4
Ngoài các doanh nghiệp tư nhân và thuộc sở hữu Nhà nước, những
công ty niêm yết trên Thị trường chứng khoán cũng đang là những đầu mối
hút vốn gián tiếp quan trọng. thị trường chứng khoán Việt Nam cũng bắt đầu
có những sự khởi sắc nhất định trong giai đoạn vừa qua.
Cho tới thời điểm hiện nay, đã có 41 công ty niêm yết tại Trung tâm
Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM và 11 công ty đăng ký giao dịch tại Trung
tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Dữ liệu thị trường vào trung tuần tháng
7/2006 cho thấy mức vốn hoá của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán
Tp.HCM ước đạt 44.442 tỷ VND, và của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán
Hà Nội là 15.000 tỷ VND.
Tổng mức vốn hoá của toàn bộ thị trường tại thời điểm này ước chiếm
tỷ trọng 7,6% GDP (khoảng 3,8 tỷ USD). Trong thời gian sắp tới, sẽ có ít nhất
7 công ty nữa được cấp phép niêm yết và dự kiến thị trường sẽ chiếm tỷ trọng
ít nhất 8,5% GDP trong năm nay.
Sự phát triển chung của cả nền kinh tế cùng những cải cách mạnh mẽ
về thể chế và khuôn khổ pháp lý trong nỗ lực gia nhập WTO đã được các nhà
đầu tư nước ngoài chú ý.
4. Thị trường vốn tác động đến tăng trưởng tới nền kinh tế
của đất nước .
Theo các lý thuyết về đầu tư như : lý thuyết về đầu tư , lý thuyết gia tốc
đầu tư , lý thuyết q về đầu tư thì vốn có tác động rất lớn tới sự phát triển kinh
tế.
Như ta đã biết thì vốn được huy động từ rất nhiều nguồn khác nhau
trong đó có thị trường vốn . Theo tính chất bắc cầu trong kinh tế thì thị trường
vốn cũng có một tác động rất lớn tới sự phát triển kinh tế của đất nước
Ta có thể thông qua hình vẽ dưới đây để có thể hiểu được tầm quan
trọng của vốn đầu tư với sự tăng trưởng của nền kinh tế
Tăng trưởng kinh tế
5
vốn đầu tư
Từ bảng trên ta có thể thấy được tầm quan trọng của nguồn vốn đầu tư
tác động tới sự tăng trưởng kinh tế .
Khi nguồn vốn đầu tư tăng thì khối lượng sản phẩm sản xuất ra tăng ,
từ đó làm tăng tổng thu nhập quốc dân , làm cho GDP tăng từ đó làm cho nền
kinh tế tăng trưởng .
Tuy nhiên khi nguồn vốn đầu tư tăng đến một mức nào đó thì kinh tế
không thể tăng trưởng thêm đựơc do nền kinh tế còn phụ thuộc rất nhiều yếu
tố khác nhau như : lao động , tài nguyên thiên nhiên, hay chính sách tài khoá
của chính phủ .
Nước ta xuất phát từ một nước nghèo nàn và lạc hậu thì nguồn vốn lại
là một yếu tố vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước.
Không có tiền chúng ta không thể làm được gì , không có tiền chúng ta không
thể mọc thêm các nhà máy sản xuất , không thể tận dụng nguồn lao động dồi
dào của nước ta , không thể tận dụng những gì mà thiên nhiên đã ban tặng cho
chúng ta .
Kể từ khi đất nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang
nền kinh tế thị trường thì nguồn vốn là một điều rất quan trọng. Chính phủ đã
cố gắng tạo ra những cơ chế chính sách hợp lý tuỳ thuộc vào từng hoàn cảnh
của đất nước ta, để có thể phát huy tối đa mọi khả năng và nguồn lực của đất
nước.Và, cũng từ đó thì thị trường vốn cũng dần dần mở cửa khi chúng ta hội
nhập kinh tế thế giới.
6
Thị trường vốn của nước ta trong những năm qua có sự phát triển mạnh
mẽ vượt bậc so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Có thể thấy rất rõ
trên thị trường vốn quốc tế. Mặc dù, thị trường vốn của ta còn non trẻ nhưng
bước đầu khi hội nhập kinh tế thế giới đã khẳng định được vai trò của mình
trên trường quốc tế.
Hiếm thấy lần phát hành trái phiếu Chính phủ đầu tiên nào thu được
thành công như của Việt Nam" là nhận định được nhiều nhà đầu tư nước
ngoài đưa ra. Bằng chứng là ngay ngày đầu tiên tại Hong Kong (19.10), số
lượng các nhà đầu tư đặt mua đã đạt khoảng 1 tỷ USD, gấp 2 lần số lượng trái
phiếu Chính phủ Việt Nam định phát hành. Đến ngày 26.10, sau khi Chính
phủ quyết định tăng khối lượng phát hành thêm 250 triệu USD, số lượng các
nhà đầu tư đặt mua đã tăng lên tới hơn gấp 3 lần từ mức trên 1 tỷ USD lên
khoảng 3 tỷ USD. Ngày định giá trái phiếu, 29/10, số lượng các nhà đầu tư
đặt mua đã lên tới con số kỷ lục 4,5 tỷ USD, tức là gấp 6 lần mức Chính phủ
Việt Nam phát hành trong đợt này. Đặc biệt, có ngân hàng của Malaysia còn
dùng cả tiền dự trữ để tham gia mua 50 triệu USD. Điều này chứng tỏ, sức hút
mạnh mẽ của trái phiếu Việt Nam trên thị trường vốn quốc tế.
Ngoài ra thì cùng với tốc độ tăng trưởng khá cao của nền kinh tế Việt
Nam, tình hình hoạt động kinh doanh của phần lớn công ty niêm yết (CTNY)
đều đạt những kết quả khả quan. Các công ty lớn trên thị trường như REE,
Gemadept, Sacom … đều hoàn thành kế hoạch lợi nhuận trong năm. Một số
công ty như Khahomex, Hacisco… cũng đã thành công trong việc phát hành
thêm cổ phiếu để huy động vốn cho các dự án đầu tư mới. Bên cạnh đó, nhờ
thị trường khởi sắc hơn và tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước diễn
ra mạnh mẽ hơn nên hoạt động của các công ty chứng khoán cũng đa dạng
hơn và phần lớn đều đạt hiệu quả cao hơn mọi năm.
Qua đó chúng ta đã giải quyết được tình trạng thiếu vốn của các doanh
nghiệp trong nước hiện nay. Và hiện nay thì chính phủ đang có đề án tiếp tục
phát hành trái phiếu thêm 500 triệu đôla để kịp thời đáp ứng nhu cầu sản xuất
7
của các doanh nghiệp trong vốn . Vấn đề quan trọng nhất bây giờ là khi có
vốn thì làm sao có thể phát huy được tối đa những nguồn vốn đó.
5. Thị trường vốn làm đa dạng hoá các cơ hội đầu tư cho các
chủ đầu tư.
Trước kia khi chưa có thị trường vốn thì các nhà đầu tư thường không
có nhiều cơ hội đầu tư, nhất là những nhà đầu tư có quy mô vốn nhỏ , những
người có vốn nhàn rỗi .
Hiện nay , khi thị trường vốn xuất hiện thì đã tạo ra rất , rất nhiều cơ
hội đầu tư cho các nhà đầu tư. Chỉ tính riêng trên thị trường chứng khoán hiện
nay đã có trên 40 doanh nghiệp cổ phần được niêm yết trên thị trường chứng
khoán tập trung và còn rất nhiều doanh nghiệp khác trên thị trường OTC.
Chính điều này đã làm tăng khả năng cạnh tranh nhau về vốn trên thị trường
vốn. Chẳng hạn ,trên thị trường không chính thức, các hoạt động mua bán cổ
phiếu diễn ra hết sức sôi động với hơn 100 loại cổ phiếu được giao dịch khá
thường xuyên; trong đó có những tên tuổi nổi tiếng như Vinamilk, Giống Cây
trồng miền Nam, Dầu Tường An, Dược Hậu Giang, Bảo Minh, Sacombank,
ACB, Eximbank… Cùng với nỗ lực đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá các
doanh nghiệp nhà nước và được khích lệ bởi sự tăng trưởng trở lại của thị
trường chứng khoán chính thức, các đợt đấu giá bán cổ phần ra công chúng
thật sự “bùng nổ” và đã thu hút sự quan tâm rất lớn của công chúng đầu tư
cũng như của toàn bộ người dân.
Tuy nhiên thì số lượng nhà đầu tư tham gia trên thị trường chứng khoán
chưa nhiều như mong đợi, diễn biến giao dịch trên thị trường có những giai
đoạn trầm lắng, nhiều công ty vẫn còn tình trạng thiếu minh bạch trong công
bố thông tin khi đấu giá bán cổ phần lần đầu ra công chúng
Cho tới thời điểm hiện nay, đã có 41 công ty niêm yết tại Trung tâm
Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM và 11 công ty đăng ký giao dịch tại Trung
tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Dữ liệu thị trường vào trung tuần tháng
8
7/2006 cho thấy mức vốn hoá của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán
Tp.HCM ước đạt 44.442 tỷ VND, và của Trung tâm Giao dịch Chứng khoán
Hà Nội là 15.000 tỷ VND.
Tổng mức vốn hoá của toàn bộ thị trường tại thời điểm này ước chiếm
tỷ trọng 7,6% GDP (khoảng 3,8 tỷ USD). Trong thời gian sắp tới, sẽ có ít nhất
7 công ty nữa được cấp phép niêm yết và dự kiến thị trường sẽ chiếm tỷ trọng
ít nhất 8,5% GDP trong năm nay.
6. Thị trường vốn tạo điều kiện để thực hiện các chính
sách kinh tế vi mô.
Thị trường vốn có một ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế
của các nước có nền kinh tế thị trường. Thị trường vốn mà cốt lõi là thị
trường chứng khoán như một trung tâm thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi của
các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, của chính phủ và địa phương tạo
thành một nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế.
Thị trường vốn hoạt động dựa theo những tín hiệu của thị trường như
lãi suất , hệ số tín nhiệm, độ rủi ro. Thị trường vốn như một cái van điều tiết
của nền kinh tế, điều tiết từ nơi sử dụng vốn không hiệu quả sang đến nơi sử
dụng vốn có hiệu quả hơn, từ nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn. Do đó thị
trường vốn đã góp phần giúp chính phủ và các tổ chức tài chính điều tiết cho
nền kinh tế.
Thông qua thị trường vốn, chính phủ và các địa phương có thể huy
động vốn cho các dự án đầu tư vào các công trình của mình hoặc huy động
vốn cho ngân sách bằng việc phát hành các loại công cụ nợ như trái phiếu,
công trái… nhìn từ thực tế ta thấy đây là hình thức huy động vốn rất tích cực,
nó góp phần vào việc kiềm chế lạm phát do không phải phát hành thêm tiền
vào lưu thông nhằm phục vụ cho nhu cầu chi tiêu .
Thực tế đã chính minh điều đó rất rõ, từ khi xuất hiện thị trường vốn thì
thị trường tài chính của Việt Nam đã được ổn định rất nhiều , không còn
9
những biến động quá lớn trên thị trường tài chính, tạo điều kiện cho sự phát
triển kinh tế đất nước. trên thị trường vốn thì bất cứ khoản vốn nào được sử
dụng đều phải trả giá do vậy mà người sử dụng vốn phải quan tâm rất nhiều
đến khả năng sinh lợi của mỗi đồng vốn bỏ ra.
Khi đất nước ta chưa có cải cách kinh tế thì tình hình tài chính của Việt
Nam rất rối ren, và mang tính khó lường. Tỉ lệ lạm phát tăng cao, có khi đến
hàng trăm phần trăm, người dân không dám cầm tiền mặt trong tay do sợ mất
giá đồng tiền , từ đó kinh tế chậm phát triển ,đời sống nhân dân gặp rất nhiều
khó khăn. Nhưng còn hiện nay, do có những chính sách tài chính ổn định
cùng với sự xuất hiện của thị trường vốn thì thị trường tài chính của Việt Nam
đã ổn định đi rất nhiều , không còn những con số lạm phát cao như trước đây
nữa mà thay vào đó là tỉ lệ lạm phát luôn luôn nằm trong phạm vi được kiểm
soát .
Thông qua thị trường vốn thì chính phủ đã điều tiết và thực hiện những
chính sách kinh tế của mình nhằm phục vụ cho nhu cầu chi tiêu của mình và
nhằm bình ổn giá cả , bình ổn thị trường tài chính , từ đó phục vụ cho nhu cầu
phát triển kinh tế của doanh nghiệp ,của đất nước.
7. Thị trường vốn là công cụ đánh giá, dự báo chu kì kinh
doanh của các doanh nghiệp của nền kinh tế.
Đứng trên quan điểm của chính phủ và trên quan điểm của các doanh
nghiệp thì thị trường vốn thực sự là cầu nối giữa doanh nghiệp , nhà nước và
thị trường. Thị trường vốn như cái van điều tiết hữu hiệu các nguồn huy động
vốn và sử dụng vốn .
Do đó mà thông qua thị trường vốn mà các doanh nghiệp và chính phủ
thường lấy tín hiệu từ thị trường vốn làm căn cứ điều chỉnh những chính sách
và kế hoạch của mình cho phù hợp với điều kiện thực tế của thị trường .
Với chính phủ thì phải ban hành những quy định và chính sách kinh tế
ngày càng hợp lý hơn, ngày càng đi sâu đi sát vào tình hình trên thị trường
10
vốn hơn. Chẳng hạn như : Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 1/1/2005 của
Chính phủ về quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài giúp Chính phủ xây
dựng một cơ chế quản lý nợ an toàn, hiệu quả, thống nhất, và mang tính
chuyên nghiệp; góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền trên cơ sở đảm bảo
sự nhất quán và đồng bộ trong hệ thống văn bản pháp lý hiện hành, đảm bảo
sự không phân biệt giữa các thành phần kinh tế trong việc tiếp cận nguồn vốn
của Chính phủ. Đạt được mục tiêu giám sát có hiệu quả hơn các nghĩa vụ dự
phòng và rủi ro tiềm ẩn đối với ngân sách Nhà nước và dự trữ ngoại tệ quốc
gia. Đồng thời tiến dần tới áp dụng các thông lệ được quốc tế thừa nhận rộng
rãi, nhằm hỗ trợ quá trình hội nhập kinh tế-tài chính khu vực và quốc tế của
nước ta. Môi trường đầu tư được cải thiện thông qua việc đổi mới chính sách
theo hướng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, đặc biệt là việc ban hành Luật
Đầu tư chung và Luật Doanh nghiệp thống nhất tạo sân chơi bình đẳng cho tất
cả các doanh nghiệp. Việc theo dõi, thu thập, xử lý thông tin quản lý đảm bảo
thường xuyên, kịp thời đối với mọi hoạt động thuộc lĩnh vực quản lý. Quy
trình huy động, đàm phán ký kết các Hiệp định vay, thủ tục giải ngân, thanh
toán, thu hồi vốn, trả nợ từ nguồn vốn nước ngoài đã được cải tiến theo hướng
giảm bớt thủ tục, thời gian và từng bước hài hoà với thông lệ quốc tế. Việc bố
trí sử dụng vốn đã được quy định một cách rõ ràng, trong đó xác định rõ
những loại dự án nào được ngân sách Nhà nước cấp, dự án phải vay lại, đồng
thời tăng thêm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong việc vay vốn thương
mại nước ngoài của các doanh nghiệp, gắn trách nhiệm sử dụng vốn hiệu quả,
tạo ra khả năng trả nợ và góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay và
viện trợ nước ngoài
Đối với các doanh nghiệp thì thị trường vốn là một căn cứ rất quan
trọng trong sự phát triển kinh tế của doanh nghiệp, nhất là với các công ty cổ
phần , các công ty trách nhiệm hữu hạn có quy mô vốn hầu hết là vừa và nhỏ.
Để tăng quy mô sản xuất thì các doanh nghiệp cần phải áp dụng nhiều biện
pháp khác nhau,và một trong những yếu tố là cần phải tăng quy mô vốn để
11
đáp ứng nhu cầu sản xuất của công ty. Để có thể tăng quy mô vốn cho việc
sản xuất của mình thì có thể áp dụng nhiều phương thức huy động vốn khác
nhau như vay vốn của tổ chức tín dụng, tiền trợ cấp từ ngân sách nhà nước,
hay thế chấp tài sản của doanh nghiệp khi vay vốn của ngân hàng… nhưng
hầu hết các biện pháp trên đều gặp rất nhiều khó khăn khi huy động vốn do có
nhiều lý do khác nhau. Chẳng hạn muốn vay vốn của ngân hàng thì các doanh
nghiệp phải có dự án cụ thể có khả năng thu hồi vốn cao, nếu không phải thế
chấp bằng tài sản hiện có của công ty, nếu doanh nghiệp muốn được nhận trợ
cấp từ chính phủ thì phải qua rất nhiều khâu, nhiều giai đoạn khác nhau mới
có thể nhận được nguồn vốn từ ngân sách. Hiện nay thì nguồn vốn ngân sách
không còn nữa khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO do đó các doanh
nghiệp sẽ phải huy động vốn trên thị trường vốn. Chính thị trường vốn sẽ là
nơi huy động vốn một cách tốt nhất , đáp ứng một cách đầy đủ và nhanh
chóng về vốn cho các doanh nghiệp. Và cũng chính thị trường vốn là căn cứ ,
là tín hiệu , là công cụ dự báo chu kì kinh doanh cho các doanh nghiệp khi đi
quyết định đi vay vốn.
II .Tình hình thu hút vốn trên thị trường vốn
1. Toàn cảnh thu hút vốn đầu tư trên thị trường vốn .
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã được 6 năm hình thành và phát
triển. Trong đó, khi mở cửa để đón các nhà đầu tư nước ngoài, thị trường
chứng khoán bắt đầu có những chuyển biến tích cực. Đa số các nhà đầu tư
nước ngoài đến Việt Nam đều đã nghiên cứu khá kỹ lưỡng thị trường này.
Việt Nam được xem như là “một Trung Quốc Mới” như nhận định gần đây
của một số tờ báo.
Tuy nhiên, khoảng cách của Việt Nam và các nước trong khu vực còn
khá xa. Đặc biệt về độ lớn của thị trường và số lượng chứng khoán niêm yết.
Toàn bộ giá trị thị trường hiện nay nằm ở mức 5.3 tỷ USD. Và với thói quen
đầu tư của người Việt hiện nay, số tiền còn “dự trữ dưới gối” là con số rất lớn
12
lên đến hàng chục tỉ đô la Mỹ, và số tiền này chưa được đưa vào đầu tư, tuy
nhiên vẫn không thể so với nguồn vốn dồi dào từ các nhà đầu tư nước ngoài
của quốc tế nằm ở mức hơn hàng trăm tỷ USD vẫn còn chờ nơi để đầu tư chủ
yếu thông qua các định chế tài chính (financial institutions) và công ty quản lý
quỹ (fund managers).
Thị trường của Việt Nam hiện nay chủ yếu là sân chơi của các nhà đầu
tư nhỏ lẻ, thiếu kinh nghiệm phân tích, mua bán nên thị trường thường xoay
chuyển theo “cảm xúc” và những tin đồn, nhưng khi các nhà đầu tư chuyên
nghiệp gồm các định chế tài chính và công ty quản lý quỹ bước vào, với các
công cụ phân tích chuyên nghiệp, thị trường sẽ hoạt động một cách bài bản
hơn, và có động lực mua bán nhiều hơn.
Số lượng các công ty quản lý quỹ hiện nay tại Việt Nam còn ít và đa số
là các đại gia của nước ngoài, có khả năng khống chế lớn hoạt động mua bán.
Vì sao? Hiện nay, thủ tục gia nhập thị trường vốn Việt Nam khá phức tạp, đặc
biệt là khâu xin Mã Giao Dịch (Trading Code). Đối với cá nhân thì công việc
này không có gì quá phức tạp, nhưng đối với các định chế tài chính thì tốn
khá nhiều thời gian. Nhận thức được vấn đề này, chúng tôi đã làm công việc
này giúp cho các nhà đầu tư nhằm tạo điều kiện dễ dàng hơn cho họ khi đến
Việt Nam kinh doanh. Thiết nghĩ, đây cũng là phương thức tốt để tạo môi
trường với nhiều người bán, người mua. Và trên hết, tạo thuận lợi, cạnh tranh
công bằng cho các quỹ đầu tư hoạt động tại Việt Nam.
2. Thị trường vốn đầu tư gián tiếp
Theo các chuyên gia về lĩnh vực đầu tư và tài chính nước ngoài thì thị
trường vốn đầu tư gián tiếp của Việt Nam là một thị trường đầy tiềm năng.
Cùng với việc tăng trưởng GDP của Việt Nam và có thể duy trì ở mức
8%/năm trong năm năm tới, thậm chí còn có thể nhanh hơn nếu có chính sách
cởi mở, thông thoáng hơn. Thì việc các nhà đầu tư nước ngoài chấp nhận trái
phiếu quốc tế VN cũng là một tín hiệu tốt cho lĩnh vực đầu tư gián tiếp vào
VN.
13
Theo VinaCapital, sau cuộc khủng hoảng tài chính khu vực cuối thập
niên 1990, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào VN đã tăng trở lại. Tuy
nhiên, con số vẫn còn thấp so với đầu tư trực tiếp nước ngoài, chiếm khoảng
1,2% năm 2002 và tăng lên 3,7% năm 2004. Trong khi đó, tỉ lệ này ở Thái
Lan, Malaysia và Trung Quốc là 30-40%. “Các quĩ đầu tư có mặt tại đây đang
nắm giữ một lượng vốn khoảng 100 tỉ USD. Chỉ cần họ đồng ý chi 1% trong
số này vào VN là chúng ta đã có 1 tỉ USD” - ông Don Lam, tổng giám đốc
VinaCapital, nói.
Ông Bill Vanperfelt một nhà đầu tư Bỉ lại cho rằng quy định của Chính
phủ cho phép nhà đầu tư nước ngoài mua 49% cổ phần trong các doanh
nghiệp VN là tín hiệu mở ra khả năng cho thấy sẽ có nhiều nhà đầu tư gián
tiếp khác “đổ” vào VN thời gian tới.
Và thực tế đã chứng minh điều này khi Việt Nam mở cửa thị trường
vốn của mình với những chính sách thông thoáng hơn. Các doanh nghiệp , các
tổ chức tài chính nước ngoài đã chính thức nhảy vào thị trường vốn của Việt
Nam một cách nhanh chóng với một tốc độ chóng mặt.
Ngày càng có nhiều quỹ đầu tư nước ngoài công khai ý định đổ tiền
vào Việt Nam, nhất là sau khi Merrill Lynch tung ra báo cáo về sự tăng
trưởng khả quan của nền kinh tế Việt Nam và tin mới nhất được hãng thông
tấn Reuters phát đi.
Giữa tháng 3/2006, Công ty Quản lý quỹ VinaCapital mới chính thức
khai trương Quỹ Bất động sản VinaLand, nhưng số tiền mà các nhà đầu tư
nước ngoài góp vào quỹ đã lên tới gần 65 triệu đô la Mỹ, vượt mức dự kiến
15 triệu Đôla Mỹ
Theo ngài Don Lam, Giám đốc VinaCapital, nói công ty đang chạy đua
với thời gian vì thời gian này chính là cơ hội: “Đầu tư tín dụng của ngân hàng
cho địa ốc đang chựng lại. Một số ngân hàng không những không “bơm”
thêm vốn, mà còn cân nhắc rút bớt vốn khỏi lĩnh vực này. Điều đó có khả
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét