LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần constrexim hồng hà": http://123doc.vn/document/1042114-nang-cao-hieu-qua-su-dung-von-tai-cong-ty-co-phan-constrexim-hong-ha.htm
Thứ nhất Vốn chủ sở hữu doanh nghiệp là nguồn vốn do chủ sở hữn đầu
tư,doanh nghiệp được toàn quyền sử dụng mà không phải cam kết thanh toán.
Vốn chủ sở hữu bao gồm:
+Nguồn vốn kinh doanh(vốn góp và lợi nhuận chưa chia) : thể hiện số tiền đầu
tư mua sắm tài sản cố định tài sản lưu động sử dụng vào kinh doanh
+Các quỹ của doanh nghiệp : Quỹ đầu tư phát triển,quỹ dự phòng tài
chính,quỹ khen thưởng phúc lợi.
+Nguồn vốn xây dựng cơ bản : là nguồn chuyên dùng cho việc đầu tư mua
sắm tài sản cố định và đổi mới đông nghệ
+Nguồn vốn từ lợi nhuận chưa phân phối
Vốn chủ sở hữu có thể hình thành từ nhiều nguồn gốc khác nhau tùy theo loại
hình doanh nghiệp(Theo Luật Doanh Nghiệp 2005) :
+Đối với doanh nghiệp nhà nước bao gồm vốn ngân sách nhà nước câp vốn có
nguồn gốc từ ngân sách nhà nước vốn doanh nghiệp tự tích lũy
+Đối với các công ty cổ phần vốn do các cổ đông đóng góp dưới hình thức
mua cổ phiếu
+Đối với các công ty lien doanh vốn chủ sở hữu do các bên tham gia lien
doanh đóng góp
+Vốn luật các công ty TNHH do các thành viên của công ty đóng góp
+Trong các công ty tư nhân vốn chủ sở hữu do tư nhân đàu tư vốn phụ thuộc
vào một chủ duy nhất
Để bổ sung vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh doanh nghiệp có thể sử
dụng các khoản vốn đi vay từ các tổ chức tín dụng ngân hàng tính dụng thương mài
và vay thông quá phát hành trái phiếu vay từ các tổ chức xã ghội hoặc cá nhân
Ta thấy phần lớn vốn tự có của doanh nghiệp không thể đáp ứng hầu hết nhu
cầu về vốn nên doanh nghiệp thương vay vốn dưới nhiều hình thức khác nhau.Việc
vay vốn một mặt giải quyết nhu cầu về vốn đảm bảo sự ổn định và sản xuất kinh
doanh được lien tục.Mặt khác, đó là phương pháp sử dụng hiệu quả các nguồn tài
chính trong nền kinh tế.
Trần Quang Nghĩa TCDNA 5
Bên cạnh đó là nguồn vốn vay hay nợ phải trả là khoản nợ phát sinh trong quá
trình kinh doanh mà doanh nghiệp phải có trách nhiệm trả các tác nhân kinh tế như
nợ vay các chủ thể kinh tế,vay cá nhân vay ngân hàng,phải trả cho người bán,phải
nộp ngân sách…
1.1.3.3 Căn cứ vào độ chu chuyển vốn.
Theo cách phân loại này thì vốn doanh nghiệp bao gồm 2 thành phần là vốn
lưu động và vốn cố định.
-Vốn cố định : là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định (TSCĐ),TSCĐ dung
trong kinh doanh tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh nhưng về mặt giá trị
có thể hồi dẫn sau nhiều chu kì kinh doanh.Và Vốn cô định biểu hiện dưới hai hình
thái:
+Hình thái hiện vật : Là toàn bộ tài sản cố định dung trong kinh doanh của các
doanh nghiệp .Nó bao gồm nhà cửa,máy móc,thiết bị,công cu
+Hình thái tiền tệ: Đó là toàn bộ TSCĐ chưa khấu hao và vốn khấu hao khi
chưa được sử dụng để sản xuát TSCĐ,là toàn bộ vốn cố định đã hoàn thành vòng
luân chuyển và trở về hình thái ban đầu.
-Vốn lưu động: Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu
động.Vốn lưu động tham gia hoàn toàn vào quá trình kinh doanh và giá trị có thể
trở lại hình thái ban đầu sau mỗi vòng chu chuyển của hàng hóa.Nó là bộ phận của
vốn sản xuất bao gồm giá trị nguyên liệu,vật liệu phụ,tiền lương…Những giá trị này
được hoàn lại hoàn toàn cho chủ doanh nghiệp sau khi đã bán hàng hóa.
1.1.4 Các nguồn huy động vốn.
1.1.4.1 Từ nội bộ doanh nghiệp
Đây là nguồn dựa trên phương thức tự cung cấp vốn của doanh nghiệp. Trong
các doanh nghiệp các phương thức tự cung ứng vốn cụ thể là :
Thứ nhất : Khấu hao tài sản cố định
Tài sản cố định là những tư liệu lao đônnjg thao gia vào nhiều quá trình sản
xuất. Trong quá trình sử dụng, tài sản cố định bị hao mòn dần và chuyển dần giá trị
vào giá thành sản phẩm. Hao mòn tài sản cố định là một quá trình mang tính khách
quan,phụ thuộc vào nhân tố như chất lượng của bản than tài sản cố định,các yếu tố
tự nhiên,cường độ sử dụng tài sản cố định…Trong quá trình sử dụng tài sản cố định
Trần Quang Nghĩa TCDNA 6
doanh nghiệp phải xác định độ hao mòn của chúng để chuyển dần giá trị hao mòn
vào giá trị của sản phẩn được sản xuất ra từ tài sản cố định đó.Việc xác định mức
khấu hào tài sản cố định phụ thuộc vào thực tiễn sử dụng tài sản cố định đó cũng
như ý muốn chủ quan của con người.Đối với các doanh nghiệp Nhà Nuwocs trong
quá trình khấu hao tài sản cố định phụ thuộc vào ý đồ của Nhà Nước thông qua quy
định,chính sách cụ thể của cơ quan tài chính trong từng thời kì.Các doanh nghiệp
khác có thể tự lựa chọn thời hạn sử dụng và phương pháp tính khấu hao cụ
thể.Trong chính sách tài chính cụ thể ở từng thời kì, doanh nghiệp có thể lựa chọn
và điểu chỉnh khấu hao tài sản cố định và coi đây là công cụ điều chỉnh cơ cấu bốn
bên trong doanh nghiệp.Tuy nghiên cần chú ý rằng việc điều chỉnh khấu hao không
thể diễn ra một cách tùy tiện, không có kế hoạch mà phải dựa trên các kế hoạch tài
chính dài hạn và ngắn hạn đã xác định. Mặc khác,cần chú ý rằng điều chỉnh tăng
khấu hao tài sản cố định sẽ dần ddeeens tăng chi phí kinh doanh khấu hao tài sản cố
định trong giá thành sản phẩm nên luôn khống chế bới giá bán sản phẩm.
Thứ 2 : Tích lũy tái đầu tư
Đây là nguồn luôn được các doanh nghiệp coi là nguồn tự cung ứng tài chính
quan trọng vì nó có ưu điểm cơ bản sau:
-doanh nghiệp có thể hoàn toàn chủ động.
-Giảm sự phụ thuộc vào các nhà cung ứng.
-Giúp các doanh nghiệp tăng tiềm lực tài chính làm giảm tỉ lệ giữa nợ và vốn.
-Có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong điều kiện chưa tạo
được uy tín với các nhà cung ứng tài chính.
Quy mô tự cung ứng vốn tích lũy tài đầu tư tùy thuộc vào hai nhân tố chủ yếu
là tổng số lợi nhuận thu được trong từng thời kì kinh doanh cụ thể và chính sách
phân phối lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp .Tổng số lợi nhuận cụ thể thu được
trong từng thời kì phụ thuộc vào quy mô kinh doanh, chất lượng hoạt động kinh
doanh của từng doanh nghiệp trong từng thời kỳ đó. Chính sách phân phối lợi
nhuận trc hết tùy thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp .
1.1.4.2 Nguồn cung ứng từ bên ngoài
a.Cung ứng vốn từ ngân sách Nhà Nước:
Với hình thức cung ứng từ ngân sách Nhà nước doanh nghiệp sẽ nhận được
lượng vốn xác định từ ngân sách Nhà Nước cấp. Thông thuwongf hình thức này
Trần Quang Nghĩa TCDNA 7
không đòi hỏi nhiều điều kiện ngặt nghèo đối với doanh nghiệp được cấp vốn như
các hình thức vốn huy động khác nhau.
Tuy nhiên, càng ngày hình thức cung ứng vốn từ ngân sách Nhà Nước đối với
các doanh nghiệp ngày càng thu hẹp cả về quy mô vốn và phạm vi cung cấp vốn.
Hiện nay, đối tượng được cung cấp vốn theo hình thức này thường phải là các
doanh nghiệp Nhà Nước xác định duy trì để đóng vai trò điều tiết nền kinh tế; các
dự án đầu tư ở lĩnh vực sản xuất hàng hóa công cộng, hoạt động công ích mà tư
nhân không muốn và không có khả năng đầu tư; các dự án lớn có tầm quan trọng
đặc biệt do Nhà Nước đầu tư.
b.Gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu
Gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu là hình thức doanh nghiệp được cung ứng
trực tiếp từ thị trường chứng khoán. Khi có cầu về vốn và lựa chọn hình thức này,
doanh nghiệp tính toán và phát hành cổ phiếu, bán trên thị trường chứng khoán.
Hình thức cung ứng vốn này có đặc trưng cơ bản là tăng vốn không làm tăng nợ của
doanh nghiệp bởi những người chủ sở hữu cổ phiếu thành những cổ đông của doanh
nghiệp.Vì lẽ này nhiều nhà quản trị học coi nhình thức huy động vốn qua cổ phiểu
là nguồn cung ứng vốn nội bộ.
Tuy nhiên không phải mọi doanh nghiệp được phép khai thác nguồn vốn này
mà chỉ những doanh nghiệp được phát hành cổ phiếu ( công ty cổ phần,doanh
nghiệp Nhà nước có quy mô lớn).
Hình thức huy động vốn qua phát hành cổ phiếu có ưu điểm rất lớn là tập được
lượng vốn ban đầu và dễ tăng vốn trong quá trình kinh doanh, Quyền sở hữu vốn
tách khỏi quản trị một cách tương đối nên bộ máy quản trị doanh nghiệp được toàn
quyền sử dụng vốn có hiệu quả nguồn vốn này.
Bên cạnh đó, hình thức huy động vốn qua phát hành cổ phiếu có hạn chế là
doanh nghiệp phải có nghĩa vụ phai báo thông tin tài chính theo luật doanh nghiệp;
Khi thừa vốn không hoặc chưa sử dụng đến doanh nghiệp không hoàn trả lại được
vì vậy,khi có nhu cầu gọi hùn vốn qua phát hành cổ phiếu đòi hỏi doanh nghiệp
phải tính toán,cân nhắc. Mặt khác, hình thức huy động vốn này có thể làm cổ tức
giảm nên doanh nghiệp phải có quy mô lớn hữa hẹn lợi nhuận cao mới dễ bán cổ
phiếu trên thị trường.
Trần Quang Nghĩa TCDNA 8
1.1.4.3 Vay vốn bằng phát hành trái phiếu trên thị trường vốn:
Hình thức vay vốn bằng phát hành trái phiếu trên thị trường vốn là hinh thức
cung ứng vốn trực tiếp từ công chúng: doanh nghiệp phát hành lượng vốn cần thiết
dưới hình thức trái phiếu thường có kỳ hạn xác định và bán cho công chúng. Khác
với hình thức phát hành cổ phiếu, hình thức phát hành cổ phiếu với đặc điểm là tăng
vốn và tăng nợ của doanh nghiệp.
Vay vốn bằng phát hành trái phiếu có những ưu điểm chủ yếu là : có thể thu
hút một lượng vốn lớn cần thiết chi phí kinh doanh sử dụng vốn thấp hơn so với
ngân hàng, không bị người cung ứng kiểm soát chặt chẽ như vay ngân hàng và
doanh nghiệp có thể lựa chọn trái phiếu thích hợp với yêu cầu của mình.
Tuy nhiên, hình thức huy động từ phát hành trái phiếu cũng có những hạn chế
nhất định. Hình thức này đòi hỏi doanh nghiệp nắm chắc kỹ thuật tài chính để tránh
áp lực nợ đến hạn trả và vẫn có lợi nhuận, đặc biệt khi nền kinh tế suy thoái, làm
phát cao. Chi phí kinh doanh phát hành cổ phiếu khá cao vì doanh nghiệp cần sự trợ
giúp của một số ngân hàng thương mại. Doanh nghiệp phải tính toán thỏa mãn điều
kiện : Tài sản cố định phải nhỏ hơn tổng số vốn và nợ dài hạn của doanh nghiệp
.Mặt khác, không phải mọi doanh nghiệp mà chỉ những doanh nghiệp nào thỏa mãn
điều kiện theo luật định mới được phép phát hành trái phiếu.
1.1.4.4 Vay vốn từ ngân hàng thương mại :
Vay vốn từ ngân hàng thương mai là hình thức doanh nghiệp vay vốn dưới
hình thức ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ ngân hàng thương mại, đây là mối quan
hệ tính dụng giữa một bên cho vay và một bên đi vay.
Với hình thức vay vốn từ ngân hàng thương mại doanh nghiệp có thể huy
động được một lượng vốn lướn, đúng hạn và có thể mời các ngân hàn cùng tham
gia thẩm định dự án nếu có cầu vay đầu lớn. Bênh cạnh đó để có thẻ vay vốn từ
ngân hàng thương mại đòi hỏi doanh nghiệp phải có uy tín lớn, kiên trì đàm phán,
chấp nhận các thủ tục ngặt nghèo. Trong quá trình sử dụng vốn, doanh nghiệp phải
tính toán trả nợ ngân hàng theo đúng kế hoạch. Mặt khác khi doanh nghiệp vay vốn
ở các ngân hàng thương mại có thể bị ngân hàng thương mại đòi hỏi quyền kiểm
soát các hoạt động của doanh nghiệp trong thời gian cho vay,chẳng hạn :
-Ngân hàng cho vay có thể khống chế giá trị TSCĐ để tránh “ ngâm
vốn”,tránh rủi ro.
Trần Quang Nghĩa TCDNA 9
-Doanh nghiệp sẽ không được vay thêm dài hạn nếu không có sự đồng ý của
ngân hàng cho vay.
-Doanh nghiệp không được đem thế chấp tài sản nếu không có sự đồng ý của
ngân hàng cho vay.
-Ngân hàng cho vay có áp đặt cơ chế kiểm soát chi phối hoạt động đầu tư để
phòng ngừa doanh nghiệp sử dụng vốn bừa bãi.
-Ngân hàng cho vay có thể đòi hỏi can thiệp vào sự thay đổi ban lãnh đạo của
doanh nghiệp …
1.1.4.5 Tín dụng thương mại từ bên cung cấp.
Trong hoạt động kinh doanh do đặc điểm quá trình cung ứng hàng hóa và
thanh toán không thể khi nào cũng phải diễn ra đồng thời nên tín dụng thương mại
tồn tại là một nhu cầu khách quan. Thực chất luôn diễn ra đồng thời doanh nghiệp
nợ khách hàng tiền và chiếm dụng tiền của khách hàng. Nếu số tiền doanh nghiệp
chiếm dụng của khách hàng lớn hơn số tiền doanh nghiệp bị chiếm dụng thì số tiền
đư ra sẽ mang bản chất tín dụng thương mại.Hiện nay có các hình thức tín dụng
thương mại chủ yếu sau:
Thứ nhất doanh nghiệp mua máy móc thiết bị theo phương thức trả chậm. Sẽ
chỉ có hình thức tín dụng này nếu được ghi rõ trong hợp đồng mua bán về giá cả, số
lần trả và số tiền trả mỗi lần, khoảng cách giữa các lần trả tiền. Như thể doanh
nghiệp có máy móc thiết bị sử dụng ngay nhưng tiền chưa phải trả ngay, số tiền
chưa trả là số tiền ma doanh nghiệp chiếm dụng được của người cung ứng.
Trong môi trường kinh doanh hiện nay, với nhiều mặt hàng thì mua bán chưa
phải trả ngay được coi là chiến lược maketing của người bán cho nên doanh nghiệp
dễ dàng tím kiếm tín dụng từ loại này. Đặc biệt , khi thị trường có nhiều nhà cung
ứng cạnh tranh với nhau doanh nghiệp càng có lợi thế về giá cả,kỳ hạn trả Khi quá
trình này diễn ra một cách thường xuyên thì nguồn chiếm dụng này như một nguồn
tín dụng trung và dài hạn. Với phương thức tín dụng này doanh nghiệp có thể đầu tư
chiều sâu với vốn ít mà không ảnh hưởng tới tình hình tài chính của mình. Hình
thức tín dụng mua máy móc thiết bị theo phương thức trả chậm lại càng có ý nghĩa
đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu các điều kiện để vay vốn từ các nguồn
khác.
Trần Quang Nghĩa TCDNA 10
Bênh cạnh đó hình thức mua máy móc thiết bị theo phương thức trả chậm có
những hạn chế nhất định. Chẳng hạn khi mua theo phương thức này doanh nghiệp
sẽ phải chịu chi phí kinh doanh sử dụng vốn khá cao.Mặt khác doanh nghiệp chỉ có
thể mua theo hình thức trả chậm nếu doanh nghiệp có uy tín, có truyền thống tín
dụng song phẳng cũng như tình hình tài chính lành mạnh.
Thứ hai là Vốn khách hàng ứng trước.
Trong quá trình kinh doanh khi kí hợp đồng đặt hàng khách hàng thường phải
đặt cọc trước một số tiền nhất định, số tiền cọc này doanh nghiệp được sử dụng mặc
dù chưa sản xuất và cung cấp sản phẩm dịch vụ cho khách hàng. Tùy theo lượng
mua hàng của khách hàng,thông thường doanh nghiệp tín dụng từ hai nguonf sau:
-Vốn ứng trước của khách hàng lớn
-Vốn ứng trước của người tiêu dung.
Thông thường số vốn chiếm dụng này là không lớn. Mặt khác để sản xuất
hàng hóa hoặc dịch vụ doanh nghiệp phải đặt hàng ( nguyên vật liệu ) nên lại bị
người cấp hàng chiếm dụng vốn của doanh nghiệp cũng theo hình thức này nên các
quá trình kinh doanh diễn ra bình thường thì số dư vốn chiếm dụng này là không
lớn.
Tuy nhiên kinh doanh trong thị trường hiện tài đòi hỏi doanh nghiệp phải tính
toán cân nhắc rất cẩn thận vì không chỉ tồn tại lượng vốn nhất định khách hàng
chiếm dụng lại khi mua hàng của doanh nghiệp nhiều khi là rất lớn.
1.1.4.6 Tín dụng thuê mua
Phương thức này được thực hiện giữa một doanh nghiệp có cầu sử dụng máy
móc, thiết bị với một doanh nghiệp thực hiện chức năng thuê mua diễn ra khá phổ
biến.Sở dĩ hình thức thuê mua diễn ra khá phổ biến vì nó đáp ứng được yêu cầu cơ
bản của bên có cầu là doanh nghiệp muốn thuê mua thiết bị) và bên đáp ứng cầu là
doanh nghiệp thực hiện chức năng mua.
Hình thức tín dụng thuê mua có ưu điểm rất cơ bản là giúp doanh nghiệp sử
dụng vốn đúng mục đích,khi nào doanh nghiệp có cầu về sử dụng máy móc thiết bị
cụ thể mới đặt vấn đề thuê mua và chỉ kí hợp đồng thuê mua trong khoảng thời gian
thích hợp. Doanh nghiệp không chỉ nhận được máy móc thiết bị mà còn nhận được
tư vấn đào tạo và hướng dẫn kĩ thuật cần thiết từ doanh nghiệp thực hiện chức năng
thuê mua. Doanh nghiệp sử dụng máy móc thiết bị có thể tránh được những tổn thất
Trần Quang Nghĩa TCDNA 11
do mua máy móc thiết bị không đúng được yêu cầu hoặc hay do mua nhầm. Doanh
nghiệp sử dụng máy móc thiết bị cần thiết mà không phải đầu tư một lần với vốn
lớn. Mặc khác doanh nghiệp sử dụng máy móc thiết bị có thể giảm được tỉ lệ nợ
trên vốn vì tránh phải vay ngân hàng thương mại. Trong quá trình sử dụng máy
móc, thiết bị doanh nghiệp sử dụng có thể thỏa thuật tái thuê với doanh nghiệp có
chức năng thuê mua; tức là doanh nghiệp sử dụng bán một phần tài sản thiết bị cho
doanh nghiệp thuê mua rồi thuê lại để tiếp tục sử dụng tài sản thiết bị đó. Với
phương thức thuê mua doanh nghiệp sử dụng có thể nhanh chóng đổi mới tài sản cố
định, nâng cao khả năng cạnh tranh của mình.
1.1.4.7 Vốn liên doanh liên kết
Với phương thức này doanh nghiệp liên doanh,liên kết với một hoặc một số
doanh nghiệp khác nhằm tạo vốn cho một ( một số) hoạt động( dự án l) liên doanh
nào đó. Các bên liên doanh kí hợp đồng liên doanh với các hoạt động cụ thể về
phương thức hoạt động, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có giá trị trong một
khoảng thời gian nào đó. Khi hết hạn, hợp đồng liên doanh hết hiệu lực.
Với phương thức này,liên kết doanh nghiệp có một lượng vốn lớn cần thiết
cho một ( một số) hoạt động nào đó mà không làm tăng nợ. Vì vậy, nhiều nhà quản
trị học cho rằng phương thức này có thể được coi là phương thức cung ứng vốn nội
bộ. Trong quá trình hoạt động, các bên liên doanh cùng chia sẻ rủi ro.
Bên cạnh đó phương thức liên doanh, liên kết cũng có những hạn chế nhất
định. Chẳng hạn, huy động vốn theo phương thức này tất sẽ dẫn đến các bên liên
doanh cùng tham gia kinh doanh và chia sẽ lợi nhuận thu được.
1.1.4.8 Cung ứng từ sự kết hợp cung và tư trong xây dựng cơ sở hạ tầng
( phương thức BOT )
Phương thức cung ứng vốn từ sự kết hợp công tư trong xây dựng cơ sở hạ tầng
có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây dựng cơ sở hạ tầng.
Thực tế có nhiều hình thức kết hợp khác nhau với cách thức tiến hành cụ thể khác
nhau . Đó là cách thức :
1.Xây dựng- sở hữu- chuyển giao (BOT)
2.Xây dựng-sở hữu-điều hành-chuyển giao (BOOT)
3.Xây dựng-chuyển giao-điều hành (BTO)
4.Xây dựng-sở hữu-điều hành (BOO)
Trần Quang Nghĩa TCDNA 12
5.Xây dựng-sở hữu –bán(BSO)
Tùy theo hoàn cảnh thực tế doanh nghiệp có thể lựa chọn quyết định hình thức
cụ thể thích hợp. Lựa chọn phương thức này, doanh nghiệp phải thỏa mãn các điểu
kiện nhất định.
1.1.4.9 Nguồn vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp ( FDI):
Trong xu hướng mở cửa hộp nhập và Luật đầu tư nước ngoài ra đời, các doanh
nghiệp trong nước còn có thể cung ứng vốn bằng phương thức các doanh nghiệp
hoặc tổ chức kinh tế nước ngoài đầu tư trực tiếp.
Với nguồn vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp doanh nghiệp không chỉ nhận được
vốn mà còn nhận được cả kĩ thuật- công nghệ cũng như phương thức quản trị tiên
tiến. Hơn nữa doanh nghiệp cũng được chia sẻ thị trường xuất khẩu.
Tuy nhiên huy động vốn bằng nguồn vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp doanh
nghiệp sẽ chịu sự kiểm soát điều hành của doanh nghiệp ( tổ chức kinh tế) cấp vốn.
Mức độ kiểm soát điều hành của doanh nghiệp ( tổ chức kinh tế ) nước ngoài phụ
thuộc vào tỉ lệ góp vốn của họ. Mặt khác mà một doanh nghiệp trong nước vấp phải
là doanh nghiệp khó tìm được đối tác nước ngoài thích hợp nhằm phát huy ưu thế
mỗi bên. Vấn đề duy trì mối quan hệ hợp tác trong khoảng thời gian dà là bao nhiêu
cũng là vấn đề các doanh nghiệp cần cân nhắc một cách thận trọng.
Ngoài ra còn có phương thức cung ứng vốn doanh nghiệp bằng nguồn vốn
ODA.Với đối tác của doanh nghiệp là các chương trình hợp tác của chính phủ các
tổ chức phi chính phủ hoặc các tổ chức quốc tế khác.Hình thức này có chi phí sử
dụng vốn thấp,tuy nhiên để nhận được nguồn vốn này các doanh nghiệp phải chấp
nhận các điều kiện thủ tục rất chặt chẽ đồng thời phải có trình độ quản lý dự án đầu
tư cũng như trình độ phối hợp làm việc với các cơ quan chính phủ và chuyên gia
nước ngoài.
1.2 Hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp
Hiệu quả tài chính là mối quan hệ kinh tế mà chủ thể nhận được và chi phí
kinh tế mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế đó. Nói chung hiệu
quả tài chính là điều đầu tiên các doanh nghiệp quan tâm tới. Thông qua đó mà
doanh nghiệp có thể lập được hiệu quả trước mắt và lâu dài trong khoảng thời gian
nhất định. Hiệu quả lâu dài là hiệu quả được xem xét trong khoảng thời gian dài.
Trần Quang Nghĩa TCDNA 13
Hiệu quả trước mắt là hiệu quả được xem xét trong khoảng thời gian ngắn (mang
tính tạm thời).
Vậy hiệu quả sử dụng vốn là gì?Để hiểu được ta phải hiểu được hiệu quả là
gì?
Hiệu quả của bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào cũng đều thể hiện mỗi
quan hệ giữa” kết quả sản xuất và chi phí bỏ ra”.
Hiệu quả kinh doanh = Kết quả đầu ra/Chi phí đầu vào
Về mặt định tính : Hiệu quả kinh tế cao biểu hiện sự cố gắng nỗ lực,trình độ
quản lý mỗi khâu,mỗi cấp trong hệ thống công nghiệp,sự gắn bó của việc giải quyết
những muc tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trj xã hội.
Về mặt định lượng : Hiệu quả kinh tế của việc thực hiện mỗi nhiệm vụ kinh tế
xã hội hiểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra. Người ta
chỉ thu được hiệu quả khi kết quả đầu ra lớn hơn chi phí đầu vào.Hiệu quả càng lớn
chênh lệch này càng cao.
Vậy hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh
trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn làm cho chúng sinh lời tối đa
nhằm mục tiêu tối đa hóa khả năng sinh lời của chủ sở hữu.
Hiệu quả sử dụng được đánh giá thông qua tốc độ quay vòng vốn. Một doanh
nghiệp có vốn quay vòng càng nhanh thì doanh nghiệp được xem là sử dụng vốn có
hiệu quả. Tuy nhiên, vòng quay vốn phụ thuộc vào các tiêu thức tiêu thụ hàng hóa,
thanh toán, và nhiều yếu tố khách quan khác như chính sách kinh tế nhà nước.
Hiệu quả sử dụng vốn được đánh giá thông qua lợi ích kinh tế, xã hội. Hiệu
quả sử dụng vốn đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các mặt hàng công
cộng thì ngoài mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận thì doanh nghiệp còn phải quan tâm
tới môi trường, những hậu quả mà quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
mình ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Có như vậy, doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh hàng hóa công cộng mới được coi là đạt hiệu quả về lợi ích kinh tế xã hội.
Một doanh nghiệp muốn đạt hiệu quả thì phải đạt lợi nhuận cao. Vì lợi nhuận
liên quan đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Có thể nói một doanh
nghiệp có lợi nhuận cao tức là sử dụng vốn hiệu quả. Để đạt được hiệu quả thi phải
làm tốt tất cả các khâu từ chuẩn bị đi vào sản xuất đến khâu tiêu thụ sản phẩm.
Trần Quang Nghĩa TCDNA 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét