Trang 5
xuất kinh doanh nhưng doanh nghiệp vẫn phải khấu hao đưa vào giá
thành sản phẩm.
Hơn nữa, các tài sản cho thuê tài chính đều được bảo hiểm mọi rủi ro tại
các Công ty bảo hiểm trong suốt thời gian thuê. Do vậy, trong trường hợp gặp rủi
do bất khả kháng, tài sản bò hư hỏng, mất mát thì được giải quyết bồi thường từ
các Công ty bảo hiểm.
Thứ hai: Doanh nghiệp khi vay trung và dài hạn ở các tổ chức tín dụng bắt
buộc phải có ít nhất 20% vốn tự có tham gia vào tổng giá trò dự án. Đây là một
vấn đề khá nan giải cho cả phía doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng.
Trên thực tế, các tổ chức tín dụng thường gặp khó khăn trong việc xác đònh
cụ thể và quản lý được phần vốn tự có tham gia của doanh nghiệp. Còn các
doanh nghiệp cũng gặp không ít khó khăn trong việc huy động vốn tự có tham
gia nhất là đối với các dự án có mức đầu tư vốn lớn. Bởi vì vốn tự có của các
doanh nghiệp thường không nhiều, hơn nữa tại thời điểm triển khai thực hiện dự
án, nguồn vốn này có thể đang nằm cấu thành trong tài sản hoặc chi phí sản xuất
kinh doanh khác.
Trong cho thuê tài chính, qui đònh về phần vốn tự có tham gia dự án có
tính chất mềm dẻo và linh hoạt hơn. Bên thuê được quyền tự do lựa chọn loại
máy móc, thiết bò, phương tiện vận chuyển và các động sản khác; tự thoả thuận
với nhà sản xuất, nhà cung ứng về đặc tính kỹ thuật; giá cả tài sản; cách thức và
thời gian giao nhận; lắp đặt và bảo hành tài sản thuê. Bên cho thuê phải trực
tiếp mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê để cho thuê, do đó bên cho thuê phải
thanh toán 100% giá trò tài sản. Như vậy, bên cho thuê có thể tài trợ 100% giá trò
tài sản mà bên thuê có nhu cầu trang bò.
Trường hợp bên cho thuê thấy cần phải ràng buộc nghóa vụ của bên thuê
đối với tài sản cho thuê, bên cho thuê có thể thỏa thuận với bên thuê đặt cọc
một số tiền để thực hiện hợp đồng mua tài sản thuê hoặc ký cược một số tiền để
đảm bảo thực hiện hợp đồng cho thuê tài chính.
Trang 6
Tiền đặt cọc sẽ được trừ vào nợ gốc tiền thuê ngay sau khi bên thuê nhận
nợ, còn tiền ký cược sẽ được duy trì suốt trong thời gian thuê. Tiền đặt cọc và ký
cược phải được bên thuê chuyển tới tài khoản bên cho thuê trước khi nhận tài
sản thuê, để làm cơ sở cho bên cho thuê ký và thực hiện hợp đồng mua bán và
hợp đồng cho thuê tài chính.
Thứ ba: Khi các tổ chức tín dụng cho doanh nghiệp vay vốn bằng tiền, sau
khi phát tiền vay thì việc kiểm soát sử dụng vốn cho vay đúng mục đích thực sự
là khó khăn bởi vì cán bộ tín dụng không thể lúc nào cũng thực hiện và kiểm
soát được việc này. Các doanh nghiệp thường sử dụng vốn vay sai mục đích:
dùng tiền vay trả nợ cũ, mua tài sản không đúng như trong dự án xin vay, sử
dụng vào mục đích khác …
Bên cạnh đó, khi doanh nghiệp sử dụng vốn vay mua tài sản thì tài sản đó
đứng tên doanh nghiệp, doanh nghiệp là chủ sở hữu tài sản đó. Do vậy, trường
hợp doanh nghiệp không trả được nợ, các tổ chức tín dụng cũng không trực tiếp
xử lý, thu hồi được mặc dù tài sản đó hình thành từ vốn cho vay của mình. Và
đây là những lý do để các tổ chức tín dụng nói chung và cán bộ tín dụng nói
riêng muốn hạn chế cho vay trung và dài hạn đối với các doanh nghiệp.
Trong cho thuê tài chính, bên cho thuê nắm giữ quyền sở hữu và chỉ giao
cho bên thuê quyền sử dụng tài sản theo đúng mục đích ban đầu chứ không phải
bằng tiền, cho nên những vướng mắc trên được loại bỏ.
Thứ tư: Doanh nghiệp có thể được thuê tài chính tất cả các loại động sản
liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, dòch vụ.
Trong đó có một số loại tài sản phục vụ cho sản xuất, kinh doanh nhưng không
thuộc đối tượng cho vay của các tổ chức tín dụng như: phương tiện phục vụ công
tác (ôtô, xe máy), phương tiện văn phòng (vi tính, máy photocopy, máy lạnh),
dụng cụ y tế….
Thứ năm: Doanh nghiệp được dùng phương pháp khấu hao nhanh đối với
tài sản đi thuê. Theo qui đònh hiện nay thời gian khấu hao nhanh của tài sản thuê
tài chính có thể rút ngắn bằng 60% thời gian khấu hao theo qui đònh của Bộ tài
Trang 7
chính đối với tài sản cố đònh mua về tại các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp
(nhất là các doanh nghiệp đang kinh doanh có hiệu quả) có cơ hội để điều tiết
linh hoạt lợi nhuận và thuế lợi tức của doanh nghiệp khi còn đang nợ thuê. Sau
khi trả hết tiền thuê tài sản, tài sản đó được chuyển quyền sở hữu hoặc bán với
giá tượng trưng cho doanh nghiệp. Trên sổ sách thì giá trò tài sản rất thấp hoặc
đã khấu hao hết, nhưng thực tế giá trò và giá trò sử dụng của tài sản vẫn còn cao.
Lúc này doanh nghiệp và nhà nước cùng có thu nhập thực thụ do chi phí khấu
hao tài sản đó không đáng kể, giá thành sản phẩm hạ. Doanh nghiệp vừa có điều
kiện cạnh tranh vừa có lợi nhuận trước thuế tăng lên so với trước.
Thứ sáu: Trường hợp doanh nghiệp đã dùng vốn tự có hoặc nguồn vốn ngắn
hạn khác để đầu tư mua sắm máy móc thiết bò sản xuất, dẫn tới thiếu vốn lưu
động để mua nguyên nhiên vật liệu, hàng hóa phục vụ cho sản xuất kinh doanh,
doanh nghiệp có thể dùng phương thức bán và thuê lại tài sản hiện có. Như vậy
doanh nghiệp vừa có tài sản để sử dụng lại vừa có vốn lưu động để kinh doanh.
1.1.3. Phân loại cho thuê tài chính
Căn cứ vào các mối quan hệ cụ thể mà người ta có thể phân chia một cách
tương đối các hình thức hoạt động cho thuê tài chính trong nền kinh tế thò trường.
Việc phân loại hoạt động cho thuê tài chính có ý nghóa đối với việc áp dụng các
quy chế hạch toán – kế toán theo sự quản lý chung của Nhà nước và được hưởng
các ưu đãi (nếu có). Tùy vào các hình thức tiếp cận cụ thể người ta có những
cách phân loại cho thuê thành các hình thức khác nhau. Chẳng hạn, căn cứ vào
quyền hủy ngang hợp đồng, chi phí bảo trì, dòch vụ và mua bảo hiểm hay ưu đãi
về thuế … người ta chia thành cho thuê tài chính và cho thuê vận hành. Tuy
nhiên, trong khuôn khổ mục đích, phạm vi, giới hạn nghiên cứu của đề tài luận
văn chúng tôi chỉ tập trung trình bày đối với cho thuê tài chính.
Ở giác độ chung nhất và thông dụng nhất, thì hoạt động cho thuê tài chính
có các loại như sau: Cho thuê thuần, cho thuê hợp tác, cho thuê trực tiếp, cho
thuê liên kết, cho thuê giáp lưng, cho thuê trả góp, bán và tái thuê.
Trang 8
Nội dung hoạt động của các hình thức cho thuê tài chính được thể hiện
thông qua các loại hình công ty cho thuê tài chính, theo Nghò đònh 16/2001/NĐ-
CP của Chính phủ " Về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính"
ban hành ngày 02/05/2001, hiện nay có 5 loại hình Công ty cho thuê tài chính
được phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam, cụ thể là:
- Công ty cho thuê tài chính Nhà nước
- Công ty cho thuê tài chính cổ phần
- Công ty cho thuê tài chính trực thuộc các tổ chức tín dụng (TCTD)
- Công ty cho thuê tài chính liên doanh
- Công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài
Với sự phong phú và đa dạng của hoạt động cho thuê tài chính cho thấy
trong nền kinh tế thò trường mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế nghiệp vụ cho
thuê tài chính đã ngày càng mở rộng mạng lưới hoạt động trên toàn lãnh thổ và
hướng đến đáp ứng nhu cầu công chúng toàn cầu.
Cả 5 loại hình Công ty cho thuê tài chính trên đều có nội dung hoạt động
bình đẳng như nhau, đó là:
Ø Nguồn vốn hoạt động:
- Vốn tự có: Gồm vốn điều lệ và quỹ bổ sung vốn điều lệ;
- Vốn huy động: Nhận tiền gửi (thời hạn từ một năm trở lên), vay vốn các
tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước, phát hành trái phiếu,
chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có giá khác;
- Được nhận các nguồn vốn khác theo qui đònh của Ngân hàng Nhà nước
(NHNN).
Ø Hoạt động cho thuê tài chính:
- Cho thuê tài chính;
- Mua và cho thuê lại;
Trang 9
- Đồng tài trợ cho thuê tài chính (Cho thuê hợp vốn).
Ø Các hoạt động khác:
- Các nghiệp vụ được phép thực hiện theo qui đònh của pháp luật hiện
hành:
+ Tư vấn khách hàng về những vấn đề liện quan đến nghiệp vụ cho
thuê tài chính;
+ Thực hiện dòch vụ ủy thác, quản lý tài sản và bảo lãnh liên quan đến
hoạt động cho thuê tài chính;
- Các nghiệp vụ được NHNN cho phép – Hoạt động ngoại hối: tùy theo
tính chất hoạt động của công ty cho thuê tài chính mà trong giấy phép
hoạt động ngoại hối, NHNN sẽ cho phép công ty cho thuê tài chính được
thực hiện từng nghiệp vụ cụ thể.
1.2. LÝ THUYẾT CHẤT LƯNG DỊCH VỤ VÀ CHẤT LƯNG DỊCH VỤ
CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1.2.1. Khái niệm chất lượng dòch vụ và sự thỏa mãn khách hàng
1.2.1.1. Khái niệm chất lượng dòch vụ
Dòch vụ là bao gồm toàn bộ các hoạt động trong suốt quá trình mà khách
hàng và nhà cung cấp dòch vụ tiếp xúc nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách
hàng mong đợi có được trước đó cũng như tạo ra được giá trò cho khách hàng.
Theo lý thuyết về tiếp thò dòch vụ thì dòch vụ có 3 đặc điểm cơ bản là: vô
hình, không đồng nhất, không thể tách ly. Chính vì vậy mà dòch vụ có những đặc
trưng riêng so với các ngành khác (xem Phụ lục 01).
Những đặc trưng của dòch vụ đã tạo rất nhiều khác biệt trong việc đònh
nghóa chất lượng sản phẩm với chất lượng dòch vụ. Trong khi người tiêu dùng có
thể đánh giá chất lượng của sản phẩm hữu hình một cách dễ dàng thông qua
Trang 10
hình thức kiểu dáng của sản phẩm, màu sắc bao bì hay độ bền chắc… vì họ có
thể sờ, nắm, ngửi, nhìn… trực tiếp sản phẩm thì điều này lại không thể thực hiện
đối với những sản phẩm dòch vụ vô hình vì chúng không đồng nhất với nhau
nhưng lại không thể tách ly ra được. Chất lượng của dòch vụ sẽ được thể hiện
trong suốt quá trình tiêu dùng dòch vụ, quá trình tương tác giữa khách hàng và
nhân viên của Doanh nghiệp cung cấp dòch vụ đó [II.9].
Vì vậy khi đònh nghóa về chất lượng dòch vụ, Parasuraman & ctg. [II.7] đã
cho rằng chất lượng dòch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng về
những tiện ích mà dòch vụ sẽ mang lại cho họ và nhận thức, cảm nhận của họ về
kết quả họ có được sau khi đã sử dụng qua dòch vụ đó. Đây có thể được xem là
một khái niệm tổng quát nhất bao hàm đầy đủ ý nghóa của dòch vụ, đồng thời
cũng chính xác nhất khi xem xét chất lượng dòch vụ đứng trên quan điểm khách
hàng, xem khách hàng là trọng tâm.
1.2.1.1. Sự thỏa mãn của khách hàng
Nói đến chất lượng dòch vụ, thường nhiều người cho rằng đó cũng chính là
mức độ thỏa mãn của khách hàng. Tuy nhiên cũng có nhiều quan điểm khác
đánh giá về sự thỏa mãn của khách hàng. Bechelet [II.2] đònh nghóa sự thỏa mãn
của khách hàng là một phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng đáp lại với
kinh nghiệm của họ với một sản phẩm hay dòch vụ. Còn Philip Kotler [I.18] cũng
cho rằng sự thỏa mãn là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt
nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ sản phẩm với những kỳ vọng của
người đó. Theo đó, sự thỏa mãn có 3 cấp độ như sau:
- Nếu mức độ nhận được của khách hàng nhỏ hơn kỳ vọng thì khách hàng
cảm nhận không hài lòng.
- Nếu mức độ nhận được của khách hàng bằng kỳ vọng thì khách hàng
hài lòng.
- Nếu mức độ nhận được của khách hàng lớn hơn kỳ vọng thì khách hàng
sẽ thích thú.
Trang 11
Có thể thấy rằng sự thỏa mãn của khách hàng và chất lượng dòch vụ là hai
khái niệm tách rời nhau. Sự thỏa mãn của khách hàng là một khái niệm tổng
quát nói lên sự hài lòng của họ khi tiêu dùng một dòch vụ, còn nói đến chất
lïng dòch vụ là quan tâm đến các thành phần cụ thể của dòch vụ [II.11].
1.2.2. Khái niệm chất lượng dòch vụ cho thuê tài chính
Chất lượng của dòch vụ cho thuê tài chính là khả năng đáp ứng của dòch vụ
cho thuê tài chính đối với sự mong đợi của khách hàng đi thuê tài chính, hay nói
cách khác thì đó chính là khoảng cách giữa sự kỳ vọng của khách hàng thuê tài
chính với cảm nhận của họ về những kết quả mà họ nhận được sau khi giao dòch
thuê tài chính với Công ty cho thuê tài chính.
1.3. CÁC LÝ THUYẾT ĐÁNH GIÁ VỀ CHẤT LƯNG DỊCH VỤ VÀ SỰ
THỎA MÃN CỦA KHÁCH HÀNG
1.3.1. Các lý thuyết đánh giá chất lượng dòch vụ
Có nhiều nghiên cứu khác nhau trên thế giới nhằm đưa được đònh nghóa và
đo lường chất lượng dòch vụ, trong đó:
- Lehtinen & Lehtinen [II.6]: chất lượng dòch vụ được đánh giá trên 2
mặt:
+ Quá trình cung cấp dòch vụ
+ Kết quả của dòch vụ
- Gronroos [II.4] đưa ra hai lónh vực của chất lượng dòch vụ:
+ Chất lượng kỹ thuật: nói đến những gì được phục vụ
+ Chất lượng chức năng: chúng được phục vụ như thế nào
- Parasuraman & ctg. [II.7, II.8] đã có những nghiên cứu về chất lượng
dòch vụ trong ngành tiếp thò rất chi tiết và cụ thể. Họ đã đưa ra mô hình
5 khoảng cách chất lượng dòch vụ (xem hình 1.1). Trong 5 khoảng cách
này, khoảng cách 5 chính là mục tiêu cần nghiên cứu vì nó xác đònh
được mức độ thỏa mãn của khách hàng khi họ nhận biết được mức độ
Trang 12
khác biệt giữa dòch vụ kỳ vọng và dòch vụ nhận được. Và sự khác biệt
này chính là do 4 khoảng cách từ 1 đến 4 tạo nên (xem Phụ lục 2).
Hình 1.1: Sơ đồ Mô hình chất lượng dòch vụ
Nguồn: Nguyễn Đình Thọ & ctg. 2003, trích từ Parasuraman & ctg.
[1985:44]
Mô hình nêu trên đã mô tả khá tổng quát về chất lượng dòch vụ. Tuy nhiên
để có thể đánh giá chất lượng dòch vụ được cảm nhận bởi khách hàng một cách
Dòch vụ kỳ vọng
Dòch vụ chuyển giao
Dòch vụ cảm nhận
Nhận thức của Công
ty về kỳ vọng của
khách hàng
Chuyển đổi cảm nhận
của Công ty thành
tiêu chí chất lượng
Thông tin đến
khách hàng
Khoảng cách 5
Khoảng cách 2
Khoảng cách 3
Khoảng cách 4
Khoảng cách 1
NHÀ TIẾP THỊ KHÁCH HÀNG
Trang 13
cụ thể, các nhà nghiên cứu sau nhiều lần nghiên cứu và kiểm đònh đã đưa ra một
thang do chất lượng dòch vụ gồm 5 thành phần sau:
1. Tin cậy (reliability): liên quan đến khả năng chắc chắn thực hiện dòch
vụ theo đúng cam kết với khách hàng.
2. Đáp ứng (responsiveness): khả năng sẵn sàng đáp ứng, cung cấp dòch vụ
tốt nhất cho khách hàng.
3. Năng lực phục vụ (assurance): thể hiện khả năng phục vụ khách hàng.
4. Đồng cảm (empathy): thể hiện sự quan tâm thấu hiểu những ước muốn,
mối quan tâm của từng khách hàng.
5. Phương tiện hữu hình (tangibles): liên quan đến cơ sở vật chất, trang
thiết bò cũng như trang phục, ngoại hình của nhân viên phục vụ.
1.3.2. Các lý thuyết đánh giá sự thỏa mãn của khách hàng
Như đã trình bày ở phần trên, mặc dù chất lượng dòch vụ và sự thỏa mãn
khách hàng là hai khái niệm phân biệt nhưng nhiều nghiên cứu cũng chứng minh
rằng giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau (xem hình1.2).
Hình 1.2: Sơ đồ mô hình chất lượng dòch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng
Đáp ứng
Phương tiện
hữu hình
Năng lực
phục vụ
Tin cậy
Đồng cảm
Thỏa mãn
H1a
H1b
H1c
H1d
H2a
H2b
H2c
H2d
H2e
H1f
H1g
H1h
H1i
H1j
Trang 14
Nguồn: Nguyễn Đình Thọ & ctg. [2003:12]
Mô hình trên thể hiện có 2 nhóm giả thuyết là nhóm giả thuyết về mối
quan hệ giữa các thành phần của chất lượng dòch vụ (từ H1a đến H1j) và nhóm
giả thuyết về mối quan hệ giữa các thành phần chất lượng dòch vụ với mức độ
thỏa mãn của khách hàng (từ H2a đến H2e), nội dung của từng giả thuyết được
trình bày tại Phụ lục 03.
1.4. CÁC YẾU TỐ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯNG DỊCH VỤ CHO THUÊ TÀI
CHÍNH VÀ SỰ THỎA MÃN KHÁCH HÀNG
1.4.1. Thiết kế nghiên cứu chất lượng dòch vụ cho thuê tài chính
Để đánh giá chất lượng dòch vụ cho thuê tài chính và sự thỏa mãn của
khách hàng, tác giả đã sử dụng mô hình lý thuyết về chất lượng dòch vụ đã được
trình bày trên đây với thang đo SERVQUAL về chất lượng dòch vụ [II.8]. Tác
giả đã thực hiện nghiên cứu thông qua hai bước là nghiên cứu sơ bộ và nghiên
cứu chính thức.
Bảng 1.1: Tiến độ thực hiện các nghiên cứu
Bước
Dạng
nghiên cứu
Phương
pháp
Kỹ thuật sử dụng Thời gian Đòa điểm
1 Sơ bộ Đònh tính
- Đóng vai
- Thảo luận nhóm
và tay đôi
10/2007 TP.HCM
2 Chính thức Đònh lượng Phỏng vấn trực tiếp 11/2007 TP.HCM
Nguồn: Tác giả tự thực hiện
Trên cơ sở thang đo SERVQUAL về chất lượng dòch vụ, nghiên cứu sơ bộ
với kỹ thuật đóng vai để điều chỉnh thành thang đo 1, kỹ thuật thảo luận nhóm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét