DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ 5
LỜI MỞ ĐẦU 7
1.1 Hoạt động bao thanh toán tại ngân hàng thương mại 9
1.1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại 9
1.2 Phát triển bao thanh toán tại Ngân hàng thương mại 30
1.2.1 Quan niệm về phát triển 30
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển hoạt động bao thanh toán tại NHTM 32
1.3 Các điều kiện phát triển hoạt động bao thanh toán tại ngân hàng thương mại 39
1.3.1 Những điều kiện chủ quan 40
1.3.2 Những điều kiện khách quan 48
2.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt 56
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt 56
2.1.2 Hoạt động chính của Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt 57
Bảng 2.1 Cơ cấu huy động nợ 59
2.1.3 Kết quả đạt được của Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt 65
Biểu đồ 2.3 Tăng trưởng doanh thu từ năm 2006 tới năm 2008 tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Nam Việt 65
Biểu đồ 2.4 Chi phí phát sinh tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt từ năm 2006 tới năm
2008 67
Biểu đồ 2.5 Tổng hợp doanh thu- chi phí- lợi nhuận trước thuế của 68
Biểu đồ 2.6 Sự gia tăng tổng tài sản của Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt từ năm 2006
tới năm 2008 69
Bảng 2.7 Bảng tổng hợp chỉ tiêu tài chính 71
2.2 Sự cần thiết phát triển hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt . 72
2.3 Đánh giá các điều kiện phát triển hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng thương mại cổ phần
Nam Việt 75
2.3.1 Điều kiện thuận lợi để triển khai dịch vụ bao thanh toán tại Ngân hàng thương mại cổ phần
Nam Việt 75
Bảng 2.8 Tỷ lệ nợ xấu 76
Biểu đồ 2.9 diễn biến số dư nợ xấu tại 76
Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt 76
Biểu đồ 2.10 Tình hình huy động nợ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt từ năm 2006
tới năm 2008 79
Biều đồ 2.12 Quá trình gia tăng vốn điều lệ tại 82
Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt từ năm 2006 tới năm 2008 82
Bảng 2.13 Cán bộ nhân viên Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt 84
Bảng 2.14 Bảng chấm điểm các chỉ tiêu tài chính 86
Bảng 2.15 Bảng chấm điểm các chỉ tiêu phi tài chính của Navibank 87
Bảng 2.16 Bảng xếp loại khách hàng của Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt 88
Biểu đồ 2.17 Kim ngạch xuất- nhập khẩu Việt Nam giai đoạn 2006-2008 92
2.3.2. Khó khăn trong triển khai dịch vụ bao thanh toán 95
3.1 Định hướng phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt
3.1.1 Bối cảnh kinh tế xã hội 104
3.1.2 Định hướng phát triển ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt 105
3.2 Giải pháp phát triển hoạt động bao thanh toán tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt 107
3.2.1 Tăng cường hoạt động huy động vốn 107
3.2.2 Tăng cường các biện pháp hạn chế rủi ro 108
3.2.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 110
3.2.4 Nâng cao hiệu quả công tác nghiên cứu và phát triển 113
3.2.5 Phát triển hoạt động marketing ngân hàng 113
3.2.6 Một số giải pháp khác 115
3.3 Kiến nghị 118
3.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 118
3.3.2 Kiến nghị với các cấp chính quyền 121
3.3.3 Kiến nghị với các cơ quan giáo dục 122
LỜI KẾT 123
LỜI MỞ ĐẦU
Xã hội không ngừng vận động, phát triển hàng ngày, hàng giờ, cùng với nó
là sự gia tăng không ngừng của các nhu cầu xã hội. Vòng xoáy của sự phát triển
đã cuốn tất cả các ngành, các lĩnh vực vào guồng quay liên tục và nếu không
thích nghi, không phát triển cùng với sự phát triển đó thì chúng sẽ bị loại bỏ và
biến mất. Không chỉ vậy, sự cạnh tranh khốc liệt ấy diễn ra ngay trong từng
ngành, từng lĩnh vực và ngành ngân hàng không phải là một ngoại lệ. Là một
nhân tố không thể thiếu trong thị trường thị trường tài chính nói riêng và nền kinh
tế nói chung, có ảnh hưởng tới toàn bộ các ngành và lĩnh vực khác, mỗi ngân hàng
cũng phải phát triển không ngừng để theo kịp sự phát triển của xã hội.
Việt Nam là một quốc gia đang phát triển và đang trong tiến trình hội nhập
ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới kể từ khi chính thức gia nhập WTO
vào ngày 07/01/2007. Trong những năm gần đây, chúng ta chứng kiến sự bùng nổ
mạnh mẽ các hoạt động, dịch vụ mới của các ngân hàng trong nước tuy nhiên số
hoạt động, dịch vụ ngân hàng Việt Nam còn quá ít so với các ngân hàng trên thế
giới. Việc đa dạng hóa hoạt động, các loại hình dịch vụ để giữ được vị thế cạnh
tranh là vấn đề sống còn của các NHTM Việt Nam hiện nay khi sự cạnh tranh
ngày càng trở nên khốc liệt với sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài.
Bao thanh toán là một hoạt động mới tại Việt Nam và được một số
ngân hàng triển khai từ năm 2005 song thực tế nó đã ra đời từ thế kỷ XVII ở Anh
và được thế giới công nhận rộng rãi từ năm 1974. Đây là hoạt động hứa hẹn
mang lại thêm doanh thu cho ngân hàng, nâng cao vị thế cạnh tranh cho
ngân hàng trong tiến trình hội nhập. Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt
tuy chưa có hoạt động này song xét tổng thể các điều kiện Navibank đã có, việc
phát triển hoạt động bao thanh toán là một quyết định phù hợp và hứa hẹn mang
lại nhiều lợi thế cho ngân hàng. Đề tài “Phát triển hoạt động bao thanh toán tại
Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt” hướng sâu vào việc nghiên cứu các
vấn đề lý luận và thực tiễn để phát triển thành công hoạt động hoàn toàn mới này
tại Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt. Nội dung của chuyên đề bao gồm
ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động bao thanh toán tại ngân
hàng thương mại
Chương 2: Sự cần thiết phát triển hoạt động bao thanh toán tại Ngân
hàng thương mại cổ phần Nam Việt
Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động bao thanh toán tại Ngân
hàng thương mại cổ phần Nam Việt
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động bao thanh toán
tại ngân hàng thương mại
1.1 Hoạt động bao thanh toán tại ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại
1.1.1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế, ngân hàng tập trung các nguồn tiền trong nền kinh tế và cung ứng vốn
cho các tổ chức kinh tế, các cá nhân có nhu cầu về vốn. Nếu coi toàn bộ nền
kinh tế là một cơ thể hoàn chỉnh thì dòng chảy của vốn như là những mạch máu
chảy khắp cơ thể và các ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa
dòng chảy đó thông suốt, giữ cho cơ thể khỏe mạnh. Có rất nhiều khái niệm về
ngân hàng đã được đưa ra và chưa có một khái niệm thống nhất giữa các nước do
hoạt động của các ngân hàng vô cùng đa dạng phức tạp và do sự khác nhau về
tập quán mỗi quốc gia. Nếu xem xét trên phương diện những loại hình dịch vụ mà
ngân hàng cung cấp có quan điểm cho rằng “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài
chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là
tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính
nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”, quan điểm này
mang tính chất mở và phù hợp với sự phát triển ngày càng đa dạng các dịch vụ
ngân hàng.
Tại Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng, “Hoạt động ngân hàng là
hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là
nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh
toán” và “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất
và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại,
ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác
và các loại hình ngân hàng khác” . Cách tiếp cận hạn chế này chưa bao quát hết
được toàn bộ chân dung ngân hàng hiện đại với các hoạt động ngày càng đa dạng
và phong phú.
Trong các loại hình ngân hàng hoạt động trong nền kinh tế, NHTM chiếm
đa số và có hoạt động đa dạng, phong phú nhất. Khác với các loại hình
ngân hàng khác, NHTM hoạt động mang tính chất thương mại với mục tiêu
lợi nhuận được ưu tiên hàng đầu. Do tính chất đặc biệt trong hoạt động, có tầm
ảnh hưởng rộng lớn, các NHTM được đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của
Nhà nước. NHNN thông qua các ngân hàng thương mại để thực thi chính sách
tiền tệ, điều tiết kinh tế vĩ mô. Như vậy có thể quan niệm NHTM là TCTD
thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ, cung cấp các dịch vụ tài chính đặc biệt là
nhận tiền gửi, cấp tín dụng, dịch vụ thanh toán và các dịch vụ tài chính đa dạng
khác nhằm mục tiêu lợi nhuận.
1.1.1.2 Hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Quá trình phát triển kinh tế tạo điều kiện cho sự phát triển của các ngân
hàng và đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở thành động lực
thúc đẩy phát triển kinh tế. Sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, nhu cầu
xã hội, nhu cầu sản xuất, kinh doanh đòi hỏi các NHTM phải đa dạng hóa hoạt
động, đáp ứng ngày càng tốt hơn các nhu cầu đó. Hoạt động của ngân hàng vô
cùng đa dạng song tựu chung lại NHTM có các hoạt động chính sau: hoạt động
huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và các hoạt động khác.
a.Hoạt động huy động vốn
Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và
quan trọng nhất của NHTM. Kết quả của hoạt động này sẽ trực tiếp chi phối tới
kết quả của các hoạt động khác vậy nên ngân hàng luôn nỗ lực để mở rộng
hoạt động này. Hoạt động huy động vốn của NHTM bao gồm: huy động vốn chủ
sở hữu và huy động nợ song số vốn huy động từ nợ thường chiếm tỷ trọng lớn
hơn nhiều so với vốn chủ sở hữu.
Trong quá trình hoạt động, ngân hàng gia tăng vốn chủ theo nhiều
phương thức khác nhau tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể. Ngân hàng có thể
huy động vốn chủ từ nguồn lợi nhuận thu được, ngân hàng khi làm ăn có lãi
thường trích một phần lợi nhuận để lại bổ sung vốn chủ sở hữu. Tỷ lệ tích lũy
tùy thuộc vào quyết định của mỗi ngân hàng. Những ngân hàng lớn, hoạt động
lâu năm, có thu nhập sau thuế lớn thường có phần lợi nhuận giữ lại cao hơn.
Ngoài ra ngân hàng có thể huy động thêm vốn chủ bằng việc phát hành thêm
cổ phần, góp thêm, cấp thêm để mở rộng quy mô hoạt động, hoặc đổi mới
trang thiết bị hoặc để đáp ứng yêu cầu gia tăng vốn chủ sở hữu do NHNN
quy định. Đặc điểm của hình thức huy động này là không thường xuyên song
giúp cho ngân hàng có được lượng vốn chủ sở hữu lớn vào lúc cần thiết.
Hoạt động huy động vốn mang tính chất thường xuyên hơn là huy động nợ,
ngân hàng huy động nợ từ nguồn tiền gửi của dân cư, các doanh nghiệp,các
TCTD khác hoặc đi vay từ NHNN, các TCTD hoặc vay trên thị trường vốn.
Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM.
Quy mô của tiền gửi rất lớn so với các nguồn khác. Thông thường, nguồn này
thường chiếm hơn 50% tổng nợ và vốn chủ sở hữu của ngân hàng và là mục tiêu
tăng trưởng hàng năm của các ngân hàng. Để gia tăng tiền gửi trong môi trường
cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, bên cạnh sự
cạnh tranh về lãi suất, các ngân hàng đã phát triển đa dạng hình thức huy động tiền
gửi: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi là đối
tượng phải dự trữ bắt buộc do vậy chi phí tiền gửi thường cao hơn lãi trả cho tiền
gửi.
Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM tuy nhiên khi cần NHTM
thường vay mượn thêm, đây là một nguồn huy động khá quan trọng. NHTM có
thể đi vay NHNN, các tổ chức tín dụng hoặc vay trên thị trường vốn. NHTM vay
NHNN nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách như trường hợp thiếu hụt dự trữ. Hình
thức cho vay chủ yếu của NHNN là tái chiết khấu (hoặc tái cấp vốn). Để bù đắp
thiếu hụt dự trữ, các NHTM có thể vay mượn các TCTD khác trên thị trường
liên ngân hàng. Trong trường hợp thiếu nguồn tiền gửi trung và dài hạn dẫn đến
không đáp ứng được nhu cầu cho vay, đầu tư trung và dài hạn, NHTM cũng có
thể vay mượn bằng cách phát hành các giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu)
trên thị trường vốn. Những ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ vay mượn
được nhiều hơn. Các ngân hàng nhỏ thường khó vay mượn trực tiếp bằng cách
này. Họ thường phải vay thông qua các ngân hàng đại lý hoặc được bảo lãnh của
Ngân hàng đầu tư. Khả năng vay mượn còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của
thị trường tài chính, tạo khả năng chuyển đổi cho các công cụ nợ dài hạn của
ngân hàng.
b. Hoạt động sử dụng vốn
Ngân hàng tích tụ và tập trung vốn nhằm sử dụng cho các mục đích khác nhau
và việc sử dụng vốn như thế nào sẽ quyết định tới doanh thu của NHTM. NHTM
sử dụng vốn vào nhiều mục đích khác nhau trong đó cho vay và đầu tư là
hai hoạt động chủ yếu mang lại doanh thu cho ngân hàng. NHTM sử dụng vốn
để cho các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu về vốn vay để sử dụng vào
một mục đích nhất định trong một khoảng thời gian xác định theo thoả thuận với
nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. NHTM có thể cho vay nhằm các mục đích
tiêu dùng như cho vay xây nhà, sửa nhà, mua trang thiết bị vật dụng trong gia
đình, phương tiện đi lại, cho vay du học… Đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh, NHTM có thể cho vay bổ sung vốn lưu động, cho vay đầu tư tài sản cố
định, cho vay tài trợ dự án… Tùy theo thỏa thuận, ngân hàng có thể cung cấp
cho khách hàng các khoản vay từ ngắn hạn cho tới trung và dài hạn trên cơ sở có
tài sản bảo đảm hoặc không. Tuy nhiên đây cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi
ro nên các ngân hàng thường phải trích lập dự phòng nhằm đảm bảo an toàn
trong hoạt động của ngân hàng.
Tuy hoạt động cho vay là hoạt động hứa hẹn mang lại nhiều doanh thu cho
ngân hàng tuy nhiên ngân hàng không sử dụng toàn bộ vốn huy động để cho vay
do hầu hết các khoản cho vay có tính thanh khoản thấp, ngân hàng không thể
bán chúng trên thị trường một cách dễ dàng để đáp ứng nhu cầu tiền mặt và
hơn nữa đó là những khoản có mức độ rủi ro cao nhất. Các NHTM sử dụng một
phần vốn huy động dành cho hoạt động đầu tư, góp vốn, mua cổ phần. NHTM
thường đầu tư vào các chứng khoán nhằm mục tiêu thanh khoản, đa dạng hóa tài
sản. Các loại chứng khoán được ngân hàng đầu tư bao gồm: các chứng khoán
của Chính Phủ (Trung ương hoặc địa phương) như tín phiếu kho bạc, trái phiếu
Chính phủ; chứng khoán của các ngân hàng khác, các công ty tài chính như cổ
phiếu, các giấy nợ khác do các ngân hàng, các công ty tài chính phát hành hoặc
chấp nhận thanh toán; chứng khoán của các công ty khác. Việc nắm giữ các loại
chứng khoán này mang lại thu nhập cho ngân hàng và có thể bán đi để gia tăng
ngân quỹ khi cần thiết.
Ngoài hai hoạt động chính trên, NHTM còn đa dạng hóa hoạt động sử
dụng vốn như cung cấp hoạt động chiết khấu, cho thuê tài sản trung và dài hạn,
bảo lãnh. Ngân hàng cho phép chiết khấu thương phiếu, thực chất là việc người
bán hàng bán các khoản phải thu của khách hàng cho ngân hàng để có vốn mua
hàng dự trữ hoặc để mở rộng sản xuất kinh doanh. Ngoài cách tài trợ trên,
NHTM có thể tài trợ trực tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp bằng cách cho thuê tài sản trung và dài hạn. Ngân hàng cho khách hàng
quyền lựa chọn thuê các thiết bị, máy móc cần thiết thông qua hợp đồng thuê
mua, trong đó ngân hàng mua thiết bị và cho khách hàng thuê. Hợp đồng cho
thuê thường phải đảm bảo yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3 giá trị của tài
sản cho thuê và khách hàng được ưu tiên mua lại tài sản sau khi hết thời hạn
thuê. Theo một cách khác, NHTM có thể sử dụng uy tín của mình để bảo lãnh
cho khách hàng mua chịu hàng hóa, trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay
vốn của tổ chức tín dụng khác… Doanh thu từ các hoạt động này chiếm tỷ trọng
tương đối nhỏ trong tổng doanh thu của ngân hàng.
c. Hoạt động khác
Ngoài các hoạt động trên, NHTM còn cung cấp một loạt các dịch vụ cho
khách hàng như: dịch vụ thanh toán, dịch vụ bảo quản vật có giá, dịch vụ tư vấn
và ủy thác, dịch vụ môi giới, dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ đại lý và các dịch vụ
ngân hàng hiện đại khác. Đối với các dịch vụ này ngân hàng sẽ thu phí và nó sẽ
mang lại các khoản doanh thu ngoài lãi cho ngân hàng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét