một trong những ngun nhân đó là do việc các doanh nghiệp chưa nắm vững các
điều khỏan của Incoterms dẫn đến thói quen mua “CIF”, bán “FOB” đã làm giảm
đáng kể thị phần đồng thời làm hạn chế khả năng ký kết hợp đồng của các cơng ty
bảo hiểm Việt Nam.
Với trăn trở như trên, nhóm chúng tơi quyết định chọn đề tài : CÁC BIỆN
PHÁP CỦA CƠNG TY VẬN TẢI NGỌAI THƯƠNG GIÚP ĐỠ CÁC
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM, HỖ TRỢ CHUYỂN ĐỔI ÁP DỤNG CÁC
ĐIỀU KIỆN INCOTERMS CĨ HIỆU QUẢ.
5
A. Sơ lược về các điều khoản Incoterms:
1. Lịch sử hình thành và phát triển Incoterms:
Sau chiến tranh thế giới thứ I, kinh tế thế giới phục hồi bn bán quốc tế phát
triển và mở rộng để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại phát triển giữa
các quốc gia, khi các thương nhân quốc tế bất đồng về ngơn ngữ chịu sự điều tiết
khác nhau về tập qn thương mại dễ dẫn tới hiểu lầm, tranh chấp, kiện tụng, Phòng
thương mại quốc tế (ICC- International Chamber Of Commerce) có trụ sợ tại Paris,
đã xây dựng điều kiện thương mại quốc tế (Incoterms- International Commercial
Terms) lần đầu tiên vào năm 1936. Lập tức, Incoterms được nhiều nhà doanh nghiệp
của nhiều nước thừa nhận và áp dụng vì tính rõ ràng, dễ hiểu, phản ánh được các tập
qn thương mại phổ biến trong bn bán quốc tế. Ngồi ra khi mơi trường và điều
kiện kinh doanh quốc tế thay đổi thì Incoterms cũng được hồn thiện và đổi mới
theo biểu hiện tính năng động và thực tiễn. Do đó, từ ngày ra đời đến nay, Incoterms
đã được sửa đồi và bổ sung 6 lần vào các năm 1953, 1967, 1976, 1980, 1999 và 2000.
Trong bản Incoterms 1999 và 2000 nội dung được trình bày cải tiến theo một trật tự
logic và khoa học: các điều kiện thương mại chia làm bốn nhóm và mỗi điều kiện
thương mại trình bày nghĩa vụ của người bán, người mua.
2. Vai trò của Incoterms:
Incoterms là một bộ phận các quy tắc nhằm hệ thống hóa các tập qn thương
mại được áp dụng phổ biến bởi các doanh nhân trên khắp thế giới.
Incoterms là một ngơn ngữ quốc tế trong giao nhận và vận chuyển hàng hóa ngoại
thương.
Incoterms là phương tiện quan trọng để đẩy nhanh tốc độ đàm phán ký kết hợp
đồng ngoại thương.
Incoterms là cơ sở quan trọng để xác định giá cả hàng hóa.
6
Incoterms là một căn cứ pháp lý quan trọng để thực hiện khiếu nại và giải quyết
tranh chấp (nếu có) giữa người mua và người bán trong q trình thực hiện hợp đồng
ngoại thương.
3. Kết cấu của Incoterms 2000:
Incoterms gồm 13 điều khoản chia thành 4 nhóm: nhóm E, nhóm F, nhóm C,
nhóm D
EXW - Ex Works
FCA - Free carrier
FOB - Free On Board
FAS - Free Alongside Ship
CFR - Cost And Freight
CIF - Cost Insurance And Freight
CPT - Carriage Paid To
CIP - Carriage And Insurance Paid To
DAF - Delivered At Frontier
DES - Delivered Ex Ship
DEQ - Delivered Ex Quay
DDP - Delivered Duty Paid
DDU - Delivered Duty Unpaid
7
B. Thực trạng tình hình vận tải – bảo hiểm trong nước
Và một số nguyên nhân chủ yếu
I Sơ lược tình hình xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những năm vừa
qua:
Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh
đạo, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích mọi thành phần kinh tế
tham gia sản xuất, kinh doanh XNK. Nhờ đó, một số sản phẩm hàng hóa và dịch vụ
của nước ta khơng những đứng vững ở thị trường trong nước, mà còn có khả năng
vươn ra thị trường nước ngồi, góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu. Kể từ năm 1991
đến nay, kim ngạch xuất khẩu của nước ta tăng nhanh, trung bình khoảng
19,6%/năm; năm 1991 đạt 2,087 tỷ Đơla Mỹ, năm 2001 tăng lên 15,1 tỷ Đơla, gấp 7
lần so với năm 1991. Đặc biệt, năm 2000 kim ngạch xuất khẩu bình qn đầu người
của nước ta đạt 180 Đơla/năm, mức chuẩn quốc gia có nền ngoại thương phát triển
bình thường.
Song song với chủ trương khuyến khích mạnh mẽ xuất khẩu, hoạt động nhập
khẩu cũng được xác định có vai trò hết sức quan trọng được Đảng và Nhà nước quan
tâm, hướng mục tiêu phục vụ cho sự phát triển thị trường nội địa, cho sự nghiệp cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và nhanh chóng hội nhập với khu vực và thế giới.
Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu giai đoạn 1991-2000 đạt trung bình khoảng 29%/năm.
Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu có sự chuyển biến theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng
máy móc, thiết bị, ngun nhiên vật liệu phục vụ cho sản xuất, giảm dần tỷ trọng
hàng tiêu dùng.
Có thể nói, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn vừa qua đã
đạt được những thành tựu to lớn, góp phần tích cực thúc đẩy kinh tế trong nước phát
triển, hình thành nhiều ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu, tạo việc làm cho người lao
động, tạo cơ sở và khuyến khích các nước hợp tác kinh tế và đầu tư vào Việt Nam.
8
Hoạt động xuất nhập khẩu từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc
tế.
Với tình hình xuất nhập khẩu hàng hố khả quan như trên nhưng thực tế: 80%
thị phần vận tải, 85% thị phần bảo hiểm lại thuộc về các doanh nghiệp nước ngồi,
12 doanh nghiệp trong nước chia nhau phần còn lại nhưng thực chất chỉ có 7 cơng ty
duy trì được hoạt động. Một phần ngun nhân là do tình hình phổ biến tại Việt
Nam từ trước tới nay là các doanh nghiệp thường xuất khẩu theo điều kiện FOB
và nhập khẩu theo điều kiện CIF. Việc này đã hình thành ngay từ khi chúng ta
tham gia buôn bán với thò trường thế giới và đã trở thành một thói quen.
II Thói quen cuả việc mua CIF và bán FOB và một số bất lợi:
a. Sử dụng điều kiện FOB khi xuất khẩu: có thể nói rằng, bán hàng với
điều kiện giao hàng FOB thì người bán ít phải vất vả hơn, bởi vì nghóa vụ cơ bản
của họ chỉ có làm thủ tục hải quan, chở hàng đến cảng và giao hàng lên boong
tàu, còn tất cả các công việc khác thuộc nghóa vụ của người mua. Tuy nhiên
người bán trong trường hợp này chỉ thu được lợi nhuận từ giá hàng mà thôi.
Không những thế các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam không
thể bán bảo hiểm cho những lô hàng này, bởi vì người mua đã mua bảo hiểm ở
nước ngoài.
b. Sử dụng điều kiện CIF khi nhập khẩu: Nhập khẩu hàng hóa với điều
kiện CIF rõ ràng là một thương vụ hết sức đơn giản cho người mua, bởi vì với
điều kiện này nghóa vụ của người mua là tối thiểu. Người mua sau khi ký kết
hợp đồng chỉ có mỗi một việc ngồi chờ khi nào hàng cập cảng và làm thủ nhận
hàng, không phải vất vả vì thủ tục thuê tàu, mua bảo hiểm cho hàng hóa. Thật là
một công việc nhàn hạ. Có mấy người biết rằng, đây là một thương vụ gặp rất
nhiều rủi ro so với mua hàng với điều kiện giao hàng FOB. Một trong những
vấn đề quan trọng nhất vừa có ý nghóa kinh tế vừa có ý nghóa pháp lí là thời
9
điểm rủi ro đối với hàng hóa được chuyển từ người bán sang người mua. Nhiều
người nhầm tưởng rằng, nhập khẩu hàng hóa với điều kiện giao hàng CIF thì
người mua ít phải chòu rủi ro hơn.
Theo quy đinh của Incoterms ấn bản năm 2000 thì thời điểm mà rủi ro
đối với hàng hóa được chuyển từ người bán sang người mua trong hai điều kiện
giao hàng FOB và CIF là như nhau: tại thời điểm hàng hóa vượt qua lan can tàu
tại cảng đi. Mua hàng với điều kiện giao hàng CIF thì bao giờ giá hàng cũng
cao hơn giá FOB. Rất đơn giản là không bao giờ người bán thuê tàu và mua bảo
hiểm cho hàng hóa vì lợi ích của người mua một cách miễn phí.
Thực tiễn còn cho thấy rằng, khi mua hàng với điều kiện giao hàng CIF
người mua còn có thể chòu một số rủi ro sau đây:
Thứ nhất, người bán có thể thiết lập một số bộ chứng từ giả để yêu cầu
thanh toán, nhưng trên thực tế không giao hàng.
Thứ hai, chúng ta thường nghe những câu chuyện về những con tàu ma.
Người bán đã giao hàng một cách thiện chí, tuy nhiên hàng không bao giờ đến
được đòa chỉ người mua.
Thứ ba, trong rất nhiều trường hợp với người mua không kiểm tra chất
lượng của hàng hóa và người bán cố tình giao hàng kém chất lượng hay là không
đúng số lượng.
Thứ tư, người vận chuyển không giao hàng cho người mua vì người bán
còn nợ tiền vận chuyển. Một ví dụ như: ngày 31- 03-2003, Công ty du lòch Bình
Đònh kí kết hợp đồng mua bán với công ty CNR Trading Co. Ltd (Hàn Quốc) để
mua lô hàng gồm bốn xe đầu kéo đã qua sử dụng. Theo hợp đồng, hàng sẽ được
giao theo điều kiện CIF cảng thành phố Hồ Chí Minh… Ngày 2- 6- 2003 Công ty
du lòch Bình Đònh nhận được thông báo hàng đến của đại lí hãng tàu Bright
Shipping tại Việt Nam là Công ty cổ phần thương mại vận tải OST có trụ sở
10
đóng tại thành phố Hồ Chí Minh, kèm theo đó công ty này cũng yêu cầu Công
ty du lòch Bình Đònh mang vận đơn đường biển bản chính đến công ty để nhận
lệnh giao hàng… tuy nhiên khi đại diện của Công ty du lòch Bình Đònh mang vận
đơn đến Công ty OST để nhận lệnh giao hàng thì đầy không chòu giao với lí do:
chưa nhận được chỉ thò từ hãng tàu. Ngày 29-12-2003 Công ty du lòch Bình Đònh
cử luật sư sang làm việc thì phía công ty OST mới đưa ra một email với nội
dung: giữ lại lệnh giao hàng vì người gửi hàng còn nợ chủ tàu khoảng 10.000
USD cho hai vận đơn (trong đó có vận chuyển hàng của Công ty du lòch Bình
Đònh). Tiếp sau đó, ngày 4-2-2004 Công ty OST tiếp tục gửi cho Công ty du lòch
Bình Đònh một email khác, lần này xác đònh Công ty du lòch Bình Đònh phải giao
cho Công ty OST 13.500 USD để đổi lấy lệnh giao hàng.
Ngoài những rủi ro nói trên nếu mua hàng với điều kiện giao hàng CIF thì
các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu ở Việt Nam
chúng ta mất đi một khoản doanh thu đáng kể. Theo đánh giá của các cơng ty bảo
hiểm Việt Nam thì năm 2003 chỉ có 15% khối lượng hàng xuất nhập khẩu mua bảo
hiểm hàng hóa tại Việt Nam, lý do rất đơn giản là các cơng ty của Việt Nam thường
bán hàng theo điều kiện FOB nên khơng có nghĩa vụ phải mua bảo hiểm, và mua
hàng theo điều kiện CIF thì bảo hiểm hàng hóa được người bán ở nước ngòai mua.
Không có lợi ở tầm vó mô:
+ Thất thu ngọai tệ do xuất khẩu với giá rẻ, nhập khẩu với giá cao.
+ Không tạo điều kiện thuận lợi để gia tăng doanh số dòch vụ cho các hãng tàu
và hãng bảo hiểm của Việt Nam.
+ Không tạo điều kiện để giải quyết công ăn việc làm cho ngøi lao động làm
trong các ngành dòch vụ vận tải và bảo hiểm hàng hóa.
11
Không có lợi ở tầm vi mô:
+ Giảm khả năng tự cân đối ngọai tệ do xuất khẩu với giá rẻ, nhập khẩu phải trả
chi phí ngọai tệ nhiều (vì khi thuê phương tiện vận tải, doanh nghiệp có thể trả
bằng nội tệ)
+ Doanh nghiệp bò động với phương tiện vận tải, hậu quả có thể phải trả thêm
những chi phí phát sinh như: chi phí lưu kho, trả lãi suất…
+ Bò mất đi những khỏan hoa hồng của các hãng vận tải và bảo hiểm trả cho
người thuê dòch vụ của họ.
+ Gặp khó khăn khiếu nại đòi bồi thường nếu có tranh chấp xảy ra giữa doanh
nghiệp nhập khẩu với các hãng tàu nước ngòai.
Vì những bất lợi do không giành được quyền thuê phương tiện vận tải khi lựa
chọn điều kiện thương mại, nên khuyến cáo các doanh nghiệp Việt Nam thay
đổi khi xuất khẩu nên chọn điều kiện nhóm C, còn khi nhập khẩu nên chọn điều
kiện nhóm F .
Thực trạng nêu trên tồn tại trong suốt một thời gian dài do ngun nhân chủ yếu:
Thiếu sự phối hợp giữa các ngành thương mại, vận tải và bảo hiểm
Ở Việt Nam, tình trạng “đèn nhà ai nấy rạng” của cả ba ngành xuất nhập
khẩu, vận tải và bảo hiểm còn khá phổ biến. Do thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa
chủ hàng, chủ tàu và các nhà bảo hiểm Việt Nam nên nhiều khi có tình trạng có
hàng để xuất khẩu nhưng lại thiếu tàu chở ( than, gạo, dầu thô) hoặc ngược lại
tàu “đói” hàng.
Theo Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines), có đến 70% sản lượng
vận tải của Vinalines là thực hiện cho các chủ hàng nước ngoài, vì hầu như tất
cả các nhà xuất nhập khẩu Việt Nam hiện nay đều thực hiện phương thức mua
CIF và bán FOB, nên quyền thuê tàu để vận chuyển thuộc các công ty nước
12
ngoài. Như vậy, đội tàu biển Việt Nam cho đến nay chủ yếu do các công ty nước
ngoài sử dụng.
Trong khi đó ở một số nước, các tổ chức này thường phối hợp chặt chẽ với
nhau (tất nhiên là hưởng hoa hồng) nên họ luôn giành được các dòch vụ này về
cho nhau. Nhiều nhà doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam phải thừa nhận là
liên minh các tổ chức xuất nhập khẩu, vận tải và bảo hiểm ở nước ngoài hết sức
gắn bó vì lợi ích bản thân và quốc gia cuả họ. Thậm chí có những khách hàng
nước ngoài chấp nhận mua CIF ( hoặc CFR), bán FOB nhưng trong hợp đồng
mua bán họ chỉ đònh chúng ta phải thuê tàu tại những hãng tàu của nước họ. Khi
bán hàng cho những công ty Nhật Bản, nếu các công ty Việt Nam đòi hỏi bán
hàng theo CIF, họ chỉ chấp nhận mua theo điều kiện CFR nhưng yêu cầu phải
thuê tàu của các hãng tàu Nhật Bản có đại lý tại Việt Nam như Mitsui, NYK.
Điều này cũng xảy ra đối với những khách hàng Đức, Hà Lan, Phần Lan.
Muốn tạo sự liên kết này cần có sự hỗ trợ của Nhà nước, sự hỗ trợ này đóng
vai trò rất quan trọng và mang tính quyết đònh. Rất tiếc là chúng ta còn thiếu sự
hỗ trợ này một cách thích đáng.
Ngồi ra còn do một số ngun nhân xuất phát từ chính bản thân các doanh
nghiệp xuất nhập khẩu, doanh nghiệp vận tải và bảo hiểm.
III. Thực trạng doanh nghiệp vận tải Việt Nam
Các doanh nghiệp vận tải Việt Nam chưa mở rộng được thò trường
ngoài nước
Các doanh nghiệp làm dòch vụ hàng hải và đại lý vận tải chưa mở rộng được
thò trường ra ngoài nước, mạng lưới vận tải Việt Nam ở nước ngoài còn ít, hệ
thống đại lý thưa thớt. Chính vì lý do này nên ngành hàng hải Việt Nam trong
13
suốt một thời gian dài chưa đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa xuất
nhập khẩu.
Đội ngũ cán bộ trong ngành vận tải còn non kém về trình độ, kinh
nghiệm
Theo đánh giá của các hãng tàu nước ngoài thì thuyền viên Việt Nam có ưu
điểm cần cù, thông minh, nắm bắt công việc nhanh, nhưng sức khỏe kém, đặc
biệt còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn, thiếu sự hiểu biết về nhiệm vụ công việc
và chức trách thuyền viên trên tàu mình đang phục vụ. Ngoài ra, thuyền viên
của ta cũng chưa nắm vững ngoại ngữ chuyên ngành và pháp luật quốc tế nên
không tiếp cận được với chuyên môn trên các con tàu viễn dương hoạt động theo
quy đònh thống nhất của Công ước quốc tế.
Giá cước vận chuyển cao
Nếu so sánh mặt bằng giá cước vận tải giữa các công ty vận tải biển Việt
Nam và nước ngoài có thể thấy rằng giá cước của chúng ta cao hơn đáng kể.
Nguyên nhân chính là đội tàu của ta có tuổi già, lạc hậu nên mức tiêu hao nhiên
liệu cao, chi phí cho sửa chữa lớn.
Bên cạnh đó, các tàu củaViệt Nam chủ yếu vận chuyển theo từng chuyến
“ăn đong”, nên khả năng bố trí vận tải hàng hai chiều hoặc kế hoạch khai thác,
không để tàu trống rất khó thực hiện, tình trạng để tàu chạy không hàng rất
nhiều. Trừ tàu container có hiệu quả sử dụng cao hơn, còn tàu hàng rời thì
thường khai thác hiệu quả 60% là tối đa để có hàng hai chiều. Chính khó khăn
về nguồn hàng lại tiếp tục là một trong những nguyên nhân làm chi phí vận tải
tăng, kéo giá thành vận tải tăng theo.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét