Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Giải pháp mở rộng hoạt động bảo lãnh tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Đống Đa.doc

lãnh (là một loại chứng từ) do mình phát hành và đối chiếu với các
chứng từ do người nhận bảo lãnh thiết lập và xuất trình để xác định
việc đòi tiền của người nhận bảo lãnh có hợp lệ không và mình có
phải trả tiền theo yêu cầu đó hay không. 10
Theo thông lệ quốc tế về bảo lãnh NH, có ba loại chứng từ quan
trọng nhất làm cơ sở cho các bên thực hiện giao dịch bảo lãnh NH, đó
là văn bản bảo lãnh (hợp đồng bảo lãnh – cam kết bảo lãnh hay thư
bảo lãnh); yêu cầu trả tiền (Demand for payment) và tuyên bố vi phạm
(statement of default). Nếu không có ba loại chứng từ này, các bên
không thể xác định được việc bảo lãnh NH có tồn tại hay không và
quyền, nghĩa vụ của các bên sẽ được thực hiện như thế nào. Việc xây
dựng nguyên tắc bảo lãnh dựa vào chứng từ không chỉ nhằm đảm
bảo quyền lợi hợp pháp và chính đáng của các bên giao dịch, mà còn
góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm cũng như tính kỷ luật hợp
đồng, trên cơ sở đó tạo dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh,
minh bạch và an toàn hiệu quả cho các tổ chức tín dụng. 10
Bước 2: NH thẩm định hồ sơ và ra quyết định bảo lãnh 21
NH khi tiếp nhận hồ sơ phải thẩm định các điều kiện đã quy định với
khách hàng khi xin bảo lãnh. Nội dung văn bản bảo lãnh phải chứa
đựng các yếu tố cơ bản sau đây: 21
Chỉ định các bên tham gia: tên của người được bảo lãnh, NH phát
hành , NH chỉ thị, NH thông báo (nếu có) và tên người hưởng bảo
lãnh. 21
Mục đích của bảo lãnh: cần kiểm tra những nội dung như: tính hợp
pháp, hợp lệ của các giao dịch xin bảo lãnh; đối với bảo lãnh dự thầu
mà khách hàng có nhu cầu bảo lãnh thực hiện hợp đồng khi trúng
thầu, cần phân tích khả năng thực hiện hợp đồng, điều kiện và khả
năng đối với bảo lãnh thực hiện hợp đồng. 21
Số tiền bảo lãnh: Số tiền bảo lãnh giới hạn mức thanh toán của NH
bảo lãnh đối với người thụ hưởng. Khi có biến cố xảy ra, người thụ
thưởng không có quyền đòi bồi thường nhiều hơn số tiền này, cho dù
giá trị thiệt hại thực tế có lớn hơn. Số tiền bảo lãnh thường được quy
định theo mức tối đa và xác định dựa trên bản chất của giao dịch
cũng như giá trị hợp đồng gốc (số tiền này quy định theo số tuyết đối,
không được xác định theo tỷ lệ %). 21
Các điều kiện thanh toán: Qui định các chứng từ cần thiết phải xuất
trình làm cơ sở cho việc thực hiện cam kết thanh toán của NH bảo
lãnh. 21
Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh: Đây là khoảng thời gian mà NH phát
hành với tư cách là người bảo đảm, chịu trách nhiệm thực hiện cam
kết thanh toán bất cứ khi nào điều kiện thanh toán được thỏa mãn. 22
Các quyền và nghĩa vụ của bên được bảo lãnh và NH phát hành 22
Quy định về bồi hoàn cho NH sau khi NH thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
22
ĐỀ NGHỊ BẢO LÃNH 1
DANH MỤC VIẾT TẮT
Ký hiệu viết tắt Tên đầy đủ
ABA Hiệp hội Ngân hàng Châu Á
ADB Ngân hàng phát triển châu Á
APRACA Hiệp hội tín dụng Nông nghiệp Nông thôn Châu Á
Thái Bình Dương
ATM Máy rút tiền tự động
BL Bảo lãnh
CICA Hiệp hội tín dụng Nông nghiệp Quốc tế
EUR Đồng Euro
LC Thư tín dụng
NH Ngân hàng
NHNo&PTNT Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
TTKT Tổ chức kinh tế
SWIFT Hiệp hội Viễn thông Tài chính Liên ngân hàng
Thế Giới
USD Đồng đô la Mỹ
VND Việt Nam đồng
WB Ngân hàng thế giới

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, CÔNG THỨC
Trang
Sơ đồ 1.1: Quy trình bảo lãnh trực tiếp 16

16
Sơ đồ 1.2: Quy trình bảo lãnh gián tiếp 17
Sơ đồ 1.3: Quy trình đồng bảo lãnh 18
Sơ đồ 1.4: Quy trình bảo lãnh chung tại các ngân hàng thương mại 20
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của chi nhánh Đống Đa 34
34
Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn chi nhánh Đống Đa 39
Bảng 2.2: Tình hình hoạt động cho vay tại chi nhánh Đống Đa. 42
Biểu đồ 2.2: Hoạt động cho vay vốn 43
Bảng 2.3: Tình hình dư nợ của chi nhánh Đống Đa 44
Biểu đồ 2.3: Tổng dư nợ qua các năm 45
Bảng 2.4: Tình hình cung cấp các sản phẩm dịch vụ tại chi nhánh Đống Đa 47
Bảng 2.5: Tình hình tài chính của chi nhánh qua các năm 2008 – 2010 48
Bảng 2.6: Doanh số bảo lãnh phát sinh trong năm 2009, 2010 58
Biểu đồ 2.4: Dư nợ bảo lãnh tại chi nhánh Đống Đa 59
Biểu đồ 2.5: Dư nợ bảo lãnh phân theo loại hình bảo lãnh 60
Năm 2009 60
Năm 2010 60
Bảng 2.7: Phân loại dư nợ bảo lãnh theo loại hình 61
Bảng 2.8: Dư nợ bảo lãnh chia theo thời hạn 62
Biểu đồ 2.6: Dư nợ bảo lãnh phân theo thời hạn 62
Bảng 2.9: Phân loại dư nợ bảo lãnh theo các loại hình kinh tế 63
Biểu đồ 2.7: Dư nợ bảo lãnh theo loại hình kinh tế 64
Bảng 2.10: Doanh thu hoạt động bảo lãnh trong năm 2009, 2010 65
Bảng 2.11: Mức tính phí cho hoạt động bảo lãnh tại NHNo&PTNT Đống Đa 69
LỜI MỞ ĐẦU
1. Ý nghĩa của đề tài
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống các ngân hàng thương mại cũng không
ngừng phát triển và mở rộng, bên cạnh các ngân hàng thương mại Nhà nước là sự xuất hiện
của các ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh và chi nhánh các ngân hàng nước ngoài.
Trong bối cảnh này thì sự cạnh tranh là tất yếu mà lĩnh vực cạnh tranh gay gắt nhất chính là
lĩnh vực tín dụng truyền thống. Vì vậy mà các ngân hàng đang đẩy mạnh thực hiện đề án
tái cơ cấu toàn ngành, thực hiện mục tiêu theo phương châm kinh doanh chất lượng – tăng
trưởng - bền vững, hiệu quả và an toàn. Kinh doanh chất lượng gắn liền với giải pháp đa
dạng hoá các nghiệp vụ ngân hàng.
Bên cạnh những nghiệp vụ truyền thống, các ngân hàng đã và đang áp dụng thêm nhiều
nghiệp vụ mới có tính chất hiện đại, trong đó có nghiệp vụ bảo lãnh. Ra đời vào khoảng
những năm 70 của thế kỷ XX, bảo lãnh ngân hàng ngày càng phát triển và đóng vai trò
quan trọng trong nền kinh tế. Cho đến nay, tại các nước phát triển, nó đã trở thành một
trong các nghiệp vụ phi tín dụng phát triển nhất với doanh số liên tục tăng trong những năm
qua. Đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam, tuy mới xuất hiện trong một vài năm trở lại
đây, nhưng nó đóng vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế, giúp cho doanh nghiệp phát
triển nguồn vốn dễ dàng hơn, đồng thời đem lại khoản thu không nhỏ cho ngân hàng.
Xuất phát từ suy nghĩ trên, em đã quyết định chọn đề tài: “Giải pháp mở rộng hoạt
động bảo lãnh tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Đống Đa”
làm nội dung nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Khóa luận đề cập đến một số lý luận cơ bản về bảo lãnh ngân hàng, vai trò của bảo lãnh
ngân hàng trong nền kinh tế, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động bảo lãnh đồng thờ
nêu ra được những khó khăn hạn chế còn tồn tại tại chi nhánh Đống Đa. Trên cơ sở đó đưa
ra các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện nghiệp vụ bảo lãnh tại Agribank Đống Đa.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài chủ yếu nghiên cứu nghiệp vụ hoạt động bảo lãnh, thực trạng bảo lãnh và nguyên
nhân dẫn đến thực trạng đó tại Agribank Đống Đa.
4. Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp thống kê, phương
pháp suy luận logic cùng với phương pháp khảo sát thực tiễn.
5. Kết cấu khóa luận
Đề tài gồm 3 chương, cụ thể như sau
Chương 1: Lý luận chung về hoạt động Bảo lãnh của Ngân hàng Thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động bảo lãnh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn chi nhánh Đống Đa.
Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động bảo lãnh tại chi nhánh Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh Đống Đa.

CHƯƠNG 1:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO LÃNH CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1. Khái niệm
Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. NH bao
gồm nhiều loại tuỳ thuộc sự phát triển của nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính nói
riêng, trong đó, NHTM thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số
lượng các NH.
Các NHTM thường được biết đến như là một chủ thể của quá trình phân phối của cải
xã hội trong hệ thống tài chính quốc gia, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ mà
nhiệm vụ chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cho vay và
cung ứng các dịch vụ thanh toán. Hệ thống NHTM ra đời với mạng lưới rộng khắp nên đã
thực sự tiếp cận được với các chủ thể tạm thời thừa vốn và các chủ thể tạm thời thiếu vốn
trong nền kinh tế. Là một trung gian tài chính, NHTM tổ chức huy động các luồng tiền
nhàn rỗi trong xã hội, sau đó thực hiện phân phối lại các nguồn vốn này cho các chủ thể
đang thiếu vốn và thực sự cần vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, phục vụ đời sống.
Với vai trò quan trọng như vậy, nhưng quan niệm thế nào về một NH, và sự phân biệt
nó với các tổ chức phi NH không phải là điều đơn giản. Rõ ràng, có thể định nghĩa NH
thông qua chức năng mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ
chức năng của các NH thay đổi, mà có sự “thâm nhập” vào chức năng hoạt động NH của
các đối thủ cạnh tranh. Do đó tuỳ theo điều kiện của mỗi nước và sự phát triển của hệ
thống tài chính nước đó mà có những định nghĩa khác nhau về NH.
Theo luật NH của Pháp thì NH được định nghĩa: “NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở
nào đó thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký khác, hay hình thức khác số
tiền mà họ dung cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”
Còn luật pháp Ấn Độ lại có cái nhìn về NH như sau, họ định nghĩa: “NHTM là cơ sở
nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ đầu tư.”
Đó là các quan điểm về NH đứng trên giác độ luật pháp. Còn trên giác độ tài chính NH
thì sao? Một định nghĩa khác về NH được Giáo sư Peter Rose đưa ra như sau: “NH là loại
hình tổ chức tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng,
tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ
một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.”
Ở Việt Nam, theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam: “Ngân hàng thương
1
mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền
gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu
và làm phương tiện thanh toán”.
Theo quy định tại luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 định nghĩa: “Ngân hàng
thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Như
vậy thông qua một số khái niệm về NHTM, ta có thể hiểu NHTM là một loại hình doanh
nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tín dụng với mục đích thu lợi nhuận, và nó có
những đặc trưng như sau :
- Ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép nhân ký thác của công chúng với
trách nhiệm hoàn trả.
- Ngân hàng thương mại là một tổ chức được phép sử dụng ký thác của công chúng để
cho vay, chiết khấu và thực hiện các dịch vụ tài chính khác.
Như vậy NHTM cũng là một doanh nghiệp nhưng là một doanh nghiệp đặc biệt, nó
không trực tiếp tham gia sản xuất lưu thông hàng hoá nhưng lại góp phần phát triển kinh tế,
xã hội thông qua việc cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế, thực hiện chức năng trung
gian thanh toán và dịch vụ NH. Lịch sử ra đời và phát triển của ngành NH đã chứng minh
được rằng: NHTM là sản phẩm tất yếu của quá trình sản xuất và trao đổi hàng hoá và
NHTM cũng lại chính là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển lên tầm cao mới.
1.1.2. Chức năng của Ngân hàng Thương mại
1.1.2.1. Chức năng trung gian tín dụng
Đây là chức năng đặc trưng và cơ bản nhất của NHTM và có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là “cầu nối” giữa
người dư thừa vốn và người có nhu cầu về vốn. Thông qua việc huy động các khoản vốn
tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế bằng nhiều hình thức, NHTM hình thành quỹ cho
vay để cung cấp tín dụng cho nền kinh tế. Với chức năng này NHTM vừa đóng vai trò là
người đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay.
Với chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên
tham gia bao gồm: người gửi tiền, ngân hàng, người đi vay, đồng thời góp phần thúc đẩy sự
phát triển của nền kinh tế.
- Đối với người gửi tiền thì thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của mình gửi
tại NH do NH trả lãi đồng thời NH còn đảm bảo sự an toàn về khoản tiền gửi và
cung cấp các dịch vụ thanh toán tiện lợi.
- Đối với người đi vay thì được thỏa mãn nhu cầu vay vốn để kinh doanh.
2
- Đối với NHTM thì kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi
suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới.
- Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế thông qua việc cung ứng vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được
thực hiện liên tục với quy mô ngày một mở rộng. Thực hiện chức năng này. NHTM
đã biến vốn tạm thời nhàn rỗi chưa tham gia hoạt động thành vốn hoạt động, kích
thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.
Ngày nay quan niệm chức năng tài chính của NHTM trở nên biến hoá hơn. Sự phát
triển của thị trường tài chính làm xuất hiện những khía cạnh khác của chức năng này. NH
có thể đứng ra làm trung gian giữa nhà phát hành chứng khoán với những nhà đầu tư,
chuyển giao những mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán,… Do đó, NHTM không chỉ
làm trung gian giữa người gửi tiền và người vay tiền mà còn là trung gian giữa người đầu
tư và người cần vay vốn trên thị trường.
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của NHTM
quyết định sự tồn tại và phát triển của NH đồng thời cũng là cơ sở để thực hiện các chức
năng khác.
1.1.2.2. Chức năng trung gian thanh toán
Ngân hàng thương mại làm trung gian thanh toán khi thực hiện thanh toán theo yêu cầu
của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi thanh toán của họ để thanh toán tiền
hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các
khoản thu khác. NHTM đóng vai trò là người “thủ quỹ” cho các doanh nghiệp và cá nhân
bởi NH là người giữ tài khoản của họ và thực hiện các lệnh thu chi của khách hàng.
Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cở sở thực hiện
chức năng trung gian tín dụng. Bởi vì thông qua việc nhận tiền gửi, NH đã mở cho khách
hàng tài khoản tiền gửi để theo dõi các khoản thu, chi. Đó chính là tiền đề để khách hàng
thực hiện thanh toán qua NH. Hơn nữa, việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt giữa các chủ
thể trong nền kinh tế có nhiều hạn chế như rủi ro, chi phí lớn,…điều này đã tạo thêm nhu
cầu thanh toán qua NH của khách hàng.
Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế - xã
hội. NHTM cung ứng cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tùy theo nhu cầu. Các
chủ thể kinh tế không cần giữ, mang và thanh toán, chi trả cho khách hàng bằng tiền mặt.
Do đó tiết kiệm được chi phí, thời gian và đảm bảo được thanh toán an toàn. Đồng thời
thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn,…góp
phần phát triển kinh tế - xã hội.
3
Đối với NHTM, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho NH thông qua việc
thu phí thanh toán, tăng nguồn vốn cho vay của NH thể hiện trên số dư Có trogn tài khoản
tiền gửi của khách hàng.
1.1.2.3. Chức năng tạo tiền
Nguồn vốn NHTM huy động được thông qua hành vi cho vay bằng chuyển khoản đối
với khách hàng của mình để thanh toán cho khách hàng của NH khác tạo nên số tiền gửi
(tức tiền tín dụng). Cứ như thế số tiền này được vận hành qua nhiều NHTM sẽ làm cho nó
lớn lên gấp nhiều lần so với số ban đầu. Mức mở rộng tiền gửi này phụ thuộc vào hệ số mở
rộng tiền gửi. Hệ số này chịu tác động bởi tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Như vậy, quá trình tạo tiền chỉ có thể thực hiện được khi có sự tham gia của cả hêj
thống NHTM chứ bản thân một NHTM không thể tạo ra được. Tuy nhiên, xét theo phương
diện toàn thể hệ thống NH thì số tiền dự trữ (tiền gửi) đó không rời khỏi hệ thống mà trở
thành khoản dự trữ của NH khác để NH này tạo ra các khoản cho vay mới và nhờ vậy quá
trình tạo tiền lại tiếp tục.
Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng phương tiện thanh toán trong nền
kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Rõ ràng khái niệm về tiền hay tiền
giao dịch không chỉ là tiền do NHTW phát hành ra mà còn bao gồm một bộ phận quan
trọng là lượng tiền ghi sổ do các NHTM tạo ra.
1.1.3. Những hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại
1.1.3.1. Hoạt động huy động vốn
Đây là nghiệp vụ cơ bản, đầu tiên chủ yếu của NHTM, mà qua nghiệp vụ này thì các
nghiệp vụ khác của NHTM mới thực hiện được.
Để thành lập NHTM phải có một số vốn nhất định (vốn pháp định), đồng thời mỗi
NHTM phải có một số vốn ban đầu (vốn tự có) để làm tiền đề cho các hoạt động kinh
doanh của mình. Tuy nhiên, đối với hầu hết các NH thì số vốn tự có là rất nhỏ mà nguồn
vốn chủ yếu của các NHTM là vốn huy động từ các tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế
thông qua việc thu hút tiền gửi bằng các hình thức khác nhau và cung cấp các dịch vụ ngân
hàng. Cụ thể, NHTM thu hút vốn bằng các hình thức sau:
- Huy động tiền gửi: NHTM cung cấp tới khách hàng đa dạng các loại hình tiền gửi
như tiết kiệm có kỳ hạn, không kỳ hạn; Tiền gửi có kỳ hạn, không kỳ hạn; Tiền gửi
thanh toán; Tài khoản séc; Chứng chỉ tiền gửi (CDs)… với những cách tính lãi suất
hấp dẫn như: Tính lãi định kỳ; Lãi suất bậc thang; Lãi cộng dồn; Lãi suất luỹ tiến…
để thu hút nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư và nguồn tiền chưa cần dùng đến của
các tổ chức.
4

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét