CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH ĐÓI NGHÈO TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở
VIỆT NAM
1.1.1. Định nghĩa chung về đói nghèo và chuẩn đói nghèo quốc tế
Việt Nam thừa nhập định nghĩa chung về đói nghèo do Hội nghị chống đói
nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái
Lan tháng 9 năm 1993: nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn
các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận
tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương.
Phương pháp xác định đường đói nghèo theo chuẩn quốc tế do Tổng cục
Thống kê, Ngân hàng thế giới xác định và được thực hiện trong các cuộc khảo sát
mức sống dân cư ở Việt Nam (năm 1992 - 1993 và năm 1997 - 1998). Đường đói
nghèo ở mức thấp gọi là đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm. Đường đói
nghèo thứ hai ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo chung bao gồm cả mặt hàng
lương thực, thực phẩm và phi thực phẩm.
Đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm được xác định theo chuẩn mà hầu
hết các nước đang phát triển cũng như Tổ chức Y tế thế giới và các cơ quan khác đã
xây dựng đó là mức Kcal tối thiểu cần thiết cho mỗi thể trạng con người với 3.100
Kcal/ngày. Người có mức chi tiêu dưới mức chi cần thiết để đạt được lượng Kcal này
gọi là nghèo về lương thực, thực phẩm.
Đường đói nghèo chung tính thêm các chi phí cho các mặt hàng phi lương
thực, thực phẩm. Tính cả chi phí này với đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm
ta có đường đói nghèo chung.
Chuẩn đói nghèo của “Chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam”: Căn cứ
vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn lực tài chính 2001 - 2005 và mức
5
sống thực tế của người dân ở từng vùng, Bộ Lao động, Thương binh và xã hội Việt
Nam đưa ra chuẩn nghèo đói nhằm lập danh sách hộ nghèo từ cấp thôn, xã và danh
sách xã nghèo từ các huyện trở lên để hưởng sự trợ giúp của Chính phủ từ Chương
trình mục tiêu Quốc gia về xóa đói giảm nghèo và các chính sách hỗ trợ khác …
Do đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện, cùng với định hướng của
Chính phủ trong việc tiếp cận với trình độ của các nước đang phát triển trong khu
vực, nên chuẩn đói nghèo đã được điều chỉnh lại, trong đó có tính đến các nhân tố
ảnh hưởng. Chuẩn đói nghèo mới áp dụng cho thời kỳ 2006 - 2010 quy định: Hộ
nghèo là những hộ ở khu vực nông thôn có thu nhập bình quân 200.000
đồng/người/tháng trở xuống, đối với những hộ ở khu vực thành thị có thu nhập bình
quân 260.000 đồng/người/tháng trở xuống. [9]
1.1.2. Khái quát tình hình đói nghèo trên thế giới và ở Việt Nam
Nghèo đói từ lâu luôn là một vấn đề được quan tâm hàng đầu trong chính sách
phát triển của các nước trên thế giới. Tính trên toàn thế giới, hiện có khoảng 1,2 tỷ
người đang sống dưới mức nghèo khổ, trong đó hai phần ba sống ở Châu Á, ba phần
tư sống ở các vùng nông thôn. Tại cuộc họp Thượng đỉnh toàn cầu năm 1995 ở Đan
Mạch, các quốc gia đã nhất trí rằng mỗi nước cần phải xây dựng một chương trình
chống đói nghèo, bao gồm việc giám sát và đo lường tiến bộ dựa trên một số mục
đích đã được thỏa thuận và đồng ý, và dựa vào đó có sự điều chỉnh các chính sách vĩ
mô tương ứng. Sau đó, các thành viên của phiên họp đặc biệt thứ 24 của Đại hội
đồng Liên hiệp quốc vào tháng 6 năm 2000 đã cam kết giảm một nữa đói nghèo vào
năm 2015. [13]
Việt Nam được xếp vào nhóm các nước nghèo của thế giới, đây là kết quả
điều tra mức sống dân cư (theo chuẩn nghèo chung của quốc tế), tỷ lệ đói nghèo năm
1998 ở Việt Nam là trên 37% và năm 2000 tỷ lệ này là 32% (giảm khoảng ½ tỷ lệ hộ
nghèo so với năm 1990). Nếu tính theo chuẩn đói nghèo về lương thực, thực phẩm
năm 1998 là 15% và năm 2000 là 13%. Theo chuẩn nghèo của Chương trình xóa đói
giảm nghèo quốc gia mới, đầu năm 2000 có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo, chiếm 17,2%
tổng số hộ trong cả nước.
6
Mặc dù Việt Nam đã đạt được những thành công rất lớn trong việc giảm tỷ lệ
nghèo, tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng, những thành tựu này vẫn còn rất mong
manh. Thu nhập của một bộ phận lớn dân cư vẫn nằm giáp ranh mức nghèo, do vậy,
chỉ cần những điều chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo, cũng khiến họ rơi xuống ngưỡng
nghèo và làm tăng tỷ lệ nghèo.
Phần lớn thu nhập của người nghèo là từ nông nghiệp. Với điều kiện
nguồn lực rất hạn chế (đất đai, lao động, vốn), thu nhập của những người nghèo rất
bấp bênh và dễ bị tổn thương trước những đột biến của mỗi gia đình và cộng đồng.
Nhiều hộ gia đình tuy mức thu nhập ở trên ngưỡng nghèo, nhưng vẫn giáp ranh với
ngưỡng nghèo đói, do vậy, khi có những giao động về thu nhập cũng có thể khiến họ
trượt xuống ngưỡng nghèo. Tính mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp cũng tạo nên
khó khăn cho người nghèo.
Mức độ cải thiện thu nhập của người nghèo chậm hơn nhiều so với
mức sống chung và đặc biệt so với nhóm có mức sống cao. Sự gia tăng chênh lệch
thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và 20% nghèo nhất (từ 7,3 lần năm 1993 lên 8,9
lần năm 1998)cho thấy, tình trạng tụt hậu của người nghèo (trong mối tương quan với
người giàu). Mặc dù chỉ số nghèo đói có cải thiện, nhưng mức cải thiện ở nhóm
người nghèo chậm hơn so với mức chung và đặc biệt so với nhóm người có mức
sống cao. Hệ số chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn còn rất cao.
Những tỉnh nghèo nhất hiện nay cũng là tỉnh xếp thứ hạng thấp trong cả nước
về chỉ số phát triển con người và phát triển giới.
Vấn đề xoá đói giảm nghèo là nhiệm vụ lớn của Việt Nam trong hiện tại cũng
như trong tương lai. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 1,1 triệu hộ gia đình đang sống
trong tình trạng đói nghèo, chiếm khoảng dưới 7% tổng dân số cả nước, hầu hết họ
đang sống ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo . . . Vì
vậy, vấn đề xoá đói giảm nghèo đã được Chính phủ quan tâm đặt ra một cách chính
thức từ những năm đầu của thập kỷ 90. Các chuẩn về nghèo đói đã được Chính phủ
đưa ra từ những năm 1993, chiến lược xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam nhằm vào
mục đích tăng thu nhập cho hộ gia đình nghèo và luôn coi trọng mục tiêu phát triển
7
con người, nâng cao dân trí, phát triển xã hội bên cạnh các mục tiêu phát triển kinh tế
và công nghiệp hóa. [22]
1.1.3. Xóa đói giảm nghèo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Việt Nam đã thành công trong nỗ lực giảm tỷ lệ nghèo từ hơn 60% vào năm
1990 xuống còn 18,1% vào năm 2004, phần lớn nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế cao,
với mức tăng bình quân 8-9% mỗi năm. Duy trì được đà tăng trưởng kinh tế hiện nay
là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Tăng trưởng phải đi liền với bình đẳng và phải mang
lại lợi ích cho tất cả các vùng và các nhóm dân cư trong nước. Phần đông người
nghèo ở Việt Nam sống trong hoàn cảnh bị tách biệt về mặt địa lý, dân tộc, ngôn ngữ,
xã hội và kinh tế. Kinh nghiệm của các nước khác cho thấy rằng lợi ích thực sự của
tăng trưởng kinh tế ít đến được với các nhóm người chịu thiệt thòi này. [22]
Báo cáo quốc gia đầu tiên của Việt Nam về tiến độ thực hiện các "Mục tiêu
Phát triển Thiên niên kỷ", được công bố tháng 9 năm 2005 và phân phát tại Hội nghị
thượng đỉnh thế giới năm 2005, cho thấy tình trạng chênh lệch và bất bình đẳng xã
hội giữa các vùng, giới tính và nhóm dân cư đang ngày càng gia tăng. Trong khi các
vùng đô thị được hưởng lợi nhiều nhất từ các chính sách cải cách và tăng trưởng kinh
tế, thì tình trạng vẫn tồn tại dai dẳng ở nhiều vùng nông thôn của Việt Nam và ở mức
độ rất cao ở các vùng dân tộc thiểu số - Theo Tổng cục thống kê là 69,3% vào năm
2002. [4]
Trong thập kỷ tới đây nổ lực của Việt Nam trong việc hội nhập với nền kinh tế
toàn cầu sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho sự tăng trưởng nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức
đối với sự nghiệp giảm nghèo. Do đó tăng trưởng bình đẳng, chính sách và nổ lực vì
người nghèo nhằm thực hiện thành công các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ sẽ vẫn
là trọng tâm trong các dự án và công tác tuyên truyền vận động của các tổ chức, các
nhà tài trợ dự án.
1.2. MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN ĐÓI NGHÈO
1.2.1. Thế giới
8
Tình trạng đói nghèo liên quan đến nhiều yếu tố như chiến tranh xảy ra liên
miên ở các quốc gia trên thế giới làm cho các nước bị chiến tranh rơi vào tình
trạng đói kém, bệnh tật triền miên. Bên cạnh nguyên nhân chủ quan do con người
gây nên thì thiên tai lũ lụt, hạn hán, động đất … xảy ra ngày trầm trọng gây tác
hại ngày càng lớn ở nhiều nơi.[13]
Khủng hoảng tài chính - tiền tệ ở nhiều khu vực trên thế giới làm cho nền kinh
tế của nhiều quốc gia bị ảnh hưởng, số lượng người thất nghiệp gia tăng, đời sống
nhân dân của các quốc gia này bấp bênh và đói nghèo cũng bắt đầu tăng lên từ những
nguyên nhân như thế này.
Những căn bệnh thế kỷ đang hoành hành, diễn ra khắp mọi nơi trên thế giới,
dịch bệnh không loại trừ một ai, những quốc gia càng nghèo thì dịch bệnh càng trở
nên trầm trọng hơn bởi vì nghèo luôn đi kèm với lạc hậu, nhận thức kém, đói nghèo,
không đủ kinh phí để trang trải cho việc phòng chống bệnh . . .
1.2.2. Việt Nam
Người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực, họ bị rơi vào vòng luẩn quẩn của
nghèo đói và thiếu nguồn lực. Người nghèo có khả năng tiếp tục nghèo vì họ không
thể đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của họ. Ngược lại, nguồn vốn nhân lực thấp lại
cản trở họ thoát khỏi nghèo đói. Các hộ nghèo có rất ít đất đai, thiếu đất đai ảnh
hưởng đến việc đảm bảo an ninh lương thực của người nghèo cũng như khả năng đa
dạng hóa sản xuất, để hướng tới sản xuất các loại cây trồng với giá trị cao hơn. Đa số
người nghèo chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch vụ sản xuất như khuyến
nông, khuyến ngư, bảo vệ động, thực vật; nhiều yếu tố đầu vào sản xuất như: điện,
nước, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón … đã làm tăng chi phí, giảm thu nhập tính
trên đơn vị giá trị sản phẩm. [13]
Những người nghèo là những người có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm
được việc làm tốt, ổn định. Mức thu nhập của họ hầu như chỉ bảo đảm nhu cầu dinh
dưỡng tối thiểu và do vậy không có điều kiện để nâng cao trình độ của mình trong
tương lai để thoát khỏi cảnh nghèo khó. Bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp ảnh
hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục và nuôi dưỡng con cái … đến
9
không những của thế hệ hiện tại mà cả thế hệ tương lai. Suy dinh dưỡng ở trẻ em và
trẻ sơ sinh là nhân tố ảnh hưởng đến khả năng đến trường của con em các gia đình
nghèo nhất và sẽ làm cho việc thoát nghèo thông qua giáo dục trở nên khó khăn hơn.
Các tỉnh miền Trung nói chung và vùng dự án bao gồm các tỉnh Quảng Bình,
Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Kon Tum nói riêng có đặc điểm địa hình, thời tiết, khí
hậu phức tạp làm cho sản xuất kém ổn định. Địa hình với độ dốc cao, thảm thực vật
rừng bị tàn phá nặng, diện tích đất trống đồi núi trọc ngày càng tăng, lượng mưa lớn
do đó đất đai bị xói mòn, rửa trôi mạnh, đe dọa nghiêm trọng đến môi trường sinh
thái. Hàng năm thường xảy ra thiên tai, lũ lụt, hạn hán ảnh hưởng nặng nề đến đời
sống, sản xuất của dân cư cũng như cơ sở hạ tầng bị hư hỏng nặng. Điều kiện tự
nhiên kém thuận lợi của các tỉnh này được xem như là nguyên nhân cơ bản dẫn đến
tình trạng nghèo đói, lạc hậu và chậm phát triển.
Bên cạnh điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, trình độ dân trí của người dân thấp,
đặc biệt là nhóm người dân tộc thiểu số. Họ sinh con đông nhưng không có khả năng
chăm sóc và nuôi dưỡng con cái thường bị ốm đau bệnh tật, chất lượng dân số thấp
làm vấn đề đói nghèo ngày càng trở nên bức xúc hơn. Đặc biệt ở những vùng này
thường thiếu giáo viên, cán bộ y tế, bán sĩ giỏi, thiếu những mô hình trang trại để học
tập kinh nghiệm và áp dụng, thiếu kiến thức về kỹ thuật và quản lý, không có việc
làm là những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo.
Một nguyên nhân dẫn đến đói nghèo nữa là cơ sở hạ tầng thiếu và kém trầm
trọng, thậm chí có những vùng còn chưa có công trình hạ tầng. Điều này hạn chế rất
nhiều tới sự phát triển kinh tế - xã hội và gây ra những khó khăn lớn trong đời sống
sinh hoạt của dân cư và làm tăng thêm sự cô lập của các xã, thôn bản và cộng đồng
dân cư này với cộng đồng dân cư khác và với các khu vực trong cả nước về mọi mặt
như sản xuất, trao đổi hàng hóa, học tập, giao lưu, tiếp cận, trao đổi thông tin, chính
trị, văn hóa, xã hội cũng như áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Nguồn
lực còn nhiều hạn chế, nhất là vốn đầu tư kỹ năng lao động.
Nguyên nhân nghèo có tính chủ quan là do sự ỷ lại của hộ nghèo. Người nghèo
cũng ỷ lại vào sự hưởng lợi từ các chương trình của Chính phủ, không muốn tự
10
nguyện vươn lên. Tuy nhiên, sự thiếu tham gia, chủ động và tự giác trong các hoạt
động chung của cộng đồng cũng góp phần làm cho người nghèo thụ động hơn. Việc
huy động đóng góp một số công trình, chương trình công cộng như thủy lợi, đường
nông thôn . . . còn rất khó khăn, mặc dù tác động của những công trình này nếu có sự
đóng góp của người dân sẽ tốt hơn rất nhiều.
Chính quyền địa phương đóng vai trò quan trọng trong giảm nghèo và hỗ trợ
trực tiếp, tuy nhiên, năng lực của đội ngũ cán bộ còn yếu và sự phối hợp tại các cấp
chưa tốt. Thậm chí một số cán bộ về khuyến nông, y tế, . . . còn thiếu.
Ngoài những nguyên nhân trên, những nguyên nhân khác như bất bình đẳng
giới, ô nhiễm môi trường tác động đến các vấn đề xã hội, nguồn lực của người nghèo.
Môi trường xuống cấp làm những nguồn lực sản xuất tự nhiên như đất, nước không
còn, gây ra những thiệt hại về năng suất, trong khi người nghèo không đủ “vốn” và
kỹ thuật để đối phó và áp dụng khoa học kỹ thuật cao.
Trong thời kỳ đổi mới, kinh tế cả nước có bước phát triển nhanh chóng nhưng ở
những vùng dân trí thấp, kém năng động thì kinh tế phát triển chậm, mức sống dân cư
ngày càng tụt hậu và tạo ra khoảng cách chênh lệch mức sống giữa các vùng ngày
càng lớn. [9]
1.3. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT CHƯƠNG TRÌNH QUỐC GIA VỀ XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO.
Trong những năm trở lại đây chính sách của các tổ chức tài chính quốc tế, các
nhà đầu tư đã có những thay đổi theo hướng tập trung các nguồn lực vào mục tiêu
xóa đói giảm nghèo. Các quốc gia đã có cam kết về ưu tiên nguồn tài chính đầu tư
cho xóa đói giảm nghèo. Năm 1996, tại cuộc họp của Tổ chức Hợp tác và phát triển
kinh tế OECD, các nhà tài trợ quốc tế đã nhất trí tái cấu trúc lại cơ cấu các khoản
viện trợ nhằm vào mục đích giảm đói nghèo. Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng
phát triển châu Á (ADB), Chương trình phát triển liên hiệp quốc (UNDP) đều chú
trọng phối hợp các hành động nhằm đạt được mục tiêu toàn cầu là giảm 50% đói
nghèo trước năm 2015. [2]
11
Xóa đói giảm nghèo là một trong những chương trình mục tiêu quốc gia nằm
trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Chính phủ Việt Nam đã có
những chính sách cụ thể cho các chương trình này nhằm chỉ đạo và hướng dẫn các
địa phương và các Bộ, Ngành liên quan thực hiện có hiệu quả mục tiêu này. Đảng
chủ trương tăng trưởng phát triển đi đôi với xoá đói giảm nghèo là nhiệm vụ chiến
lược trong giai đoạn đổi mới. Đổi mới, phát triển tạo tiền đề cho thực hiện xoá đói
giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội.
Thực hiện chủ trương trên, Chính phủ đã triển khai nhiều chương trình và dự án
lớn nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo như: Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói
giảm nghèo giai đoạn 1998 – 2000, tổng vốn đầu tư cho chương trình ước tính
10.000 tỷ đồng, trong đó bao gồm các nguồn từ Ngân sách nhà nước, hợp tác quốc tế
và các nguồn khác; Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn,
miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới (gọi tắt là chương trình 135), chương trình này
được thực hiện từ năm 1998 đến năm 2005, mục tiêu của chương trình này là xóa đói
giảm nghèo kinh niên, giảm số hộ nghèo từ 4-5%/năm trong giai đoạn từ 1998 –
2000 và giảm tỷ lệ phần trăm các hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn xuống còn
25% vào năm 2005; Chương trình 327 là chương trình tạo ra sự phát triển nông lâm
nghiệp trên vùng đất trống, đồi núi trọc và tạo ra một chương trình lồng ghép nhằm
xác định việc sản xuất, bảo tồn, khôi phục rừng và đất nông nghiệp; Chương trình
xây dựng trung tâm cụm xã ở các xã miền núi, vùng cao, vùng dân tộc thiểu số.
Ngoài ra còn có một số chương trình, dự án góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo
như: dự án định canh định cư và xây dựng kinh tế mới; dự án trồng 5 triệu ha rừng;
dự án vốn vay đa dạng hóa nông nghiệp, do Ngân hàng thế giới tài trợ với trị giá 67
triệu USD; Chương trình hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn; Chương trình mục tiêu
quốc gia về xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm giai đoạn 2001 – 2005; các
chính sách trợ cước, trợ giá vận chuyển các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và
đời sống cho các hộ vùng các xã đặc biệt khó khăn. [13]
Hầu hết các dự án xóa đói giảm nghèo được triển khai trên diện rộng, giá trị đầu
tư lớn. Hàng năm, Nhà nước phải chi phí hàng ngàn tỷ đồng cho chương trình mục
12
tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo. Ngân sách nhà nước eo hẹp nhưng phải đầu tư
trên tất cả mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân kể cả đầu tư cho xóa đói giảm
nghèo, điều này dẫn đến Ngân sách không đủ để trang trải chi phí đầu tư cũng như
các khoảng chi cần thiết khác cho một quốc gia. Các dự án ODA của các nhà tài trợ
đã có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cho Chính phủ cân đối các nguồn tài chính
quốc gia nhờ giá trị lớn của các khoản tín dụng và điều kiện tín dụng ưu đãi. Để giải
quyết nhanh chóng vấn đề nghèo đói ở miền Trung cũng như các vùng khác trong cả
nước, Chính phủ Việt Nam đã kêu gọi các tổ chức quốc tế và các quốc gia đã chuyển
hướng mục tiêu tài trợ của họ sang lĩnh vực xóa đói giảm nghèo. Các tổ chức quốc tế
và các quốc gia đã hưởng ứng lời kêu gọi của Chính phủ Việt Nam nên các dự án lớn
ở Việt Nam đã được hình thành, trong đó có dự án "Giảm nghèo khu vực miền
Trung".
1.4. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN "XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO"
MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI [47]
1.4.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc
Sử dụng nguồn vốn ODA cho công tác xóa đói giảm nghèo là một lợi thế so
với các nguồn vốn khác. Bởi vì các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức quốc tế về
lương thực, y tế, dân số đã gia tăng các khoản viện trợ xoá đói giảm nghèo cho
người dân tại các vùng đang gặp khó khăn. Vấn đề đặt ra làm thế nào để nâng cao
hiệu quả sử dụng nguồn vốn này một cách tốt nhất. Trung Quốc đã có những quy
định cụ thể để quản lý nguồn vốn cho công tác xóa đói giảm nghèo, cụ thể như sau:
Việc trả vốn các dự án “Xóa đói giảm nghèo” ở Trung Quốc được thực hiện
theo cách “ai hưởng lợi, người đó trả nợ”. Quy định này buộc người sử dụng phải tìm
giải pháp sản sinh lợi nhuận và lo bảo vệ nguồn vốn. Trung Quốc quản lý tập trung,
thực hiện phi tập trung.
Từ năm 1980 đến cuối năm 2005, tổng số vốn ODA mà Ngân hàng thế giới
cam kết với Trung Quốc là 39 tỷ USD, trong đó vốn của các chương trình, dự án về
xoá đói giảm nghèo trên 20 tỷ USD. Tổng mức đầu tư đó đã đóng vai trò rất tích cực
13
trong việc thúc đẩy công cuộc xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội ở
Trung Quốc.
Tóm tắt nguyên nhân thành công của việc sử dụng vốn ở Trung Quốc có mấy
điểm sau: chiến lược hợp tác tốt, xây dựng tốt các dự án, cơ chế điều phối và thực
hiện tốt, cơ chế theo dõi, giám sát chặt chẽ. Trung Quốc đặc biệt đề cao vai trò
của việc quản lý và giám sát. Hai cơ quan Trung ương quản lý dự án là Bộ Tài chính
và Ủy ban cải cách và phát triển quốc gia. Bộ Tài chính làm nhiệm vụ “đi xin tiền”,
đồng thời là cơ quan giám sát việc sử dụng vốn. Bộ Tài chính yêu cầu các Sở Tài
chính địa phương thực hiện kiểm tra thường xuyên hoạt động của các dự án, phối hợp
với WB đánh giá từng dự án.
Các Bộ ngành chủ quản và địa phương có vai trò quan trọng trong thực hiện
và phối hợp với Bộ Tài chính giám sát việc sử dụng vốn. Việc trả vốn dự án ở
Trung Quốc theo cách “ai hưởng lợi, người đó trả nợ”. Quy định này buộc người sử
dụng phải tìm giải pháp sản sinh lợi nhuận và lo bảo vệ nguồn vốn.
1.4.2. Kinh nghiệm của Thái Lan
Thái Lan quan niệm để sử dụng vốn xóa đói giảm nghèo đạt hiệu quả, trước
hết phải tập trung đầu tư vào nguồn nhân lực và năng lực thể chế. Chính phủ Thái
Lan cho rằng, việc thực hiện dự án xóa đói giảm nghèo mà giao cho các bộ phận
hành chính không phải là thích hợp.
Cơ sở luật pháp rõ ràng và chính xác trong toàn bộ quá trình là điều kiện để
kiểm soát và thực hiện thành công các dự án xóa đói giảm nghèo. Thái Lan đề cao
hoạt động phối hợp với đối tác viện trợ. Các nguồn vốn này được coi là “quỹ tài
chính công” và được quản lý theo những quy tắc kế toán chặt chẽ.
Quá trình giải ngân khá phức tạp nhằm kiểm soát đồng tiền được sử dụng
đúng mục đích. Trong đó, nhà tài trợ có thể yêu cầu nước nhận viện trợ thiết lập hoặc
sữa đổi hệ thống thể chế và hệ thống luật pháp. Cơ quan chịu trách nhiệm gồm có các
Bộ, một số cơ quan Chính phủ, trong đó Bộ phát triển đóng vai trò chỉ đạo.
Thái Lan đặc biệt chú trọng công tác kiểm soát và kiểm toán. Công tác kiểm
toán tập trung vào kiểm toán các hệ thống quản lý. Trong đó, chịu trách nhiệm gồm
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét