Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Đấu tranh giai cấp

lời mở đầu
Trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị chiếm đoạt lao động của các
giai cấp và tầng lớp bị trị, chiếm đoạt của cải xã hội vào tay mình. Các giai cấp,
tầng lớp bị trị không những bị chiếm đoạt kết quả lao động mà họ còn bị áp bức
về chính trị, xã hội và tinh thần. Không có sự bình đẳng giữa giai cấp thống trị
và giai cấp bị trị, chẳng hạn giữa giai cấp các nhà t bản với giai cấp những công
nhân làm thuê. Giai cấp bóc lột bao giờ cũng dùng mọi biện pháp và phơng tiện
bảo vệ địa vị giai cấp của họ, duy trì củng cố kinh tế xã hội cho phép họ đợc h-
ởng những đặc quyền, đặc lợi giai cấp. Công cụ chủ yếu là quyền lực nhà nớc.
Lợi ích cơ bản của giai cấp bị trị đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị.
Đây là đối kháng về quyền lợi giữa những giai cấp áp bức bóc lột và những giai
cấp, tầng lớp bị áp bức, bị bóc lột.
Đối kháng là nguyên nhân của đấu tranh giai cấp. Có áp bức thì có đấu
tranh chống áp bức. Vì vậy đấu tranh giai cấp không do một lý thuyết xã hội
nào tạo ra mà là hiện tợng tất yếu không thể tránh đợc trong xã hội có áp bức
giai cấp.
Đấu tranh giai cấp là một trong những động lực thúc đẩy sự vận động và
phát triển của xã hội có sự phân chia giai cấp.
Chơng I. Giai cấp
I. Giai cấp là gì?
Chủ nghĩa duy vật lịch sử chỉ ra rằng, các giai cấp xã hội hình thành một
cách khách quan gắn liền với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của
sản xuất. Trong tác phẩm "Sáng kiến vĩ đại", Lê Nin đã đa ra định nghĩa về giai
cấp nh sau:
"Ngời ta gọi là giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những ngời khác
nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch
sử, khác nhau về quan hệ của họ (thờng thì những quan hệ này đợc pháp luật
quy định và thừa nhận) đối với những t liệu sản xuất, về vai trò của họ trong
những tổ chức lao động xã hội, và nh vậy là khác nhau về cách thức hởng thụ và
về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ đợc hởng. Giai cấp là những tập
đoàn ngời mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác,
do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất
định.
II. Nguồn gốc và kết cấu giai cấp.
1. Nguồn gốc giai cấp.
Trong xã hội có nhiều nhóm ngời, tập đoàn ngời đợc phân biệt bằng
những đặc trng khác nhau: tuổi tác, giới tính, dân tộc, chng tộc, quốc gia, nghề
nghiệp Trong những sự khác nhau đó, có một số là do nguyên nhân tự nhiên,
một số khác là do nguyên nhân xã hội. Những sự khác biệt đó tự nó không sản
sinh ra sự đối lập về xã hội. Chỉ trong những điều kiện xã hội nhất định mới dẫn
đến sự phân chia xã hội thành những giai cấp khác nhau. Chủ nghĩa duy vật lịch
sử khẳng định sự phân chia xã hội thành giai cấp là do nguyên nhân kinh tế.
Sản xuất xã hội dần dần phát triển, việc sử dụng công cụ bằng kim loại
làm cho năng suất lao động tăng lên đã dẫn tới sự phân công lại lao động trong
xã hội: chăn nuôi tách khỏi trồng trọt, sản xuất thủ công cũng dần dần trở thành
một ngành tơng đối độc lập với nông nghiệp, lao động trí óc tách khỏi lao động
chân tay. Với lực lợng sản xuất mới, chế độ làm chung, ăn chung nguyên thủy
2
không còn thích hợp nữa, sản xuất gia đình cá thể trở thành hình thức sản xuất
có hiệu quả hơn. T liệu sản xuất và sản phẩm làm ra trở thành tài sản riêng của
từng gia đình. Sở hữu t nhân về t liệu sản xuất xuất hiện và dần dần thay thế sở
hữu cộng đồng nguyên thuỷ. Chế độ t hữu ra đời dẫn tới sự bất bình đẳng về t ài
sản trong nội bộ công xã. Xã hội phân hoá thành những giai cấp khác nhau, giai
cấp bóc lột thống trị và giai cấp bị bóc lột, bị thống trị. Nh vậy, sự phân chia xã
hội thành giai cấp là kết quả tất nhiên của chế độ kinh tế dựa trên sự chiếm hữu
t nhân về t liệu sản xuất.
Sự hình thành giai cấp diễn ra theo hai con đờng:
- Thứ nhất, sự phân hoá bên trong nội bộ công xã thành kẻ bóc lột và ng-
ời bị bóc lột.
- Thứ hai, những tù binh bị bắt trong chiến tranh giữa các bộ lạc không bị
giết nh trớc mà bị biến thành nô lệ.
Chế độ có giai cấp đầu tiên trong lịch sử xã hội loài ngời là chế độ chiếm
hữu nô lệ, tiếp theo là chế độ phong kiến, chế độ t bản chủ nghĩa là bớc phát
triển cuối cùng và cao nhất của xã hội có giai cấp.
2. Kết cấu giai cấp.
Trong xã hội có giai cấp, mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một kết
cấu giai cấp nhất định. Khi hình thái kinh tế - xã hội này thay thế hình thái kinh
tế - xã hội khác, kết cấu giai cấp cũng thay đổi.
Mỗi kết cấu giai cấp trong xã hội có giai cấp đều có các giai cấp cơ bản
và không cơ bản. Những giai cấp cơ bản là những giai cấp xuất hiện và tồn tại
gắn liền với phơng thức sản xuất thống trị của xã hội. Sự đối kháng và cuộc đấu
tranh của các giai cấp đó biểu hiện mâu thẫun cơ bản của phơng tứhc sản xuất
đã sinh ra chúng.
Bên cạnh những giai cấp cơ bản, trong kết cấu giai cấp còn có giai cấp
không cơ bản. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, đó là những nông trị do có ít
ruộng đất. Trong xã hội phong kiến, đó có thể là giai cấp nô lệ và chủ nô với t
cách tàn d của xã hội củ; là giai cấp t sản ra đời trong lòng xã hội phong kiến.
3
Trong xã hội t bản, những giai cấp không cơ bản là giai cấp địa chủ với t cách là
tàn d, giai cấp nông dân.
Cùng với sự phát triển sản xuất, mỗi giai cấp trong một kết cấu giai cấp -
xã hội cũng có những biến đổi nhất định. Những sự biến đổi ấy dẫn đến sự thay
đổi địa vị của các giai cấp đó trong hệ thống sản xuất xã hội.
Trong kết cấu của xã hội có giai cấp, ngoài các giai cấp đối kháng còn có
tầng lớp trí thức làm công việc chủ yếu bằng trí óc. Tầng lớp trí thức không phải
là một giai cấp. Nó đợc hình thành từ những giai cấp khác nhau và cũng phục
vụ những giai cấp khác nhau.
Phân tích kết cấu giai cấp và sự biến đổi của nó giúp ta hiểu địa vị, vai trò
và thái độ chính trị của mỗi giai cấp đối với mỗi cuộc vận động lịch sử, đặc biệt
là trong cuộc đấu tranh của thời đại ngày nay.
4
chơng ii. đấu tranh giai cấp.
" Đấu tranh giai cấp là một trong những động lực thúc đẩy sự vận động
và phát triển của xã hội có sự phân chia giai cấp".
Đấu tranh giai cấp thực chất là cuộc đấu tranh giữa những giai cấp mà lợi
ích căn bản đối lập nhau.
Đấu tranh giai cấp là một trong lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội có
giai cấp đối kháng. Điều đo đợc thể hiện trớc hết ở chỗ: Thông qua đấu tranh
giai cấp sự xung đột giữa lực lợng sản xuất mới và quan hệ sản xuất già cỗi đợc
giải quyết, bớc quá độ từ một chế độ xã hội lỗi thời sàng một chế độ mới cao
hơn đợc thực hiên.
Xét đến cùng, nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội loài ngời là
hoạt động sản xuất ra của cải vật chất. Song sự phát triển của sản xuất chỉ diễn
ra khi quan hệ sản xuất còn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản
xuất. Khi quan hệ sản xuất đã lỗi thời thì mâu thuẫn với lực lợng sản xuất, mâu
thuẫn này biểu hiện về mặt xã hội thành mâu thuẫn giữa giai cấp cách mạng đại
biểu cho phơng thức sản xuất mới, với giai cấp bóc lột, thống trị - đại biểu cho
những lợi ích gắn liền với quan hệ sản xuất lỗi thời. Mẫu thuẫn đó chỉ có thể đ-
ợc giải quyết bằng cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp cách mạng và quần
chúng bị bóc lột, mà đỉnh cao của nó là cách mạng xã hội, thay thế quan hệ xã
hội cũ bằng quan hệ sản xuất mới, mở ra địa bàn mới cho sản xuất xã hội phát
triển. Sản xuất xã hội phát triển, đơng nhiên kéo theo sự phát triển của toàn bộ
đời sống xã hội.
Từ khi phơng thức sản xuất t bản chủ nghĩa xuất hiện trên vũ đài lịch sử,
việc xã hội nắm lấy quyền sở hữu toàn bộ t liệu sản xuất đã luôn luôn là một lý
tởng tơng lai mà nhiều cá nhân cũng nh nhiều môn phái trọn vẹn đã từng phảng
phất nhìn thấy ít nhiều lờ mờ ở trớc mắt. Nhng việc chiếm hữu đó chỉ có thể trở
thành một khả năng, trở thành một tất yếu lịch sử, một khi mà các điều kiện vật
chất để thực hiện việc đó đã có sẵn rồi. Cũng nh mọi sự tiến bộ khác của xã hội,
5
việc đó mà có thể thực hiện đợc, thì không phải là do ở chỗ ngời ta đã hiểu rằng
sự tồn tại của giai cấp là trái với chính nghĩa, trái với bình đẳng, không phải
là do ở chỗ chỉ đơn thuần có ý muốn tiêu diệt các giai cấp ấy, mà là do những
điều kiện kinh tế mới nhất định. Tình trạng xã hội phân chia thành một giai cấp
bóc lột và một giai cấp bị bóc lột, thành một giai cấp thống trị và một giai cấp
bị áp bức là một hậu quả tất nhiên của tình trạng phát triển thấp kém của nền
sản xuất trớc kia. Chừng nào tổng số sản phẩm do lao động của xã hội làm ra
chỉ mới cung cấp đợc một số gọi là vợt chút ít cái số thật cần thiết để vừa đủ để
đảm bảo sự sinh sống của mọi ngời mà thôi, chừng nào mà lao động vẫn choán
hết hay hầu hết thời giờ của đại đa số thành viên trong xã hội, thì tất nhiên xã
hội đó phải chia thành gia cấp là điều tất yếu xẩy ra. Khi giai cấp thống trị này,
hay một giai cấp thồng trị khác trở thành một sự lỗi thời, một trạng thái cổ hủ
thì cần phải có một giai cấp mới tiến bộ hơn, phát triển hơn phù hợp với quan hệ
sản xuất mới và diễn ra cuộc đấu tranh giữa những giai cấp này, giai cấp tiến bộ
tất yếu sẽ giành thắng lợi và cứ nh thế thúc đẩy xã hội phát triển đi lên.
C.Mác và Ph.Ăngghen chứng minh rằng, sản xuất vật chất để đáp ứng
nhu cầu tồn tại và phát triển của con ngời và xã hội loài ngời là hành động lịch
sử đầu tiên của con ngời. Tác động biện chứng giữa cải tiến sản xuất với nhu
cầu không ngừng tăng lên là động lực phát triển cơ bản, thờng xuyên của tất cả
xã hội. Sản xuất vật chất bao giờ cũng phát triển trong một quan hệ sản xuất
nhất định. Khi quan hệ sản xuất không còn phù hợp với lực lợng sản xuất, thì nó
trở thành xiềng xích của lực lợng sản xuất, dẫn đến những cuộc khủng hoảng
phá hoại lực lợng sản xuất,. Trong các xã hội có đối kháng giai cấp, những quan
hệ sản xuất lỗi thời không tự động nhờng chỗ cho quan hệ sản xuất mới. Chúng
đợc giai cấp thống trị bảo vệ bằng tất cả sức mạnh chính trị, kinh tế và t tởng,
đặc biệt là bằng bạo lực có tổ chức. Muốn thay đổi quan hệ sản xuất để giải
phóng sức sản xuất phải gạt bỏ lực cản lớn lao ấy. Điều đó chỉ có thể thực hiện
đợc qua đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội. Xuất phát từ quan điểm xem sự
vận động nội tại của phơng thức sản xuất quyết định sự phát triển của toàn bộ
lịch sử xã hội, C.Mác và Ph Ăngghen đã xem đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao là
6
thời kỳ cách mạng, nh đòn bẩy để thay đổi hình thái kinh tế - xã hội do đó "đấu
tranh giai cấp là động lực trực tiếp của lịch sử các xã hội có giai cấp.
Trong xã hội có áp bức giai cấp, đấu tranh giai cấp chăng những cải tạo
xã hội mà còn có tác dụng cải tạo bản thân các giai cấp cách mạng và quần
chúng lao động. Chỉ qua đấu tranh cho tự do, không cam chịu số phận nô lệ, các
giai cấp bị áp bức mới gột sửa đợc tinh thần nô lê và những tập quán xấu do chế
độ ngời áp bức ngời sản sinh ra.
Lịch sử nhân loại đã chứng minh vai trò to lớn của đấu tranh giai cấp
chống áp bức bóc lột. Thời cổ đại nếu không có các cuộc đấu tranh ngày càng
mạnh mẽ của hàng chục vạn nô lệ và tầng lớp bình dân chống giai cấp chủ nô
thì chế độ nô lệ dù đã thối nát cũng không thể sụp đổ. Cuối xã hội phong kiến
các phong trào đấu tranh của nông dân, thợ thủ công, thơng nhân, trí thức do
giai cấp t sản lãnh đạo đã dẫn đến các cuộc cách mạng t sản trong các thế kỷ
XVI, XVII, XVIII làm sụp đổ chế độ phong kiến, đa xã hội chuyển sang thời
đại t sản.
Cuộc đấu tranh giai cấp do giai cấp công nhân tiến hành là cuộc đấu
tranh giai cấp cuối cùng trong lịch sử loài ngời. Nó là phơng tiện tất yếu để giải
phóng chia giai cấp do giai cấp công nhân tiến hành là cuộc đấu tranh giai cấp
cuối cùng trong lịch sử loài ngời. Nó là phơng tiện tất yếu để giải phóng toàn xã
hội khỏi ách áp bức, bóc lột, khỏi sử phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp. Vì
vậy đây là một quá trình đấu tranh rất lâu dài và vô cùng phức tạp. Cuộc đấu
tranh giai cấp phát triển tất yếu dẫn đến cách mạng vô sản. Cuộc cách mạng này
thắng lợi trớc hết ở những khâu yếu nhất của chủ nghĩa t bản, nơi giai cấp công
nhân và các lực lợng cách mạng có nhữgn điều kiện khách quan và chủ quan để
giành chính quyền.
Sau khi giai cấp công nhân dân lao động giành đợc chính quyền, đấu
tranh giai cấp cha biến mất mà tiếp tục diễn ra gay go phức tạp trong điều kiện
mới.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội mục tiêu đấu tranh trực tiếp
của gai cấp công nhân đã thay đổi: từ mục tiêu giành chính quyền chuyển sang
7
mục tiêu cơ bản và chủ yếu là củng cố chính quyền của nhân dân lao động xây
dựng thành công chủ nghĩa xã hội, trọng tâm là xây dựng kinh tế. Giai cấp t sản
đã bị lật đổ, tiến hành cuộc đấu tranh chống cách mạng xã hội chủ nghĩa nhằm
phục hồi chủ nghĩa t bản.
Điều kiện đấu tranh thay đổi, mục tiêu trực tiếp của các giai cấp thay đổi
thì hình thức đấu tranh giai cấp cũng thay đổi. Lênin dã nói: "Trong điều kiện
chuyên chính vô sản, những hình thức đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản
không thể giống nh trớc:
1
Cuộc đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa t bant lên chủ
nghĩa xã hội diên xra trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội văn hoá,
t tởng. V.I.Lênin cho rằng chủ nghĩa xã hội chỉ giành đợc thắng lợi triệt để khai
giai cấp công nhân lãnh đạo đông đảo quần chúng nhân dân xây dựng thành
công phơng thức sản xuất mới, bảo đảm chủ nghĩa xã hội tạo ra đợc năng suất
lao động cao hơn chủ nghĩa t bản. Mục tiêu này cha đợc thực hiện thì khả năng
phục hồi chủ nghĩa t bản vẫn còn rất lớn. Các thế lực t bản quốc tế ra sức ngăn
cản giai cấp công nhân đã nắm chính quyền xây dựng thành công chủ nghĩa xã
hội bằng nhiều phơng tiện và thủ đoạn từ bao vây, cấm vận, can thiệp quân sự
đến "diễn biến hoà bình". Để xây dựng chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân và
nhân dân lao động phải làm thất bại các thủ đoạn nói trên.
Trong điều kiện đã nắm đợc chính quyền, giai cấp công nhân phải sử
dụng tổng hợp, linh hoạt các hình thức đấu tranh mới, trong đó có đấu tranh
bằng bạo lực và bằng hoà bình, bằng giáo dục thuyết phục và bằng hành chính,
pháp chế, bằng chính trị, quân sự và bằng kinh tế, bằng cải tạo các quan hệ cũ
đã lỗi thời và xây dựng các quan hệ mới đúng quy luật; bằng liên minh giữa giai
cấp công nhân với các giai cấp, tầng lớp lao động và các tầng lớp trung gian
khác; bằng sử dụng giai cấp t sản để xây dựng chủ nghĩa xã hội, v.v Cuộc
đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội lâu dài, gay go phức tạp nh thế nào tuỳ theho điều
kiện lịch sử cụ thể. ở Liên Xô cũ và các nớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu cũ, các
lực lợng chống chủ nghĩa xã hội đã lợi dụng tình hình khủng hoảng của chủ
1
1. V.I.Lênin: Toàn tập, NXB. Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, t.39, tr.298
8
nghĩa xã hội, nhất là lợi dụng những sai lầm nghiêm trọng của các đảng cộng
sản cầm quyền để đảo ngợc tình thế, lập lại trật tự t sản. Hai loại sai lầm
nghiêm trọng dễ mắc phải là: .
a. Chủ quan duy ý chí, coi nhẹ quy luật kinh tế khách quan, trong khi đó
lại tuyệt đối hoá đấu tranh giai cấ, nhất là tuyệt đối hoá một trong những hình
thức của đấu tranh giai cấp;
b. Cơ hội hữu khuynh, mơ hồ về đấu tranh giai cấp, mất cảnh giác trớc
âm mu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội.
Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nớc ta, xã hội vẫn tồn tại
lâu dài các giai cấp, các mâu thuẫn giai cấp. Đấu tranh giai cấp là thực tế khách
quan không thể tránh danh từ đấu tranh giai cấp, mà là nhận thức cho đúng tính
chất, nội dung, hình thức của cuộc đấu tranh, xử lý đúng đắn các quan hệ xã hội
- giai cấp.
Để thực hiện mục tiêu cách mạng là dâu giàu, nớc mạnh, xã hội công
bằng văn minh, điều cơ bản là phải phát triển mạnh mẽ nền kinh tế nhiều thành
phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc, bảo đảm định
hớng xã hội chủ nghĩa; thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc. Xây
dựng chủ nghĩa xã hội phải đi đôi với bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chính quyền nhân
dân và pháp chế xã hội chủ nghĩa. Toàn bộ sự nghiệp trên đây là lợi ích căn bản
của dân tộc và nhân dân lao động. Tuyệt đại đa số trong cộng đồng dân tộc Việt
Nam bao gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức, các tầng
lớp lao động khác, tầng lớp t sản dân tộc, các nhân sĩ yêu nớc tán thành mục
tiêu nói trên. Tuy nhiên một bộ phận nhỏ trong xã họi vì quyền lợi ích kỷ, vì
hận thù giai cấp, đã và đang liên kết với các thế lực phản động quốc tế chống lại
sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Vì vậy, đấu tranh giai cấp trong thời kỳ
quá độ ở nớc ta trớc hết là cuộc đấu tranh dới nhiều hình thức giữa một bên là
quần chúng nhân dân lao động, các lực lợng xã hội đi theo con đờng dẫn đến
mục tiêu dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng van minh, đoàn kết trong mặt
trận thống nhất dân tộc do Đảng lãnh đạo, với một bên là các thế lực, các tổ
9
chức, các phần tử chống độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chống Đảng, Nhà
nớc và pháp luật, phá hoại trật tự xã hội va an ninh quốc gia.
Các thế lực phản động trong nớc và quốc tế chống độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội chủ yếu thông qua diễn biến hoà bình nhằm thủ tiêu sự lãnh đạo
của Đảng cộng sản, làm tan rã về hệ t tởng tiến tới lật độ chính quyền nhân dân
bằng hình thức này hay hình thức khác.
Cuộc đấu tranh giữa hai con đờng, con đờng xã hội chủ nghĩa và con đ-
ờng t bản chủ nghĩa cũng là biểu hiện của đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá
độ ở nớc ta. Đây là cuộc đấu tranh giữa các nhân tố thúc đẩy đất nớc phát triển
theo định hớng xã hội chủ nghĩa với các nhân tố thúc đẩy đất nớc dịch chuyển
theo định hớng t bản chủ nghĩa. Các nhân tố tự phát t bản chủ nghĩa này đợc
những thế lực chống độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội lợi dụng phục vụ mục
tiêu của chúng. Cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hớng phát triển trên đây diễn
ra hàng ngày hàng giờ trên tất cả các lĩnh vực, trớc hết là lĩnh vực kinh tế, lĩnh
vực t tởng và lĩnh vực trật tự xã hội.
Trong cơ cấu giai cấp - xã hội ở nớc ta hiện nay, ngoài công nhân, nông
dân, trí thức và các tầng lớp t sản, tầng lớop này có điều kiện phát triển trong
nền kinh tế thị trờng. Đơng nhiên có mâu thuẫn về lợi ích giữa những ngời lao
động làm thuê với tầng lớp t sản và có mâu thuẫn giữa sự phát triển theo con đ-
ờng xã hội chủ nghĩa với khuynh hớng tự phát của thành phần kinh tế t bản t
nhân. Đây là nhân dân lao động với tầng lớp t sản. Mâu thuẫn giữa giai cấp
công nhân, nhân dân lao động với tầng lớp t sản, tuy mang tính chất mâu thuẫn
giữa lao động vdà bóc lột lao động, song trong điều kiện thời kỳ quá độ nớc ta
lại là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dana. Kinh tế nhiều thành phần và tầng lớp t
sản có vai trò tích cực trong sự nghiệp phát triển kinh tế, có khả năng tham gia
tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Trong xã hội ta
hiện nay, lợi ích hợp pháp của các nhà t sản căn bản thống nhất với lợi ích
chung của cộng đồng. Đây là mặt thống nhất giữa giai cấp công nhân, nhân dân
lao động với tầng lớp t sản. Quan hệ giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động
với tầng lớp t sản là quan hệ vừa hợp tác vừa đấu tranh; đấu tranh với những
10
khuynh hớng tiêu cực của tầng lớp t sản cũng để thực hiện hợp tác, đoàn kết xây
dựng xã hội dân giàu, nớc mạnh, công bằng văn minh.
Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
phải nắm vững quan điểm giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đó là quan điểm
cách mạng và khoa học. Sự tuyệt đối hoá đấu tranh giai cấp, sự cờng điệu đấu
tranh giai cấp cũng nh sự mơ hồ về đấu tranh giai cấp đều trái với quan điểm
giai cấp Mác - Lênin, đều gây tổn hại cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
11
Kết luận
Đấu tranh giai cấp chẳng những có tác dụng cải tạo xã hội, xoá bỏ các
lực lợng xã hội phản động, mà nó còn có tác dụng cải tạo bản thân các giai cấp
cách mạng.
Trong xã hội có giai cấp, sự phát triển của các mặt văn hoía, nghệ thuật
và cdác mặt khác của đời sống xã hội không thể không mang dấu ấn của đấu
tranh giai cấp, và do cuộc đấu tranh đó thúc đẩy.
Đấu tranh giai cấp là quy luật chung của xã hội có giai cấp. Song, quy
luật ấy có những biểu hiện đặc thù trong từng xã hội cụ thể. Điều đó do kết cấu
giai cấp của mỗi xã hội, do địa vị lịch sử của mỗi giai cấp cách mạng trong từng
giai đoạn và trên từng địa bàn quyết định. Muốn hiểu đúng quy luật đấu tranh
giai cấp, còn phải phân tích cụ thể trong những điều kiện lịch sử cụ thể.
12

Xem chi tiết: Đấu tranh giai cấp


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét