Thứ Bảy, 1 tháng 3, 2014
Đề tài “Hoàn thiện kế toán nghiệp vụ tiêu thụ thành phẩm tại Công ty SX&DVXK Nguyễn Hoàng trong điều kiện vận dụng chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác””
LỜI MỞ ĐẦU
Sản xuất ra của cải vật chất là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài
người. Cùng với xã hội, các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đã,
đang và sẽ ngày càng được mở rộng, phát triển không ngừng.
Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước,
các doanh nghiệp đang có một môi trường sản xuất kinh doanh thuận lợi: tự do phát
triển, tự do cạnh tranh và bình đẳng trước pháp luật, thị trường trong nước được mở
cửa; song cũng vấp phải không ít khó khăn từ sự tác động của quy luật cạnh tranh của
cơ chế mới. Để vượt qua quá trình chọn lọc, đào thải khắt khe của thị trường, các doanh
nghiệp phải giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp mình, trong đó, việc đẩy mạnh sản xuất và tiêu thụ sản phẩm là vấn đề
mang tính sống còn của doanh nghiệp.
Thực hiện sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trường, kế toán là một trong những
công cụ quản lý đắc lực ở các doanh nghiệp. Công tác kế toán bao gồm nhiều khâu,
nhiều phần hành khác nhau nhưng giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ gắn bó tạo thành
một hệ thống quản lý hiệu quả. Trong số đó, kế toán tiêu thụ thành phẩm là một mắt
xích quan trọng không thể thiếu được. Bởi nó phản ánh tình hình biến động của thành
phẩm, quá trình tiêu thụ thành phẩm của doanh nghiệp.
Cùng với kiến thức đã được trang bị ở trường và thời gian thực tập tìm hiểu thực tế
công tác kế toán tại Công ty SX&DVXK Nguyễn Hoàng, em đã lựa chọn đề tài: “Hoàn
thiện kế toán nghiệp vụ tiêu thụ thành phẩm tại Công ty SX&DVXK Nguyễn Hoàng
trong điều kiện vận dụng chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác””
Đề tài được thực hiện nhằm nâng cao kiến thức của bản thân về chế độ kế toán hiện
hành nói chung và kế toán nghiệp vụ tiêu thụ thành phẩm nói riêng. Bên cạnh đó, đề tài
cũng đã đi sâu vào nghiên cứu kế toán tiêu thụ thành phẩm tại Công ty SX&DVXK
Nguyễn Hoàng để thấy được những ưu điểm cũng như tồn tại của Công ty, từ đó đưa ra
những giải pháp nhằm hoàn thiện nó. Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp thu
thập tài liệu, quan sát để gắn lý luận với thực tiễn.
5
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề tốt nghiệp của em gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về kế toán nghiệp vụ tiêu thụ thành phẩm trong doanh
nghiệp sản xuất.
Chương 2: Thực trạng kế toán nghiệp vụ tiêu thụ thành phẩm tại Công ty SX&DVXK
Nguyễn Hoàng.
Chương 3: Hoàn thiện kế toán nghiệp vụ tiêu thụ thành phẩm tại Công ty SX & DV
XK Nguyễn Hoàng.
Mặc dù đã hết sức cố gắng nhưng do hạn chế về thời gian, kiến thức cũng như kinh
nghiệm thực tiễn nên những thông tin em thu nhận được mới chỉ là những thông tin sơ
lược nhất về Công ty và cách giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra vẫn chưa hoàn toàn
thấu đáo.
Trong quá trình thực tập tại Công ty, em đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình, chu
đáo của cô giáo Nguyễn Phú Giang và sự giúp đỡ của các cô chú phòng kế toán tài
chính Công ty SX&DVXK Nguyễn Hoàng.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà nội tháng 11 năm 2007
Sinh viên thực hiện
BÙI THU HÀ
6
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ TIÊU THỤ THÀNH PHẨM
TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1. ĐẶC ĐIỂM NGHIỆP VỤ TIÊU THỤ THÀNH PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1.1. Khái niệm tiêu thụ thành phẩm
Trong doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ thành phẩm (hay còn gọi là bán hàng) là quá
trình trao đổi để thực hiện giá trị của sản phẩm tức là chuyển hoá vốn của doanh nghiệp
từ hình thái hiện vật sang hình thái giá trị. Tiêu thụ là khâu cuối cùng của chu trình sản
xuất. Hàng đem đi tiêu thụ có thể là tập đoàn, thì gọi là tiêu thụ nội bộ.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, điều quan trọng và mối quan tâm hàng đầu
của các doanh nghiệp là sản phẩm, hàng hoá của mình phải tiêu thụ được trên thị
trường, được thị trường chấp nhận về các phương diện: giá cả, chất lượng, mẫu mã,
Đây là vấn đề sống còn quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Quá trình
tiêu thụ thành phẩm hoàn tất khi hàng hoá được chuyển giao cho người mua và doanh
nghiệp đã thu tiền hàng hoặc khách hàng chấp nhận thanh toán.
1.1.2. Các phương thức tiêu thụ thành phẩm
Kết quả tiêu thụ thành phẩm trong doanh nghiệp sản xuất phụ thuộc vào việc sử
dụng các hình thức, phương pháp và thủ thuật bán hàng, thiết lập và sử dụng hợp lý các
kênh tiêu thụ, có chính sách đúng đắn, thực hiện tốt kế hoạch tiêu thụ hàng hóa của
doanh nghiệp. Có nhiều phương thức bán hàng khác nhau, song có 3 phương thức bán
hàng chủ yếu được áp dụng là bán buôn, bán lẻ và bán hàng đại lý.
1.1.2.1. Phương thức bán buôn:
Bán buôn là phương thức bán hàng cho người trung gian như các tổ chức kinh tế,
các đơn vị thương mại hay các đơn vị sản xuất để họ tiếp tục chuyển bán hoặc tiếp tục
gia công chế tạo sản phẩm mới.
Việc mua bán hàng hoá qua phương thức này thường được thực hiện thông qua các
hợp đồng mua bán hàng hoá. Đặc điểm của phương thức bán buôn là hàng hoá sau khi
7
bán vẫn còn trong khâu lưu thông, chưa đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Khối lượng
tiêu thụ tương đối lớn, bán theo từng lô.
Trong doanh nghiệp sản xuất thì chỉ áp dụng hình thức bán buôn qua kho. Đây là
hình thức bán hàng mà hàng hoá phải xuất phát từ kho của doanh nghiệp. Bán buôn qua
kho có 2 hình thức:
- Bán buôn trực tiếp qua kho: theo hình thức này, doanh nghiệp xuất hàng từ kho giao
trực tiếp cho người do bên mua uỷ nhiệm đến nhận hàng từ kho của doanh nghiệp. Sau
khi đại diện bên mua nhận đủ hàng, thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận nợ, hàng hoá
được xác định là tiêu thụ. Khi đó, quyền sở hữu hàng hoá chuyển từ người bán sang
người mua, mọi tổn thất mất mát trong quá trình vận chuyển do bên mua chịu trách
nhiệm.
- Bán hàng qua kho theo phương thức chuyển hàng: theo hình thức này, doanh nghiệp
xuất hàng từ kho, chuyển hàng đến cho bên mua tại địa điểm đã quy định theo hợp đồng
bằng phương tiện vận tải tự có hoặc thuê ngoài. Chi phí vận chuyển do sự thoả thuận từ
trước của hai bên. Nếu chi phí này do doanh nghiệp chịu thì được ghi nhận vào chi phí
vận chuyển, nếu không thì sẽ thu tiền của bên mua. Hàng gửi đi bán vẫn thuộc quyền sở
hữu của doanh nghiệp, khi nào bên mua ký nhận thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán
thì số hàng gửi bán đó được coi là đã tiêu thụ.
1.1.2.2. Phương thức bán lẻ:
Bán lẻ là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng, cho các tổ chức kinh
tế, tập thể mua với hình thức tiêu dùng. Phương thức này có đặc điểm là khối lượng
hàng hoá bán nhỏ nhưng rất đa dạng về chủng loại và mẫu mã. Sau khi hoạt động mua
bán diễn ra, hàng hoá tách khỏi lĩnh vực lưu thông, đi vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị
hàng hoá được thực hiện, bắt đầu vòng chu chuyển mới của hàng hoá.
Nếu phân loại theo hình thức phục vụ, bán lẻ có thể thực hiện dưới các hình thức sau:
+ Bán lẻ thu tiền trực tiếp: theo hình thức này, nhân viên bán hàng hoàn toàn chịu trách
nhiệm vật chất về số lượng hàng đã nhận bán ở quầy. Nhân viên bán hàng trực tiếp thu
tiền của khách và giao hàng cho khách. Nghiệp vụ bán hàng hoàn thành khi giao hàng
8
cho khách mà không cần lập hoá đơn chứng từ cho từng nghiệp vụ bán hàng. Hết ca,
hết ngày bán hàng, nhân viên bán hàng làm giấy nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỹ. Đồng
thời kiểm kê hàng hoá tồn quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ca, trong ngày
và lập báo cáo bán hàng. Theo hình thức này, khách hàng không mất thời gian chờ
thanh toán nhưng đòi hỏi nhân viên bán hàng phải có nghiệp vụ vững vàng, nhanh
nhẹn, hoạt bát, có trách nhiệm cao để tránh tình trạng nhầm lẫn, mất mát khi đông
khách.
+ Bán hàng thu tiền tập trung: Theo hình thức này, việc thu tiền của khách hàng và giao
hàng cho khách hàng tách rời nhau. Mỗi quầy hàng sẽ có một nhân viên thu tiền, viết
hoá đơn hoặc tích kê cho khách, khách hàng sẽ mang hoá đơn đó đến nhận hàng tại
quầy hàng, trả lại hoá đơn, tích kê cho nhân viên bán hàng tại quầy. Cuối ca, hoặc cuối
ngày, nhân viên thu tiền làm giấy nộp tiền bán hàng, còn nhân viên bán hàng tại quầy
căn cứ vào hoá đơn hoặc tích kê giao hàng cho khách, xác định lượng hàng hoá đã bán,
lập báo cáo bán hàng trong ca hoặc trong ngày. Hình thức này quản lý chặt chẽ tiền
hàng nhưng không thuận tiện cho người mua nên chỉ hay áp dụng cho các loại hàng hoá
có giá trị cao.
+ Bán lẻ tự phục vụ: theo hình thức này, khách hàng tự chọn hàng hoá, bỏ vào giỏ đựng
hàng. Nhân viên bán hàng chỉ có trách nhiệm hướng dẫn, tư vấn cho khách hàng, bảo
quản hàng hoá ở quầy hàng do mình phụ trách. Khi ra về, khách hàng sẽ nhận hoá đơn,
thanh toán tiền hàng ở quầy thu ngân. Hình thức này ngày càng thể hiện tính ưu việt
cao, thuận lợi cho người mua hàng.
+ Bán hàng tự động: Đây là phương thức bán lẻ đặc biệt, khi các doanh nghiệp sử dụng
các máy bán hàng tự động chuyên dùng cho một hoặc một số loại hàng hoá nào đó, đặt
tại các địa điểm công cộng. Sau khi người mua bỏ tiền, thường là tiền bằng kim loại vào
máy, máy sẽ tự động đẩy hàng về phía người mua. Hình thức này rất phù hợp với công
cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tuy nhiên chưa áp dụng phổ biến tại Việt Nam.
Nếu phân loại theo hình thức thanh toán, bán lẻ có 2 hình thức thể hiện sau:
9
+ Bán hàng thu tiền một lần: theo hình thức này, người mua sẽ phải thanh toán tiền hàng
một lần duy nhất, đúng bằng giá trị hàng hoá mua. Phương thức bán hàng này được áp
dụng một cách rất phổ biến, rộng rãi trong bán lẻ, đặc biệt là đối với hàng hoá có giá trị
thấp.
+ Bán trả góp: Theo hình thức này, người mua được thanh toán tiền hàng làm nhiều lần.
Người mua ngoài số tiền trả theo giá bán thông thường, còn phải trả thêm một khoản lãi
do trả chậm. Hình thức này giúp doanh nghiệp đẩy mạnh, tăng cường khối lượng hàng
bán ra, nhưng thời gian thu hồi chậm. Hình thức này thường áp dụng cho các hàng hoá
có giá trị lớn, người mua có thu nhập tương đối thấp.
1.1.2.3. Phương thức bán hàng giao nhận đại lý
Giao nhận đại lý là phương thức bán hàng mà trong đó bên chủ hàng (bên giao đại
lý) xuất hàng giao cho bên bán, bên ký gửi (bên nhận đại lý) để các đơn vị này trực tiếp
bán hàng và nhận tiền hàng. Bên nhận đại lý thường được hưởng hoa hồng hoặc chênh
lệch giá bán. Số hàng giao cho cơ sở đại lý thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận thanh
toán về số lượng hàng hoá đã bán được thì bên giao đại lý mới mất quyền sở hữu số
hàng đó.
Khi phát sinh nghiệp vụ này, hai bên phải tiến hành ký kết hợp đồng, xác định rõ
mặt hàng giao đại lý, giá bán chưa thuế GTGT, thuế GTGT, tỷ lệ hoa hồng bên nhận
đại lý được hưởng, phương thức thanh toán và phương thức giao nhận, đồng thời quy
định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của từng bên.
- Đối với bên giao đại lý:
+Tổ chức theo dõi tiền hàng giao đại lý theo từng cơ sở từ khi giao đến khi xác định
là đã tiêu thụ.
+Thanh toán đầy đủ tiền hoa hồng cho bên nhận đại lý, được ghi nhận vào chi phí
bán hàng trong kỳ.
- Đối với bên nhận đại lý:
+Tổ chức quản lý số hàng nhận đại lý và bán số hàng đó.
10
+Sau khi bán phải thanh toán đầy đủ cho bên giao địa lý và nhận được tiền hoa
hồng của mình, ghi nhận vào doanh thu trong kỳ.
1.1.3. Giá bán thành phẩm
Mục đích hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là lợi nhuận.
Cũng như nhãn hiệu, bao gói, những đặc trưng kỹ thuật, giá cả là một yếu tố cực kỳ
quan trọng góp phần tạo ra trong suy nghĩ người tiêu dùng hình ảnh về sản phẩm.
Thông thường người tiêu dùng chấp nhận một mức giá nào đó phù hợp với chất lượng
sản phẩm. Giá cả ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn chi phí và lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Giá bán của thành phẩm được xác định bằng giá thành sản xuất cộng với một phần
nhằm bù đắp chi phí và hình thành một khoản lãi nhất định, phần đó được gọi là thặng
số thương mại.
Giá bán của thành phẩm được tính theo công thức:
Giá bán = Giá thành thực tế x (1 + % thặng số )
Trong đó, giá thành thực tế được xác định như sau:
+Đối với thành phẩm do doanh nghiệp tự sản xuất: giá thành thực tế bao gồm chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung
+Đối với những thành phẩm nhận gia công chế biến: giá thành thực tế bao gồm chi phí
vật liệu phụ, chi phí nhân công và các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến quá trình
gia công.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp được toàn quyền xác định giá bán
cho sản phẩm. Do đó, tỷ lệ phần trăm thặng số luôn biến động linh hoạt phù hợp với thị
trường. Doanh nghiệp cần phải nghiên cứu kỹ thị trường khi xác định giá bán cho sản
phẩm. Nếu đặt giá quá thấp có thể gây nghi ngờ cho người tiêu dùng về chất lượng sản
phẩm. Còn với mức giá quá cao thì khó thu hút được khách hàng. Vì vậy, việc xác định
đúng đắn giá cả sản phẩm sẽ giúp cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, chiếm lĩnh
được thị trường.
1.1.4. Các phương pháp xác định giá vốn
11
Các doanh nghiệp có thể tuỳ theo đặc điểm của thành phẩm, tình hình quản lý của
mình để lựa chọn phương pháp hạch toán thích hợp nhưng phải đảm bảo áp dụng nhất
quán từ kỳ này sang kỳ khác. Về nguyên tắc, thành phẩm phải được đánh giá theo trị
giá vốn thực tế. Song, trong quá trình hạch toán, doanh nghiệp có thể sử dụng 2 cách
đánh giá thành phẩm xuất kho: theo giá thực tế hoặc theo giá hạch toán.
*Đánh giá thành phẩm theo giá thực tế:
Theo cách này, trị giá của thành phẩm phản ánh trong kế toán tổng hợp phải được đánh
giá theo giá thực tế theo một trong các phương pháp sau:
+Phương pháp tính theo giá đích danh: Phương pháp này dựa trên giá trị thực tế của
từng thứ sản phẩm sản xuất ra nên chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có ít mặt hàng
hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được.
+Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp này, giá trị của từng loại hàng
tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị
từng loại hàng tồn kho được sản xuất trong kỳ. Giá trị trung bình có thể được tính theo
từng kỳ hoặc sau từng lô hàng nhập về, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi doanh
nghiệp.
+Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO): Phương pháp này dựa trên giả định là
giá trị hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là giá trị hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần
thời điểm cuối kỳ. Giá trị hàng xuất kho trong kỳ được tính theo giá trị của lô hàng
nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho cuối kỳ được
tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho.
+Phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO): Phương pháp này dựa trên giả định là giá
trị hàng tồn kho được mua hoặc được sản xuất sau thì được xuất trước và giá trị hàng
tồn kho còn lại cuối kỳ là giá trị hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trước đó. Theo
phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặc
gần sau cùng, giá trị hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc
gần đầu kỳ còn tồn kho.
*Đánh giá thành phẩm theo giá hạch toán:
12
Do sự biến động thường xuyên và do cả việc xác định giá thực tế của thành phẩm
sản xuất ra chỉ thực hiện được khi kết thúc chu kỳ sản xuất nên để ghi chép kịp thời giá
trị thành phẩm nhập, xuất, doanh nghiệp có thể sử dụng một loại giá ổn định trong một
thời gian dài. Đó là giá hạch toán. Giá có thể chọn hoặc làm cơ sở xây dựng giá hạch
toán là giá thành kế hoạch hay giá thành thực tế của một kỳ nào đó. Cuối kỳ, tổng hợp
giá thành thực tế thành phẩm nhập kho, xác định hệ số giá từng loại thành phẩm và tính
thành thành phẩm xuất kho
1.1.5. Các phương thức và hình thức thanh toán.
Phương thức bán hàng trong thương mại thể hiện sự tín nhiệm, hiểu biết lẫn nhau
của hai bên, đồng thời điều đó cũng nói lên sự vận động giữa hàng hoá và tiền vốn, đảm
bảo cho hai bên cùng có lợi. Do đó, tuỳ thuộc vào mục đích, giá trị lô hàng bán, mức độ
thường xuyên trong quan hệ mua bán, mức độ tín nhiệm lẫn nhau mà doanh nghiệp và
người mua có thể lựa chọn sử dụng các phương thức, hình thức thanh toán khác nhau.
*Các phương thức thanh toán:
-Thanh toán ngay: là phương thức thanh toán mà đặc trưng cơ bản của nó là khoảng thời
gian từ lúc thực hiện hợp đồng kinh tế đến lúc thanh toán tiền hàng là rất ngắn, sự vận
động của hàng hoá gắn liền với sự vận đồng của tiền tệ. Phương thức này thường được
sử dụng trong bán lẻ hàng hoá, thương vụ nhỏ, số tiền không quá lớn. Do vậy, đảm bảo
khả năng thu hồi vốn nhanh, tránh được rủi ro trong thanh toán cho người bán.
-Thanh toán trả chậm: là phương thức thanh toán mà sau khi nhận hàng từ người bán,
người mua không thanh toán ngay mà ký nhận nợ. Từ đó hình thành khoản công nợ
phải thu của người mua. Ở hình thức này sự vận động của hàng hoá và tiền tệ có
khoảng cách về không gian và thời gian. Phương thức này thường được áp dụng phổ
biến trong hầu hết các giao dịch thương mại nhưng nó đem lại rủi ro cho người bán nếu
không có sự tín nhiệm lẫn nhau.
*Các hình thức thanh toán:
13
-Hình thức thanh toán dùng tiền mặt: là hình thức thanh toán trực tiếp giữa người mua
và người bán. Đây là phương thức được áp dụng phổ biến, rộng rãi trong bán lẻ hoặc
thanh toán với những đối tác không có tư cách pháp nhân. Tuy nhiên, ngày nay với sự
phát triển của hệ thống ngân hàng thì phương thức này ngày càng ít sử dụng vì nó mang
lại rủi ro trong thanh toán.
-Hình thức thanh toán qua ngân hàng: Là phương thức thanh toán gián tiếp, được thực
hiện bằng cách trích chuyển ở tài khoản của doanh nghiệp hoặc bù trừ giữa hai bên
thông qua các tổ chức kinh tế trung gian, thường là ngân hàng. Áp dụng phương thức
này sẽ cho phép giảm tải được lượng tiền mặt trong lưu thông, tiết kiệm thời gian, giảm
chi phí liên quan đến việc in tiền và phát hành tiền, đảm bảo an toàn cao trong thanh
toán. Chính những ưu điểm nổi trội của mình, phương thức này ngày càng được áp
dụng phổ biến trên toàn thế giới. Tuỳ thuộc vào từng thương vụ, từng đối tượng khách
hàng mà việc thanh toán được thực hiện theo một số hình thức như: Thanh toán bằng
séc, hối phiếu, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thư tín dụng,
-Hình thức thanh toán hàng đổi hàng: Là hình thức thanh toán khi doanh nghiệp xuất
hàng của mình để đổi lấy hàng hoá khác có giá trị tương đương, gọi là thanh toán đối
lưu. Những trường hợp mua bán trao đổi như vậy rất ít sử dụng tiền trong thanh toán,
tiền chỉ để bù đắp phần chênh lệch. Hình thức này rất ít được sử dụng do những hạn chế
nhất định, đặc biệt là sự gặp nhau giữa cung và cầu là rất khó xảy ra.
1.2. YÊU CẦU QUẢN LÝ VÀ NHIỆM VỤ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ TIÊU THỤ THÀNH PHẨM
TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.2.1.Yêu cầu quản lý kế toán nghiệp vụ tiêu thụ thành phẩm
Xuất phát từ tầm quan trọng của công tác tiêu thụ thành phẩm, các doanh nghiệp
cần phải thực hiện tốt yêu cầu quản lý tiêu thụ thành phẩm. Nghiệp vụ bán hàng phải
quản lý về cả hai mặt: hàng hoá và tiền tệ, cụ thể như sau:
- Về khối lượng thành phẩm tiêu thụ: Phải nắm chính xác số lượng từng loại thành
phẩm tồn kho đầu kỳ, nhập trong kỳ, xuất tiêu thụ và lượng dự trữ cần thiết. Bộ phận
14
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét