mình và cách báo hiệu
nói trên ít nhất 3m;
4. Người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ khi sắp đi vào đường ngang
không có chắn phải quan sát, nếu thấy tàu hoả sắp tới thì phải dừng lại về bên phải
đường của mình, cách ray ngoài cùng ít nhất 5m và phải tự chịu trách nhiệm nếu để
xNy ra tai nạn.
5. Nghiêm cấm việc tự ý mở chắn đường ngang, cầu chung khi chắn đã đóng.
Điều 47 Xe bánh xích, xe chở hàng quá khổ, quá tải khi qua đường ngang, cầu
chung phải được Bộ Giao thông vận tải cho phép; chịu sự kiểm soát về trọng tải và
khổ giới hạn chất tải và chịu mọi phí tổn gia cố công trình giao thông đường sắt trong
trường hợp cần thiết.
Điều 48 Khi phương tiện tham gia giao thông đường bộ bị tai nạn, hàng hoá rơi, đổ
vào đường sắt vi phạm khổ giới hạn tiếp giáp kiến trúc đường sắt, người chủ phương
tiện bị tai nạn, người phát hiện, người có mặt tại hiện trường phải nhanh chóng đưa
người bị nạn (nếu có), phương tiện, hàng hoá ra ngoài khổ giới hạn nói trên để khai
thông đường sắt sau đó tìm mọi cách đưa phương tiện, hàng hoá ra khỏi pham vi giới
hạn bảo đảm an toàn công trình giao thông đường sắt. Trường hợp chưa kịp khai
thông đường sắt mà tàu hoả sắp tới phải thực hiện theo quy định tại Điều 27 của Nghị
định này.
Điều 49 Nghiêm cấm các hành vi làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn giao thông
đường sắt sau đây:
1. Đặt vật gây chướng ngại trên đường sắt;
2. Trồng cây và đặt các vật cản trở tầm nhìn của người điều khiển phương tiện giao
thông của người qua lại tại đường ngang và tại phía bụng đường cong của đường sắt;
3. Phơi rơm, rạ và các vật khác lên đường sắt;
4. Chứa chất vật liệu, hàng hoá, chất phế thải, để phương tiện, thiết bị trong phạm vi
giới hạn bảo đảm an toàn công trình giao thông đường sắt (trừ vật liệu, thiết bị phục
vụ thi công, sửa chữa công trình giao thông đường sắt);
5. Chăn thả trâu, bò, gia súc trên đường sắt và trong phạm vi giới hạn bảo đảm an toàn
công trình giao thông đường sắt;
6. Sử dụng chất nổ khai thác đá, cát, sỏi ảnh hưởng đến an toàn giao thông vận tải
đường sắt;
7. Tuỳ tiện khoá hãm, giật van dừng tàu;
8. Đi, đứng (trừ người có trách nhiệm), nằm, ngồi, đùa nghịch trên đường sắt hoặc
trên nóc toa xe; đu bám toa xe, đầu máy và ở hai đầu toa xe;
9. Bán hàng rong; gây mất trật tự trị an; uy hiếp an toàn thân thể, tài sản của hành
khách và nhân viên đường sắt đang thừa hành nhiệm vụ;
10. Ném đất đá và các vật khác gây nguy hiểm lên tàu và từ trên tàu xuống;
11. Lên hoặc xuống tàu, mở cửa toa tàu, thò đầu, chân tay ra ngoài khi tàu đang chạy
(trừ người có trách nhiệm);
12. Gây cản trở cho việc khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị công trình giao thông
đường sắt;
13. Ngăn cản việc chạy tàu bình thường và các hành vi khác làm mất trật tự, an toàn
giao thông đường sắt.
Chương 6:
XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH VỀ HÀNH VI VI PHẠM TRẬT TỰ, AN TOÀN
GIAO THÔNG ĐƯỜNG SẮT
I. NGUYÊN TẮC XỬ PHẠT
Điều 50
1. Việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao
thông đường sắt do Uỷ ban nhân dân các cấp, Cảnh sát nhân dân và Thanh tra giao
thông đường sắt tiến hành theo đúng quy định của pháp luật;
2. Cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm trật tự, an toàn giao thông đường sắt bị xử
phạt hành chính theo quy định tại Nghị định này; 3. Mọi hành vi vi phạm trật tự, an
toàn giao thông đường sắt phải được phát hiện kịp thời và đình chỉ ngay. Việc xử phạt
phải được tiến hành nhanh chóng, công minh; mọi hậu quả do hành vi vi phạm hành
chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định; tổ chức, cá nhân có hành vi vi
phạm hành chính gây thiệt hại về vật chất có trách nhiệm bồi thường theo quy định
của pháp luật.
4. Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần.
M
ột người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi
vi phạm. Người có thNm quyền xử phạt quyết định hình thức xử phạt đối với từng
hành vi vi phạm; nếu các hình thức xử phạt là phạt tiền thì được cộng lại thành mức
phạt chung.
Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm
đều bị xử phạt.
5. Việc xử phạt hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân và
những tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng để quyết định hình thức xử phạt và các
biện pháp xử lý thích hợp theo quy định của Nghị định này.
6. Không xử phạt hành chính trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ
chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm
thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành
vi của mình.
Điều 51 Mức tiền phạt khi xử phạt hành chính có tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng
nặng.
Khi xử phạt bằng hình thức phạt tiền, mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi
phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt quy định đối với hành vi đó;
nếu vi phạm có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống thấp hơn
nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu vi phạm có tình
tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên cao hơn nhưng không được vượt quá
mức tối đa của khung tiền phạt.
Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng được áp dụng theo quy định tại Điều 7 và Điều 8 của
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.
Điều 52 Trách nhiệm của người có thNm quyền xử phạt vi phạm hành chính.
1. Người có thNm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải xử phạt đúng người, đúng
hành vi vi phạm, đúng thNm quyền, đúng pháp luật, kiến nghị với các cơ quan hữu
quan thực hiện ngay những biện pháp cần thiết để bảo đảm trật tự, an toàn giao thông
đường sắt và bảo vệ công trình giao thông đường sắt.
2. Người có thNm quyền xử phạt vi phạm hành chính mà sách nhiễu, dung túng, bao
che, không xử phạt hoặc xử phạt không kịp thời, không đúng mức, xử phạt quá quyền
hạn quy định thì tuỳ theo tính chất mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu
trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại vật chất thì phải bồi thường theo quy định của
pháp luật.
II. CÁC HÀNH VI VI PHẠM VÀ HÌNH THỨC XỬ PHẠT
Điều 53 Xử phạt cá nhân, tổ chức vi phạm quy định về thi công, sửa chữa và quản lý
công trình giao thông đường sắt:
1. Phạt tiền từ 500.000 đ đến 1.000.000 đ đối với một trong các hành vi sau đây:
a. Khi thi công, sửa chữa mà không có giấy phép của cơ quan quản lý đường sắt có
thNm quyền; không thông báo bằng văn bản cho đơn vị quản lý công trình giao thông
đường sắt biết;
b. Không thông báo bằng văn bản cho đơn vị quản lý công trình giao thông đường sắt
khi hết thời gian thi công, sửa chữa quy định trong giấy phép mà vẫn tiếp tục thi công;
c. Không tuân thủ quy trình kỹ thuật thi công, sửa chữa công trình giao thông đường
sắt;
d. Không thu dọn ngay các biển phòng vệ và các vật liệu khác trong khổ giới hạn tiếp
giáp kiến trúc đường sắt khi thi công xong công trình;
đ. Không có biện pháp xử lý kịp thời và biện pháp ngăn ngừa tai nạn khi phát hiện
hoặc được tin báo công trình giao thông đường sắt bị hư hỏng;
e. Không giải phóng kịp thời các vật cản hạn chế tầm nhìn tín hiệu của người điều
khiển phương tiện giao thông đường sắt.
2. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi
sau đây:
a. Không đặt đủ các tín hiệu phòng vệ theo quy định của Bộ Giao thông vận tải;
b. Không có hoặc không thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn giao thông đường
sắt tại các địa điểm xung yếu, các đèo dốc và các đoạn đường nguy hiểm.
3. Ngoài việc bị phạt tiền, cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm quy định tại Điều này
còn phải thực hiện ngay các biện pháp bảo đảm an toàn giao thông đường sắt theo quy
định.
Tuỳ theo mức độ vi phạm, người phụ trách thi công, thủ trường đơn vị quản lý công
trình giao thông đường sắt còn bị xử lý kỷ luật; nếu gây hậu quả nghiêm trọng thì bị
truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 54 Xử phạt cá nhân, tổ chức có hành vi xâm phạm công trình giao thông
đường sắt.
1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đ đến 100.000 đồng đối với một trong các
hành vi sau đây:
a. Trồng cây trong phạm vi giới hạn bảo đảm an toàn công trình giao thông đường sắt
làm che khuất tầm nhìn của người điều khiển phương tiện giao thông đường sắt;
b. Phơi rơm, rạ, nông sản và các vật phNm khác trên đường sắt và các công trình giao
thông đường sắt;
c. Để đất, cát rơi vãi trên đường sắt.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét