Thứ Ba, 4 tháng 3, 2014

Em hãy làm rõ mối quan hệ về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh.

Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại
a) Đặt cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong sự gắn bó với cách
mạng vô sản thế giới.
Thời đại mà Hồ Chí Minh sống và hoạt động là thời đại đã chấm dứt sự
tồn tại biệt lập giữa các quốc gia, mở ra mối quan hệ quốc tế ngày càng
rộng lớn giữa các dân tộc.
Sự thất bại của các phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ 19,
đầu thế kỷ 20 không phải vì nhân dân ta thiếu anh dũng, các lãnh tụ
phong trào kém nhiệt huyết mà do nhiều nguyên nhân, trong đó có
nguyên nhân thiếu đường lối cách mạng đúng đắn, phương pháp cách
mạng không phù hợp với xu thế mới của thời đại.
Do nhận thức đúng sự biến chuyển của thời đại, Hồ Chí Minh đã sớm
đến được với cánh tả của các mạng pháp, gặp được luận cương của V.I.
Leenin, tán thành quốc tế III, tìm thấy con đường giải phóng dân tộc VN
theo con đường cách mạng vô sản. Người viết: “ Thời đại của chủ nghĩa
tư bản lũng đoạn cũng là thời đại một nhóm nước do bọn tư bản tài chính
cầm đầu thống trị các nước phụ thuộc và nửa phụ thuộc, bởi vậy công
cuộc giải phóng các nước và các dân tộc bị áp bức là một bộ phận khăng
khít của cách mạng vô sản. Do đó mà trước hết nảy ra khả năng và sự
cần thiết phải có liên minh chiến đấu chặt chẽ giữa các dân tộc thuộc địa
và giai cấp vô sản các nước đế quốc để thắng kẻ thù chung”
Sau khi nắm được đặc điểm của thời đại mới, HCM đã hoạt động
không mệt mỏi để gắn cách mạng VN với cách mạng thế giới. Người đã
chỉ ra một trong những nguyên nhân gây ra sự suy yếu của các dân tộc
phương Đông, đó là sự biệt lập. Theo Người, “ Cách mệnh An Nam cũng
là một bộ phận trong cách mệnh thế giới. Ai làm cách mệnh trong thế
giới đều là đồng chí của An Nam cả”. Do đó, cần phải “ Làm cho các dân
tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và
đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một liên minh phương Đông tương lai, khối
liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”
Do nhiều nguyên nhân, giai cấp công nhân ở phương Tây lúc đó chưa
có hiểu biết đầy đủ và chính xác về vấn đề thuộc địa. Một số lãnh tụ cơ
hội của Quốc tế II đã bênh vực chính sách thuộc địa của chủ nghĩa đế
quốc. V.I. Lê nin đã kiên quyết đấu tranh chống lại quan điểm sai lầm
này. Hồ Chí Minh đã bảo vệ và phát triển quan điểm của Lê-nin về khả
năng to lớn và vai trò chiến lược của cách mạng giải phóng dân tộc ở
thuộc địa đối với thắng lợi của cách mạng vô sản: cách mạng phương
Tây muốn thắng lợi thì nó phải liên hệ chặt chẽ với phong trào giải
phóng chống chủ nghĩa đế quốc ở các nước thuộc địa và các nước bị nô
dịch.
Chính nhờ nắm bắt được đặc điểm và xu thế phát triển của thời đại mà
Hồ Chí Minh đã xác định chính xác đường lối chiến lược, sách lược và
phương pháp cách mạng đúng đắn cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng
dân tộc VN theo con đường của cách mạng vô sản. Hồ Chí Minh đã
khẳng định: “Cách mạng VN đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, điều
đó chứng tỏ rằng trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa
nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần
chúng nhân dân rộng rãi trước hết là nông dân và đoàn kết được mọi tầng
lớp nhân dân yêu nước trong mặt trận thống nhất, với sự đồng tình và
ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới, trước hết là phe xã hội chủ
nghĩa hung mạnh, nhân dân nước đó nhất định thắng lợi”
b) Kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc
tế trong sáng.
Là nhà yêu nước chân chính, HCM đã triệt để phát huy sức mạnh của
chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc; đồng thời là nhà quốc tế chủ
nghĩa trong sáng. HCM đã suốt đời đấu tranh không mệt mỏi để củng cố
và tăng cường tình đoàn kết và hữu nghị giữa VN và các dân tộc khác
đang đấu tranh cho mục tiêu chung là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ
và chủ nghĩa xã hội. Người cho rằng: Đảng lấy toàn bộ thực tiễn của
mình để chứng minh rằng chủ nghĩa yêu nước triệt để không thể nào tách
rời với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Tinh thần yêu nước chân chính khác
hẳn với tinh thần “vị quốc” của bọn đế quốc phản động. Nó là một bộ
phận của tinh thần quốc tế.
Kẻ thù của các dân tộc và cách mạng thế giới hiểu rõ sức mạnh của
khối đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, vì vậy, để áp đặt và duy trì sự
thống trị của chúng đối với các thuộc địa, chúng đã ra sức chia rẽ các dân
tộc, truyền bá tư tưởng của chủ nghĩa chủng tộc, khuyến khích thói kỳ thị
màu da,kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan… HCM đã chứng kiến sự
thối nát đó của chủ nghĩa thực dân khi còn ở trong nước cũng như khi đi
tìm đường cứu nước, song Người cũng đã chứng kiến về sự chan hòa
giữa các dân tộc, các chủng tộc khi đến Liên Xô năm 1923. Người rất
phấn chấn nhìn thấy ở Trường Đại học Phương Đông hình ảnh đại đoàn
kết giữa các dân tộc đủ màu da:
“ Rằng đây bốn biển một nhà,
Vàng, đen, trắng, đỏ đều là anh em”
Hồ Chí Minh là người có đóng góp lớn vào lý luận Mác-Lê nin về kết
hợp chặt chẽ giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế, kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Luân điểm coi chủ nghĩa đế quốc là
“còn đỉa hai vòi”, coi liên minh các dân tộc ở phương Đông là một trong
những cái cánh của cách mạng vô sản”, khẳng định chủ nghĩa cộng sản
có thể áp dụng được ở phương đông, cách mạng giải phóng dân tộc ở
thuộc đại có thể thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc… là sự
phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mac-Lênin của HCM.
Đề cao sự giúp đỡ của quốc tế đối với cách mạng VN, Hồ Chí Minh
cũng đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm của cách mạng Việt Nam với
cách mạng thế giới. Khi phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có sự
chia rẽ, Đảng ta và Hồ Chí Minh đã hoạt động không mệt mỏi để mong
đóng góp phần khôi phục sự đoàn kết quốc tế trên cơ sở những nguyên
tắc của chủ nghĩa Mác-Lê nin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình.
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, từ đại đoàn kết dân tộc phải đi đến đại
đoàn kết quốc tế; đại đoàn kết dân tộc đúng đắn là cơ sở cho việc thực
hiện đoàn kết quốc tế trong sáng. Đại đoàn kết dân tộc là một trong
những nhân tố đảm bảo thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đoàn kết
quốc tế cũng là một trong những nhân tố đảm bảo thắng lợi của cách
mạng Việt Nam. Đoàn kết quốc tế cũng là một nhân tố hết sức quan
trọng giúp cho cách mạng Việt nam đi đến thắng lợi hoàn toàn của sự
nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước quá độ lên
chủ nghĩa xã hội.
Kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản đòi hỏi phải
đấu tranh chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, chủ nghĩa
sô vanh và mọi thứ chủ nghĩa cơ hội khác. Chúng ta không chỉ chiến đấu
vì độc lập, tự do của đất nước mình mà còn vì độc lập, tự do của các
nước khác, không chỉ bảo vệ lợi ích sống còn của dân tộc mình mà còn vì
mục tiêu cao cả của thời đại: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ
nghĩa xã hội.
c) Dựa vào sức mình là chính, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội
chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ, đồng thời không quên
nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình
Trong mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, bao giờ
Hồ Chí Minh cũng thích cực và quan tâm đến phát huy sức mạnh của dân
tộc, coi nguồn lực nội sinh giữ vai trò quyết định, còn nguồn lực ngoại sinh
chỉ phát huy được tác dụng thông qua nguồn lực nội sinh. Vì vậy, trong đâu
tranh cách mạng, HCM luôn luôn nêu cao khẩu hiệu “tự lực cánh sinh, dựa
vào sức mình là chính”, “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự
giúp lấy mình đã”. Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân
tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập.
“Tự giải phóng” là tư tưởng, quan điểm lớn, xuyên suốt tư tưởng HCM.
Trong lời kêu gọi gửi tới những người anh em ở các thuộc địa, Người viết:
An hem phải làm thế nào để được giải phóng? Vận dụng công thức của
C.Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ
có thể thực hiện được bằng sự nỗ lực của bản thân anh em.
Chính vì đánh giá cao sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân
tộc mà HCM đã đi tới luận điểm: cách mạng thuộc địa không những không
phụ thuộc vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc mà trong điều
kiện lịch sử nhất định, có thể và cần thiết phải chủ động tiến hành trước và
bằng thắng lợi của cách mạng thuộc địa mà góp phần “giúp đỡ những anh
em của mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”.
Hồ Chí Minh cho rằng, muốn tranh thủ được sức mạnh thời đại, ngoài sức
mạnh cần thiết bên trong, còn phải có đường lối độc lập tự chủ đúng đắn
mới tranh thủ được sức mạnh thời đại. Cuộc kháng chiến chống Mỹ của
nhân dân ta diễn ra trong bối cảnh lịch sử phức tạp, đó là sự chia rẽ của hệ
thống XHCN, của phong trào cách mạng thế giới. Để tranh thủ được sự
đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới, Đảng ta và HCM đề ra đường
lối kết hợp chặt chẽ mục tiêu đấu tranh cho độc lập, thống nhất của dân tộc
mình với mục tiêu của thời đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ
nghĩa xã hội.
Nêu cao chủ nghĩa yêu nước kết hợp với chủ nghĩa quốc tế, tranh thủ cao
nhất sự ủng hộ và giúp đỡ của loài người tiến bộ, nhân dân ta đồng thời
thực hiện tích cực nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình. HCM đã nhiều lần
nhắc nhở: phải coi cuộc đấu tranh của bạn cũng như cuộc đấu tranh của
ta… Người cùng một hội, một thuyền phải giúp đỡ lẫn nhau”. Người đặc
biệt coi trong xây dựng khối đoàn kết Việt Nam, Lào, Campuchia – ba nước
cùng cảnh ngộ thuộc địa trên bán đảo Đông Dương trong cuộc đấu tranh
giải phóng đất nước. Trong kháng chiến chống chủ nghĩa đế quốc thực dân,
tư tưởng HCM đã định hướng cho việc hình thành ba tầng mặt trận: mặt
trận đại đoàn kết dân tộc; mặt trận đoàn kết VN, Lào, Campuchia; mặt trận
nhân dân thế giới đoàn kết với VN chống đế quốc xâm lược. Đây thực sự là
sự phát triển rực rỡ nhất và thắng lợi to lớn nhất của tư tưởng đại đoàn kết
của HCM.
Nhờ có sự giúp đỡ của quốc tế, VN đã giành thắng lợi hoàn toàn trong hai
cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, song cũng bằng
việc đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, VN ta đã góp phần
quan trọng làm suy yếu chủ nghĩa đế quốc, từng bước hạn chế và làm thất
bại âm mưu gây chiến tranh thế giới của chúng, góp phần củng cố hòa bình
và dân chủ trên thế giới, mở rộng và tăng cường lực lượng cho chủ nghĩa xã
hội.
d) Có quan hệ hữu nghị, hợp tác, sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước
dân chủ”
Sinh ra và lớn lên ở một nước thuộc địa, phong kiến lạc hậu, bôn ba khắp
thế giới đi tìm con đường cứu nước, cứu dân, hơn ai hết, HCM là người
thấu hiểu sâu sắc nỗi nhục mất nước của các dân tộc và sự thống khổ của
nhân dân lao động tất cả các nước trên thế giới. vì vậy, trong suốt cuộc đời
hoạt động của mình, HCM luôn luôn chăm lo xây dựng, vun đắp cho tình
hữu nghị, hợp tác và đoàn kết giữa nhân dân các nước theo tinh thần “ bốn
phương vô sản đều là anh em” nhằm tạo nên sức mạnh to lớn cho sự nghiệp
cách mạng của các dân tộc.
Những năm bôn ba tìm đường cứu nước, HCM đã từng sống, làm việc,
hoạt động ở nhiều nước do đó có vinh dự là người đặt cơ sở đầu tiên cho
tình hữu nghị giữa nhân dân VN với nhân dân nhiều nước trên thế giới. Sau
khi nước ta giành được độc lập, Người đã nhiều lần tuyên bố: “Chính sách
ngoại giao của Chính phủ thì chỉ có một điều tức là than thiện với tất cả các
nước dân chủ trên thế giới để giữ gìn hòa bình” . “Thái độ của nước VN đối
với tất cả những nước Á châu là một thái độ anh em đối với ngũ cường là
một thái độ bạn bè”…
Thực hiện quan điểm đối ngoại hòa bình, hữu nghị, HCM đã thể hiện là
một nhà ngoại giao mẫu mực, vừa cứng rắn về nguyên tắc, vừa mềm dẻo về
sách lược, “Dĩ bất biến ứng vạn biến”. Phong cách đối ngoại của HCM là
phong cách ứng xử văn hóa, mà hạt nhân là ứng xử có lý, có tình. HCM chủ
trương giương cao ngọn cờ hòa bình, đoàn kết quốc tế, đồng thời luôn phân
biệt rõ bạn , thù của cách mạng, tỉnh táo với mọi âm mưu xấu xa của thế
lực phản động quốc tế, trân trọng mọi sự giúp đỡ, hợp tác chân thành,
nhưng cũng kiên quyết đấu tranh chống sự chia rẽ, xâm lược.
Trong lời kêu gọi gửi tới Liên hợp quốc năm 1946, HCM nêu rõ: “Trong
chính sách đối ngoại của mình, nhân dân VN sẽ tuân thủ những nguyên tắc
dưới đây:
1. Đối với Lào và Miên, nước VN tôn trọng nền độc lập của hai nước
đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt
đối giữa các nước có chủ quyền.
2. Đối với các nước dân chủ, nước VN sẵn sàng thực thi chính sách
mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:
a. Nước VN dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư
bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của
mình
b. Nước VN sẵn sang mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao
thong cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.
c. Nước VN chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc
tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc.
d. Nước VN sẵn sang ký kết với các lực lượng hải quân, lục quân
trong khuôn khổ Liên hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt
và những hiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải
quân và không quân”
Trong quan hệ rộng mở với nhân dân các nước,HCM đã dành ưu tiên cho
mối quan hệ với các nước XHCN anh em. Đối với Lào và Campuchia,
những nước trên bán đảo Đông Dương, HCM luôn có mối quan tâm đặc
biệt, ra sức xây dựng quan hệ đoàn kết về mọi mặt nhằm hình thành liên
minh chiến đấu chống kẻ thù chung. Người cũng hết sức coi trọng, thiết lập
mối quan hệ hữu nghị, láng giềng với các nước trong khu vực dù có chế độ
chính trị khác nhau. Những hoạt động ngoại giao không mệt mỏi của Người
đã nâng cao địa vị của VN trên trường quốc tế, trong đó phe XHCN cũng
như trong các nước thuộc thế giới thứ ba. Đồng thời qua đó, HCM và Đảng,
Nhà nước ta đã có những đóng góp tích cực, chủ động vào cuộc đấu tranh
bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tăng cường hữu nghị giữa
các nước, các dân tộc.
Tóm lại, với trí tuệ của mình, với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, với đức
độ khiêm nhường, thái độ thiện chí, HCM đã vượt qua mọi trở ngại, khó
khăn, từ trong những mối quan hệ chồng chéo, phức tạp của thời đại, để ra
được chủ trương, phương châm, phương pháp, đối sách, ứng xử quốc tế
đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với mỗi tình hình mỗi giai đoạn cách mạng. tư
tưởng đó của HCM đã phát huy tối đa sức mạnh dân tộc trong sự kết hợp
với sức mạnh thời đại để đưa cách mạng VN từng bước đi tới những thắng
lợi như ngày nay và góp phần tích cực, xứng đáng vào sự nghiệp chung của
nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.

Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại
trong tiến trình cách mạng Việt Nam
Để thực hiện tốt việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, Hồ
chủ tịch và Đảng ta cụ thể hóa những tư tưởng về đoàn kết quốc tế thành
hành động trong suốt tiến trình cách mạng.
Ngay từ năm 1924,HCM đã đưa ra quan điểm về thành lập “mặt trận
thống nhất của nhân dân chính quốc và thuộc địa” chống chủ nghĩa đế quốc,
đồng thời kiến nghị Quốc tế cộng sản cần có giải pháp cụ thể để đến đại hội
VI (năm 1928) quan điểm này trở thành sự thật.
Đối với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương, Đảng ta và HCM dành
sự quan tâm đặc biệt. Năm 1941, khơi dậy sức mạnh và quyền tự quyết mỗi
dân tộc, thành lập riêng biệt Mặt trận đồng minh cho từng nước VN, Lào,
Campuchia, tiến tới thành lập Đông Dương độc lập đồng minh. Trong hai
cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, chỉ đạo việc hình thành Mặt
trận đoàn kết Việt – Miên – Lào phối hợp giúp đỡ nhau cùng chiến đấu,
cùng thắng lợi.
Từ những năm 20 của thế kỷ XX, cùng với việc sáng lập Hội liên hiệp
thuộc địa tại Pháp, HCM đã tham gia sáng lập Hội liên hiệp các dâ tộc bị áp
bức tại Trung Quốc. Đây là hình thức sơ khải của mặt trận thống nhất các
dân tộc bị áp bức theo xu hướng vô sản, lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử
phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Với việc tham gia sáng lập tổ chức
này, HCM đã góp phần đặt cơ sở cho sự ra đời của Mặt trận nhân dân Á-Phi
đoàn kết với Việt Nam.
Trong những năm đấu tranh giành độc lập, HCM tìm mọi cách xây
dựng các quan hệ với Mặt trận dân chủ và lực lượng Đồng minh chống phát
xít, nhằm tạo thế dựa cho cách mạng Việt Nam. Trong kháng chiến chống
Pháp và chống Mỹ, bằng hoạt động ngoại giao không biết mệt mỏi, HCM
đã nâng cao vị thế của VN trên trường quốc tế, tranh thủ được sự đồng tình,
ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, của bạn bè quốc tế và nhân
loại tiến bộ, trong đó có cả nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ, hình thành Mặt
trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam chống đế quốc xâm lược.
Đặc biệt, trong cuộc đụng đầu với Mỹ, yếu tố thời đại có tác động rất
lớn đến so sánh lực lượng giữa ta và địch. Do đó, Đảng ta chủ trương,
trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải thực hiện cho được vấn đề đoàn kết
với các lực lượng cách mạng trên thế giới, phải chăm lo vun đắp và phát
triển sự đoàn kết giữa nước ta với các nước trong hệ thống xã hội chủ
nghĩa, trước hết là với Liên Xô, Trung Quốc, lấy đó làm cơ sở, làm hạt
nhân để mở rộng đoàn kết với tất cả những người cộng sản, những lực
lượng cách mạng, hòa bình, dân chủ và tiến bộ khác trên thế giới. Đây là
một thành công có ý nghĩa chiến lược trong hoạt động đối ngoại của
Đảng ta, đặc biệt trong việc xây dựng, củng cố quan hệ hữu nghị với Liên
Xô, Trung Quốc, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của hai nước từ đầu
cho đến kết thúc chiến tranh.
Trong những năm tháng chiến tranh, các nước xã hội chủ nghĩa nói
chung, hai nước Liên Xô và Trung Quốc nói riêng đã dành cho sự nghiệp
kháng chiến của ta sự giúp đỡ quý báu. Hai nước đã ủng hộ, cổ vũ Việt
Nam mạnh mẽ, góp phần kiềm chế chính sách phiêu lưu của các thế lực
xâm lược hiếu chiến. Tổng số viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa cho
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta ước tính trị giá
khoảng bảy tỷ rúp (ba tỷ USD theo tỷ giá lúc bấy giờ), trong đó phần lớn
là từ Trung Quốc và Liên Xô (1).
Đối với nhân dân và các lực lượng hòa bình tiến bộ trên thế giới, trước
những thủ đoạn ngoại giao và luận điệu tuyên truyền đánh lạc hướng dư
luận, biện hộ cho hành động xâm lược của Mỹ, ta đẩy mạnh công tác

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét