Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế nhiệm vụ và trọng tâm của nước ta hiên nay.DOC

Ph¹m V¨n Tïng - Líp KTPT 44B §HKTQD
2001-2005 ”. Nghị quyết đã chỉ ra nguyên tắc đảm bảo cho quá trình hội nhập, đất nước ngày
càng ổn định phát triển như: Phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế,
của toàn xã hội, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo; hợp tác kinh tế quốc tế là quá
trinh vừa hợp tác vừa đấu tranh và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít những thách
thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khoé và linh hoạt trong xử lý hai mặt của hội nhập tuỳ theo đối
tượng, vấn đề, trường hợp, đối tượng cụ thể, xây dụng kế hoạch lộ trình hợp lý, phù hợp với
trình độ phát triển của đất nước vừa dáp ứng quy định của các tổ chức quốc tế mà Việt Nam
tham ra, Tranh thủ những ưu đãi cho các nước phát triển; kết hợp chặt chẽ với yêu cầu giữ
vững an ninh, quốc phòng, cảnh giác với những âm mưu thông qua hội nhập để thực hiện ý
đồ “diễn biến hoà bình” đối với Việt Nam
Để thực hiện chủ trương “phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên
gnoài và chủ dộng hội hnập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh có hiểu quả và bền vững “đã
nêu trong nghị quết Đại hội đảng cộng sản Việt Nam lần IX .Ngày 27-2-2002. Uỷ ban quốc
gia về hợp tác kinh tế phối hợp với chương trình phát triển liên hợp quốc( UNDP) tổ chức hội
thảo: “hội nhập kinh tế của Việt Nam và hộ trợ của cộng đồng quốc tế”. Hội nghị đã báo cáo
về hõ trợ kỹ thuật của cộng đồng quốc tế cho Việt Nam trong những năm qua; ghi nhận
nhưng nổ lực của Việt Nam trong công cuộc đổi mới nền kinh tế phù hợp với xu hướng của
nền kinh tế thế giới; nhất trí nổ lực hổ trở kỹ thuật nhiều hơn nữa cho Việt Nam để tiếp tục cải
cách kinh tế, cải tiến khung pháp lý, nâng cao sức canh tranh cho doanh nghiệp và hàng hoá,
thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài để đáp ứng thách thức nảy sinh trong quá trình hội nhập.
Việt Nam là một nước đang phát triển, tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta sẽ có
thêm nhiều cơ hội mới để phát triển đó là:
Được tận dụng các nguyên tắc phi kỳ và cạnh tranh công bằng để bảo vệ mình; được
hưởng những ưu đãi dành cho nước đang phát triển, ưu đãi về thuế quan, được cung cấp
thông tin về tự do hoá mậu dịch, về quy tắc kỹ thuật, thủ tục hải quan, các tiêu chuẩn thuế
Đây là cơ hội mở rộng thị trường và loại bỏ những thiệt thòi khi chưa gia hâp các tổ chức
kinh tế quốc tế.
Có cơ hội chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế quốc dân trên cơ sở phát huy lơi thế so sánh
trong tham gia phân công sản xuất và hợp tác quốc tế, qua đó mà thay đổi cơ cấu tổng sản
phẩm, cơ cấu mặt hàng, mở rộng khả năng sản xuất của nền kinh tế, đáp ứng tốt hơn nhu cầu
tiêu dùng của nhân dân.
Tranh thủ được vốn, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của các nước đi trước để đẩy nhanh tiến
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tạo cơ sở vật chất-kỹ thuật cho công cuộc xây dựng
CNXH. Đồng thời có cơ hội để chúng ta tham gia đầu tư ra nước ngoài, phát triển doanh
nghiệp.
Với quan điểm và nguyên tắc rõ ràng, Việt Nam chủ động đẩy nhanh quá trình hội nhập.
Đường lối ở tầm vĩ mô về xu thế không thể tránh khỏi đối với sự phát triển của quá trình
tham gia toàn cầu hoá thực tế cố ý nghĩa rất lớn đối với sự nghiệp đổi mới, hội nập của Việt
Nam. Từ nhận thức này trong những năm qua Việt Nam đã có bước chuyển đổi lớn trong
chính sách phát triển kinh tế đối ngoại. Các chính sách này đều theo hướng tự do hoá tất
nhiên ở các tầng lớp khác nhau phụ thuộc vào thực lực cụ thể cuả mội lĩnh vực.
Tham gia toàn cầu hoá chính là nhằm tranh thủ những điều kiện quốc tế để khai thác các
tiềm năng nước nhà, phục vụ cho việc nâng cao đời sống nhân dân. Viêt Nam là quốc gia có
nguồn tài nguyên phong phú nhưng chưa được khai thác hiểu quả. Với nguồn tài nguyên
phong phú không chỉ tạo điều kiện cho việc phát triển các nghành công nghiệp chế biến mà
còn là sức thu hút đối với các công ty nước ngoài. Trên cơ sở nguồn tài nguyên sẵn có Việt
Nam có thể xác lập cơ cấu ngành kinh tế với những sản phẩm có tính cạnh tranh đáp ứng nhu
cầu thị trường thế giới.
Trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang quá độ sang nền kinh tế trí tuệ, khoa học-công
nghệ phát triển mạnh trơ thành lực lượng sản xuất trực tiếp, chi phối mọi lĩnh vực kinh tế-xã
hội nhưng không thể thay thế vai trò của nguồn lực lao động. Hơn nữa, bản thân nguồn lực
lao động còn là nhân tố sáng tạo ra công nghệ thiết bị và sử dụng chúng trong quá trình phát
5
Ph¹m V¨n Tïng - Líp KTPT 44B §HKTQD
triển kinh tế. Trên thực tế nhiều công ty nước ngoài và Việt Nam, một trong những lý do quan
trọng là tận dụng nguồn lao động dồi dào rẻ và có khả năng tiếp thu công nghệ mới ở Việt
Nam. Theo đánh của các công ty Nhật khi phân tích lợi thé môi trường kinh doanh của các
quốc gia ASEAN, Việt Nam đứng thứ 7 trong tổng số 10 quốc gia, lớn hơn Lào, Campuchia,
Mianma. Tuy vậy nếu xét về yếu tố nguồn lực, lợi thế của Việt Nam không thua kém
TháiLan, thậm chí còn vượt Inđonexia và Singapore, chỉ số HDI của Việt Nam tuy chưa cao
so với thế giới chỉ đạt 0,56 xong nếu so với các quốc gia có thu nhập tương ứng thì Việt Nam
thuộc nhóm cao hơn. Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo cơ hội để nguồn lực của nước ta khai
thông, giao lưu với thế giới bên ngoài. Việt Nam đã xuất khẩu lao động qua các hợp đồng gia
công chế biến hàng xuất khẩu và nhập khẩu lao động lao động kỹ thuật cao, công nghệ mới
nhất rất cần thiết. Như vậy với lợi thế nhất định về nguồn lao động cho phép lựa cọn dạng
hình phù hợp tham gia vào hội nhập và quá trình hội nhập đã tạo điều kiện nâng cao chất
lượng nguồn lao động ở Việt Nam.
Việt Nam đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện đất nước hoà bình,
chính trị- Xã hội ổn định. Đây là cơ hội rất quan trọng để tập trung phát triển kinh tế, mở rộng
quan hệ đối ngoại. Chính trị-Xã hội ổn định là bộ loc quan trọng trong quá trình giao lưu hội
nhập, hơn nữa nó bảo đảm vai trò định hướng trong hội nhập quốc tế.
Mặc dù kinh tế của Việt Nam chưa phát triển nhưng nước ta hội nhập không phải với hai
bàn tay trắng, ngoài nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực cùng với sự ổn định về
chính trị xã hội, Việt Nam cũng đã có kinh nghiệm nhất định sau hơn 17 năm đổi mới hội
nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới.
Bên cạnh những cơ hội thì chúng ta còn đứng trước nhiều khó khăn thách thức gay gắt
như:
Tiềm lực vật chất của Việt Nam còn yếu, nguồn nhân lực nói chung có trình độ thấp và kỹ
năng không cao, điều này khiến cho việc tham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế
gặp nhiều bất cập. Khó khăn này thể hiện ở chỗ năng lực tiềp nhận công nghệ yếu, khó phát
huy lợi thế của nước đi sau trong việc tiếp nhận các nguồn lực có sẵn từ bên ngoài để nâng
cao cơ sở hạ tầng kỹ thuật; dẫn tới nguy cơ Việt Nam có thể trở thành “Bãi rác ”của công
nghệ lạc hậu.
Sức cạnh tranh, đặc biệt là của các sản phẩm công nghiệp Việt Nam quá thấp, do đó Việt
Nam gặp nhiều khó khăn trong việc cũng cố và phát triển các thị trường mới trong điều kiện
nhiều nước đang phát triển cùng chọn chiến lược tăng cường hướng về xuất khẩu nên Việt
Nam sẽ bị áp lực cạnh tranh ngay tại thị trường nội địa, việc mở cửa thị trường nội địa theo
AFTA, WTO có thể biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ sản phẩm nước ngoài nếu các
doanh nghiệp trong nước không bám giữ được.
Do tri thức và trình độ kinh doanh của dân ta còn thấp, cộng với hệ thống tài chính và ngân
hàng còn yếu kém nên dễ bị tổn thương và bị thao túng nếu tự do hoá thị trường vốn sớm; Từ
kinh nghiệm của các nước đang phát triển trong khu vực cho thấy, nguy cơ lệ thuộc vào các tổ
chức tài chính nước ngoài và quốc tế là một thực tế.
Hệ thống thông tin- Viễn thông toàn cầu hoá với tư cách là một thứ quyền lực siêu hạng
đang phát triển nhanh có thể gây ra tác động tiêu cực trực tiếp đến an ninh kinh tế, văn hoá xã
hội, theo hướng gây rối loạn làm lợi cho các thế lực bên ngoài. Vấn đề là kiểm soát việc tự do
hoá thông tin, truyền thông như thế nào để không từ bỏ lợi ích tận dụng khai thác nó mà vẫn
hạn chế tối đa nguy hại có thể gây ra.
Trong quan hệ kinh tế đối ngoại chủ yếu là với các quốc gia có tiềm lực mạnh có thể chứa
đựng những yếu tố tiêu cực như muốn kìm hãm thậm chí gây sức ép buộc Việt Nam phải thay
đổi những vấn đề nguyên tắc như định hướng, mục tiêu, mục đích phát triển .
Ví dụ: Mục đích của các công ty xuyên quốc gia là lợi nhuận vẫn chưa đủ mà mục đích
chính phải là vì “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ”. Trong rất
nhiều trường hợp,quan hệ kinh tế đã giúp tạo ra lợi nhuận, nhưng không công bằng, một số
tầng lớp dân cư được hưởng lợi nhưng lại là cho nước nhà nghèo đi.
6
Ph¹m V¨n Tïng - Líp KTPT 44B §HKTQD
Mặc dù hơn 10 năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế đã cao (bình quân khoảng 6%/năm) lại
không bị tác động mạnh bơi cuộc khủng hoảng kinh tế- Tài chính như các nước khác, nền
kinh tế có bước phat triển vượt bậc, nhưng hiện tại ta vẫn là nước bị tụt hậu khá xáo với các
nước phát triển cũng như sovới nhiều nước đang phát triển trong khu vực. Đây là một thách
thức lớn trong hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi nổ lực vượt bậc của toàn Đảng, toàn dân ta.
Trên thị trường nội địa, hiện tại giá thành sản xuất của nhiều sản phẩm đặc biệt là các sản
phẩm chủ yếu của chúng ta còn cao hơn giá chuẩn quốc tế, giá xuất xưởng cao hơn hẳn giá
bán sản phẩm cùng loại nhập khẩu, nên sức cạng tranh về giá của ta còn rất yếu. Chẳng hạn
đường RS giá xuất xưởng năm 1999 là 360-400USD/tấn, trong khi nhập khẩu
260-300USD/tấn(Giá cao hơn hàng nhập 20-30%), phân URÊ xuất xưởng 160–180 USD/tấn,
nhưng nhập khẩu chỉ 115-125USD/tấn(Cao hơn 30-40%).
Trên thị trường thế giới hàng xuất khẩu của ta chủ yếu vẫn còn các loại nguyên liệu thô,
các sản phẩm sơ chế như: Dầu thô,gạo, cà phê, chè, cao su, Đây là nnhững mặt hàng rất dễ
bị tác động sấu về giá cả chẳng hạn năm 1998 tuy xuất khẩu được 12,1 triệu tấn dầu thô, vượt
rất xa so với mức 9,8 triệu tấn năm 1997.
Cuộc khủng hoảng kinh tế- Tài chính vừa qua tại các nước trong cùng khu vực có sức tàn
phá lớn, đồng nội tệ của các nước này bị sụt giá rất nhanh so với các đồng ngoại tệ mạnh, làm
cuốn đi các nổ lực của nhiều năm xuất khẩu, hoạt động ngoại thương và thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài bị suy giảm. Nhưng sau “cơn bão” khủng hoảng, sự mất giá của đồng nội tệ
lại làm tăng sức cạng tranh của hàng xuất khẩu của các nước này. Trong khi đó, đồng tiền
Việt Nam vẫn tương đối ổn định tỷ giá so với các đồng ngoại tệ mạnh cũng làm cho sức cạnh
tranh của hàng hoá của ta phải chịu những thách thức gay gắt bất lợi.
Về văn hoá:
Hiện nay, xu thế toàn cầu hoá về kinh tế và quá trình hội nhập kinh tế thế giới đang diễn ra
ở mọi quốc gia. Tình hình đó đặt nền văn hoá của mỗi dân tộc trước những biến động lớn,
phải chăng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các nền văn hoá dân tộc sẽ trở nên đồng
nhất, mất hết bản sắc của mình?
Nhưng cuộc sống vẫn có quy luật của nó. Hội nhập kinh tế htế giới là một quá trình liên
kết; thường xuyên diễn ra sự đồng hoá và dị hoá. Khả năng đồng hoá và dị hoá này không chỉ
phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế mỗi nước, mà chủ yếu tuỳ thuộc vào bản lĩnh văn
hoá và sức sống của mỗi dân tộc. Vì vậy văn hoá dân tộc có vai trò cực kỳ quan trọng trong
hội nhập kinh tế thế giới.
Xu thế toàn cầu hoá là nhằm đạt đến sự liên thông về kinh tế. Giữa các quốc gia, dân tộc
đòi hỏi một sự giao thoa lớn hơn giữa các giá trị văn hoá trên phạm vi toàn cầu. Như một tất
yếu quá trình đó đang diễn ra ở nước ta, đặc biệt là từ khi chúng ta thực hiện công cuộc đổi
mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cùng với những thay đổi tích cực tạo nên nhiều
thành tựu trên lĩnh vực kinh tế và diễn biến sôi động trên lĩnh văn hoá. Do tác động của toàn
cầu hoá, hoạt động giáo duc- đào tạo đang đứng trước yêu cầu có tính bức xúc: Phải phát
triển nhanh về quy mopo và chất lượng; cần phải cải tiến về nội dung chương trình, về
phương pháp dạy và học phải có nhiều loại hình trường lớp; cần phải sử dụng công nghệ hiện
đại vào giáo dục. Và một quan điểm mới: Tri thức là tài sản và là sức mạnh đang dần hình
thành trong đồi sống XH, nhất là các đô thị, nơi tac động của toàn cầu hoá diễn ra nhanh và
mạnh.
Về lối sống cũng càng có biến động tích cực, nền văn minh nông nghiệp lúa nước ở nước
ta từ hàng ngàn năm trước đây đã tạo ra thói quen lề mề, luộm thuộm, thiếu khoa hoc. Những
năm sau cách mạng tháng 8-1945 ta đã có ý thức vượt qua những hạn chế đó, nhưng đất nước
ta phải đối mặt với chiến tranh quá dài, nên những tàn dư đó chậm được khắc phục. Trong xu
thế toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay, nếp suy nghĩ và lối sống của người dân đã bắt đầu đổi
khác. Các nhu cầu về học tập, công tác và sinh hoạt diễn ra khá khẩn trương thúc đẩy mọi
người nhất là lớp trẻ phải sắp xếp thời gian hợp lý. Cuộc sống đòi hỏi một sự kế hoach hoá,
không thể tuỳ tiện. Khái niệm và tâm lý biết quý trọng thời gian đã dần dần hình thành.
7
Ph¹m V¨n Tïng - Líp KTPT 44B §HKTQD
Tuy nhiên cùng với tác động tích cực, xu thế toàn cầu hoá cũng đăt ra những thách thức
đối với sự phát triển văn hoá của các quốc gia trong đó có Việt Nam. Những thách thức này
cũng khởi đầu từ kinh tế. Toàn cầu hoá kinh tế TBCN đang tạo nên những bất công, phi lý
trong đời sống giữa các quốc gia, giữa các tầng lớp xã hội trong một quốc gia. Nguy cơ thất
nghiệp ngày càng tăng tạo nên sự bất ổn trong đời sống. Bản chất tha hoá của nền kinh tế
TBCN không những tạo nên sự suy thoái về quan hệ xã hội trong các quốc gia Tu Bản mà còn
trên phạm vi rộng hơn. Sự gia tăng của các loại tộ phạm có tính quốc tế là một trong những
biểu hiện của xu thế này. Khi nói tới vấn đề tha hoá là nói đến vấn đề đánh mất nhân cách và
nhân tính. CacMac đã chỉ ra rất rỏ quy uật tha hoá của người lao đọng làm thuê trong chế độ
Tư Bản nhưng cần hiểu thêm về khía cạnh khác: Quy luật tha hoá khong chỉ diễn ra đối vơi
người làm thuê mà còn đối với cả nhà Tư Bản. Khi đã chở thành một tên tư sản kích xù thì
tình cmả thương chỉ còn lại với đồng tiền. Trước đây vài tập kỹ, Nguy cơ tan vỡ gia đình chỉ
xảy ra ở các nước phương tây, các nước TBCN. Nhưng ngày nay tác động của toàn cầu hoá
kinh tế TBCN có nguy cơ không loại trừ một quốc gia nào.
Về mặt kinh tế,chính trị, cơ sở hạ tầng:
Sự ổn định về chính trị và trật tự- an toàn xã hội. Chúng ta có quyền tự hoà về những
thành tựu của nước ta về mặt này được dư luận thế giới thừa nhận. Đây là một lợi thế lớn cần
thường xuyên quan tâm cũng cố và tăng cường.
Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, nhất quán ổn định. Điều đó có nghĩa là hhệ thống các
văn bản pháp quy phải bao quat điều tiết được mọi khía cạnh của hoạnh động sản xuất, kinh
doanh. Các diiêù khoản pháp luật phải nhất quán, không chồng chéo, mâu thuẫn, thậm chí
triệt tiêu lẫn nhau. Chúng phải rõ ràng,không thể hiểu khác nhau mà vận dụng tuỳ tiện. Các
quy định của pháp luật cần tương đối ổn định; nếu cần thay đổi theo một chiều hướng nhất
quán, các nhà kinh doanh dễ tiên liệu. Trong điều kiện hội nhập nền kinh tế quốc tế, hệ thống
pháp luật về kinh tế còn cần phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế.
Kết cấu hạ tầng(đương xá, phương tiện giao thông, hệ thống điện nước, viễn thông )
tương đối hoàn chỉnh với cước phí cạnh tranh so với các nước khác, chí ít là các nước trong
khu vực là một tiêu chuẩn không thể thiếu được đối với khả năng cạnh tranh đối với các sản
phẩm và doanh nghiệp; nếu ngược lại thì giá thành sẽ bị đổi lên cao, khó bề ganh đua với các
nước khác.
Bên cạnh đó một hệ thống ngân hàng hữu hiệu, đáng tin cậy một tỷ giá hối đoái có sức
cạnh tranh; một chính sách tài chính- thuế má hợp lý cũng là những nhân tố rất quan trọng đối
với khả năng cạnh tranh của mỗi quốc gia.
Một hệ thống hành chính vận hành suôn sẽ, một đội ngũ công chức vừa thành thạo nghiệp
vụ, vừa mẫn cán, trong sạch. Bên cạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng trong đội ngũ công
chức, đặt cao yêu cầu tinh thông nghiệp vụ vì tiếc rằng do nhiều lẽ, trong đó có phương pháp
đào tạo và sử dung cán bộ, nước ta có rất nhiều những công chức thành thạo công việc, kể cả
những công việc bình dị như văn thư hành chính. Điều này gây phiền toá rất nhiều cho các
doanh nghiệp và làm mất đi tính hấp dẫn của môi trường kinh doanh của đất nước.
8
Ph¹m V¨n Tïng - Líp KTPT 44B §HKTQD
3/ T×nh tr¹ng héi nhËp:
3.1 / Quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam.
3.1.1/ Bối cảnh quốc tế và khu vực liên quan tới chủ trương hôi nhập kinh tế
quốc tế :
Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã xác định nhiệm vụ “ mở rộng quan hệ kinh tế đối
ngoại, chủ động tham gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nâng cao vị thế nước ta
trên trường quốc tế”. Đại hội lần thứ IX khẳng định chủ trương “phát huy cao độ nội lực,
đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế để phát triển nhanh, có
hiệu quả và bền vững”. Chủ trương hội nhập được đề ra trong bối cảnh tình hình thế giới và
khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khoa lường trước về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội và khoa học- kỹ thuật, với những đặc điểm nổi bật sau :
1 Trong những thập kỷ qua,kinh tế thế giới nhìn chung phát triển không ổn định và
không đồng đều ,về tốc độ thấp hơn thập kỷ trước ( trên 2% năm so vớI 3,2%) ; đã xẩy ra
mấy cuộc khủng hoảng lớn ,sâu rộng hơn cả mấy cuộc khủng hoảng kinh tế -tài chính nổ ra
năm 1997;vị trí các nước và khu vực thay đổI theo hướng ;kinh tế phát triển nhanh và ổn định
liên tục trong nhiều năm và đén năm 2002 bắt đầu suy giảm ;kinh tế Tây Âu hiện không còn
phát triển nhanh như các thập kỷ trước; kinh tế Nhật suy thóai chưa có lối ra;các nước thuộc
Liên Xô trước đây và Đông Âu rơi vào tình trạng suy thoái trầm trọng và kéo dài;vài năm gần
đây đã tăng trưởng tương đối khá;trong khi đó kinh tế Trung Quốc phát triển “ngoạn mục”
Đông Á và Đông-Nam Á phát triển nhanhvào bậc nhất thế giới trong những thập kỷ trước,
vừa qua đã rơi vào suy thoái và nay đang hồi phục; NamÁ và nhất là Châu Phi vẫn chưa thoát
khỏi tình trạng trì truệ kéo dài;kinh tế Mỹ La -Tinhcó khá hơn song củng không ổn định.
“Cách mạng khoa học và công nghệ thông tiếp tục phát triển với tốc độ ngày càng
cao,tăng nhanhlực lượng sản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dich cơ cấukinh tế và
đời sốmg xã hội”.Dưới tác động của những chiều hướng đó, kinh tế thế giới trải qua những
biến đổi về vật chất,các nghành công nghệ cao, đặc biệt là những lĩnh vực có hàm lượng chất
xám cao,nhất là công nghệ thông tin và sinh học phát triển nhanh chóng làm thay đổi sâu sắu
cơ cấu sản xuất,tiêu dùng,trao đổi … cũngnhư phương thức làm ăn và cả sinh hoạt,giao lưu.
2 Xuthế toàn cầu hóa và khu vực hóa phát triển ngày càng nanh; vòng đàm phán
Uruguay kếy thúc Hiệp định Ma rakét được ký kết,tổ chức thương mại thế giới (WTO) ra đời
từ 01.01,1995 thu hút tới 136và nay là 144 quốc gia và lãnh thổ,chiếm gần 100%kim ngạng
buôn bán quốc tế,theo hướng giảm mạnh hàng rào thuế quan và phí thuế quan,mở cửa thị
trường hàng hóa, đầu tư,dịch vụ … Bên cạnh sự ra đời của WTO,liên khu vực như các tam,tứ
giác phát triển ,các khu vực mậu dich tự do( A FTA,NA FTA),những tổ chức liên kết toàn
châu lục (EU)hoặc giữ các châu lục (APEC).
Các nước lớn,nhở đều dành chio phát triển kinh tế,theođuổi chính sách kinh tế
mở.ngay những nước có tiềm năng và thị trường rộng lớn như Trung Quốc,Nga, Ấn
Độ,Mỹ…và cả một số nước vốn “khép kín’’,theo mô hình tự cung tự cấp cũng dần mở cửa ,
từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực.
Mặt khác,công đồn thế giới đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu: suy thoái môi trường
,bùng nổ dân số,nghèo đói, các bệnh tật hiểm nghèo,các vấn đề xã hội, “xuyên quốc gia”
…,không một quố gia riêng lẻ nào có thế giái quyết đượ mà cần phải có sự hợp tác đa
phương.
Tình hình trên làm nảy sinh và thúc đẩy su thế hội nhập để phát triển.Trong xu thế hội
chung đó,các nước công nghiệp phát triển,trước hết là mỹ,do có ưu thế về thị trường ,nắm
được tiến bộ khoa học-công nghệ, có nền kinh tế phát triển cao, đã ra sức thao túng, chi phối
thị trường thế giới, apđặt điều kiện với các nướcchậm phát triển hơn, thậm chí dùng những
biện pháp thô bạo như bao vây, cấm vận, trừng phạt , làm thiệt hại lợi ích của các nước đang
phát triển đã từng bước tập hợp nhau lại, đấu tranh chống chính sách cườngquyền áp đặt của
9
Ph¹m V¨n Tïng - Líp KTPT 44B §HKTQD
Mỹ để bảo vệ lợi ích của mình vì trật tự kinh tế qúc tế bình đẳng, công bằng. Điều đó chứng
tỏ xu thế hội nhập phản ánh cục diện vừa đẩy mạnh hợp tác, vừa đấu tranh khốc liệt.
3 Ở khu vực Đông –Nam Á đã diễn ra nhiều biến đổi sâu sắc,. sau nhiều thập kỷ chiến
tranh, đối đầu, Đông –Nam Á đã hòa bình, tuy còn tiềm ẩn một số nhân tố có thể gây bất ổn
định, xu thế hợp tác để phát triển không ngừng gia tăng, mặc dù trải qua cuộc khủng hoảng
kinh tế-tài chính trầm trọng thời gian 1997-1998, song đây vẫn là khu vực có nhiều tiềm năng
do vị trí địa – chính trị và địa –kinh tế của mình, dung lượng thị trường lớn, taì nguyên phong
phú, lao động dồi dào, được đào tạo tốt, có quan hệ quốc tế roọng rãi.
3.1.2/ Quá trình hội nhập với nền kinh tế quốc tế :kết quả và tồn tại
Các chủ trương tại đại hội lần thứ VIII, Hội nghị lần thứ tư ban chấp hành Trung
ương (khóa VIII) và tại đại hội lần IX đều phản ánh một quan điểm nhất quán của Đảng ta là,
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi
với chủ động mở rộng sự hợp tác quốc té trên cả cơ sở song phương lẫn đa phương. Không
phải bây giờ chúng ta mới hội nhập. trong lời kêu gọi liên hợp quốc (tháng 12 năm 1946), hủ
ticg Hồ Chí Minh nêu rõ chính sách đối ngoai của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, trong
đó có những điểm mà trong bối cảnh hiện nay, tavẫn thâý rất đúng , nước Việt Nam sẵn sàng
thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực”:
a./ Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật
nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình.
b./ nước Việt Nam sẵn sàng mở cửa rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc
buôn bán và quá cảnh quốc tế.
c./ Nước Việt Nam chấp hành chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự
lãnh đạo của liên hợp quốc”…
A / Một số kết quả bước đầu:
Quá trình hội nhập với nền kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại thời gian qua đã
mang lại cho chúng ta những kết quả quan trọng:
1.Chúng ta đã làm thất bại chính sách bao vây cấm vận, cô lập nước ta của thế lựcthù
địch, tạo dựng dược môi trường quốc tế, khu vực thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế nước ta trên chính trường và trong trường thế giới.
2. Không những chúng ta đã khắc phục được tình trạng khủng hoảng thị trường do Liên
Xô và hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tan giã, gây nên mà còn mở rộng được thị ttrường
xuất nhập khẩu.
Trong quá trình hội nhập chúng ta đã nhanh chóng mở rộng nhập khẩu, thúc đẩy sản xuất
trong nước phát triển, tạo thêm được việc làm, tăng thu ngân sách. Nếu năm 1990 kim ngạch
xuất khẩu 2,404 tỷ USD và xuất khẩu 2,752 tỷ USD thì năm 2001, kim ngạch xuất khẩu đã
đạt 15,1 tỷ USD( Nếu tính cả dịch vụ thì đạt 17,6 tỷ USD, tăng trung bình trên 20% mỗi năm,
có tăng 30% riêng 2001 do ảnh hưởng của tình hình kinh tế khó khăn trên thế giới và khu vực
và giá cả các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu giảm mạnh, nên xuất khẩu chỉ tăng 5%)
3. Thu hút được một nguồn lớn đầu tư trực tiếp của nước ngoài( FDI), bổ sung cho nguồn
vốn trong nước, kết hợp với ngoại lực, tạo được những thành tựu to lớn, quan trọng.
Tháng 12-1987, chúng ta đã ban hành luật đầu tư trực tiếp nước ngoài. Từ đó đến nay
đã thu hút được 42 tỷ USD vốn đầu tư của nước ngoài, với trên 3.000 dự án, đã thực hiện
được 21 tỷ USD trong số đó. Nguồn đầu tư trực tiếp của nước ngoài dữ một vị trí quan
trọng trong nền kinh tế nước ta: Gần 30% vốn đầu tư vốn xã hội, 35% giá trị sản xuất
công nghiệp, 20% xuất khẩu, giải quyết việc làm cho khoảng 40 vạn lao động trực tiếp và
hàng chuc van lao động gián tiếp.
4. Tranh thủ được nguồn viện trợ phát triển chính thức(ODA) ngày càng lớn đồng thời
giảm đáng kể nợ nước ngoài.
Từ năm 1993, hàng năm đều có hội nghị các nhà tài trợ cho nước ngoài gồm một số nước và
một số định chế tài chính-Tiền tệ quốc tế. Cho đến nay các nhà tài chợ đã cam kết dành cho
10
Ph¹m V¨n Tïng - Líp KTPT 44B §HKTQD
nươc ta gần 20 tỷ USD chủ yếu là cho vay yêu đãi với lãi suất từ 0,75%-2,75% tùy theo mỗi
đối tác; một phần là viện chợ không hoàn lại.
5. Tiếp thu khoa học và công nghệ, kỹ năng quản lý, góp phần đào tạo một đội ngũ cán
bộ quản lý và cán bộ kinh doanh năng động và sáng tạo.
Quá trình hội nhập vòa nền kinh tế quốc tế đã tọa cơ hội để Việt Nam tiếp cận với những
thành quả của cuộc cách mạng khoa học- Công nghệ phát triển mạnh mẽ trên thế giới. Nhiều
công nghệ và dây truyền sản xuất hiện đại tạo nên bước phát triển trong các ngành sản xuất.
Đồng thời thông qua các dự án liên doanh hợp tác với nước ngoài, các doanh nghiệp Việt
Nam đã tiếp nhận được nhiều kinh nghiệm quản lý tiên tiến.
6. Từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền kinh tế và môi trường cạnh
tranh, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại, nhiều doanh nghiệp
đã nổ lực đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, nâng cao năng xuất và chất lượng, không
ngừng vươn lên trong cạnh tranh để tồn tại và phát triển; khả năng cạnh tranh của nhiều
doanh nghiệp đã được nâng lên; đã có hàng trăm doanh nghiệp đã được ISO-9000, Một tư
duy mới một nếp làm ăn mới lấy hiệu quả sản xuất kinh doanh làm thước đo, một đội ngũ các
nhà doanh nghiệp mới năng động, sáng tạo có kiến thức quản lý đang hình thành.
B/ Những mặt yếu kém ,tồn tại
Tuy nhiên , qua quá trình hội nhập kinh tế quốc tế,chúng ta cũng bộc lộ nhiều mặt
yếu kém:
Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế đã được khẳng định trong nhiều nghị quyết của Đảng
và văn kiện của Nhà nước và trên thực tế đã được thực hiện từng bước, nhưng nhận thức về
nội dung,bước đi, lộ trình hội nhập còn giản đơn ;các ngành,các cấp và khá đong cán bộ chưa
nhận thức đầy đủ những thức và cơ hội để từ đó có kế hoạch chủ động vươn lên vượt qua
những thách thức,nắm bắt thời cơ để phát triển;không ít chủ trương,cơ chế,chính sách chậm
được đổi mới cho phù hợp với yêu cầu hội nhập
Công tác hội nhập kinh tế mới đ ược triển khai chủ yếu ở các cơ quan trung ương và một
số thành phố lớn, sự tham gia của các ngành, các cấp, của ác doanh nghiệp còn yếu và chưa
đồng bộ. vì vậy, chưa tạo được sức mạnh tổng hợp cần thiết bảo đảm cho quá trình hội nhập
kinhtế quốc tế đạy hiệu quả cao.
Chưa hình thành được một kế hoạch tổng thể và dài hạn về hội nhập kinh tế quốc tế, một
lộ trình hợp lý thực hiện các cam k ết quốc tế.
Nhiều doanh nghiệp còn ít hiểu biết về thị trường thế giới và luật pháp quốc tế, năng lực
quản lý kém, trình độ công nghệ còn lạc hậu, hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh
tranh còn yếu, tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự bao cấp và bảo hộ của Nhà nước còn nặng.
Một trường kinh doanh ở nước ta tuy đã được cải thiện đáng kể song chưa thật thông
thoáng:hệ thống pháp luật còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa rõ ràng và nhất quán; kết cấu hạ
tầng phát triển còn chậm; trong bộ máy hành chính còn nhiều biểu hiện của bệnh quan liêu và
tệ tham nhũng, trình độ nghiệp vụ yếu kém, nguồn nhân lực được đào tạo chưa đến nơi đến
chốn.
Đội ngủ cán bộ làm công tác kinh tế đối ngoại còn thiếu và yếu; tổ chức chỉ đạo chưa sát
và kịp nthời; các cấp, các ngành chưa quan tâm chỉ đạo và tạo điều kiện cho các doanh
nghiệpchuẩn bị tham gia hội nhập. Đây là nguyên nhân sâu xa của những yếu kém, khuyết
điểm trong hợp tác với nước ngoài.
Nội Dung Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế.
Những Quan Điểm Chỉ Đạo
1. Quán triệt chủ trương được xác định tại Đại hội IX là “chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tac
11
Ph¹m V¨n Tïng - Líp KTPT 44B §HKTQD
quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân
tộc,an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường”.
2. Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp toàn dân; trong quá trình hội nhập cần phát huy
mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội, trong đó kinh
tế Nhà nước giữa vai trò chủ đạo.
3. Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh và cạnh tranh, vừa có
nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức, do dố cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong
viêc sử lý hai mặt của hội nhập tùy theo đối tượng, vấn đề, trường hợp; thời điểm cụ
thể; đồng thời, vừa phải đề phòng tư tưởng trì truệ, thụb động, vừa phải chống tư
tưởng giản đơn, nôn nóng .
4. Nhận thức đầy đủ đặc điểm nền kinh tế nước ta, từ đó đề ra kế hoạch và lộ trình hợp
lý, vừa phù hợp với trình độ phát triển của đất nước, vừa đáp ứng các quy định của
các tổ vhức kinhtế quốc tế mà nước ta tham gia; tranh thủ những ưu đãi dành cho các
nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế tập trung bao
cấp sang kinh tế thị trường.
5. Kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với yêu cầu giữ vững ổn định
chính trị, an ninh, quốc phòng; thông qua hội nhập để tăng cường sức mạnh tổng hợp
của quốc gia, nhằm củng cố chủ quyền và an ninh đất nước, cảnh giác với những mưu
toan thông qua hội nhậpđể thực hiện ý đồ “diễn biến hòa bình” đối với nước ta.
Lộ Trình Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế
Nắm vững các quan điểm chỉ đạo và hiểu rõ các nguyên tắc tuân thủ , cả nước
củng như mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp cần xây dựng một lộ trình hội nhập hợp lý. Khi
hình thành lộ trình, giữ vững các vấn đề có nguyên tắc sau:
1. Hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa tranh thủ vừa cạnh
tranh, vừa tận dụng cơ hội vừa đối phó vừa thách thức. Đối với nước ta hiện nay,
thách thức lớn nhất là: khảnăng cạnh tranh yếu, dễ bị thua thiệt trên thương
trường; sự non kém của cán bộ và bộ máy; khả năng dự báo chưa kịp thời chiều
hướng phát triển kinh tế thế giới, nhất là trong điều kiện toàn cầu hóa phát triển
nhanh; hiện tượng mất cảnh giác của một bộ phận cán bộ trước những âm mưu,
thủ đoạn xấu của các lực lượng thù địch .
2. Nướcta nhập cuộc đua tranh kinh tế khi trình độ phát triển kinh tế và công nghệ
còn thấp, vì vậy .phải tiến hành hội nhập từng bước ,dần dần mở cửa thì trường
với lộ trình hợp lí. Lộ trình có được xác định trên cơ sở tính toán cẩn trọng căn cứ
vào các yêu cầu và cam kết của các tổ chức khu vực và quốc tế mà chúng tagia
nhập để được thỏa thuận qua đàm phán song phương và đa phương.
3. Một lộ trình “quá nóng” về mức độ và thời hạn mở cửa thị trường vượt quá khả
năng chịu đựng của nền kinh tế ,sẽ dẫn tới thua thiệt, đỏ vỡ hàng loạt doanh
nghiệp,vượt khỏi tầm kiẻm soát của Nhà nước ,kéo thoe nhiều hậu quả khó
lường.Vì vậy , điều cực kỳ quanỷtọng là cần xem xèt ,tính toán nghiêm túc điều
kiện ,khả năng cụ thể của từng ngành hàng ,từng loài doanh nghiệp về các mặt
quản lý ,công nghệ ,trình độ kinh doanh,có tính đến những quy dịnh chung…đẻ
hoạch định lộ trình hội nhậphợp lý.
4. Tuy nhiên , điều đó hoàn toàn không có nghĩa là “lộ trình càng dài càng tốt”,bởi
vì kéo dài lồ trình hội nhập sẽ đi liền vối duy trì quá lâu chính sách bảo hộ ,bao
cấp của nhà nước ,gây tâm lí trì trệ, ỷ lại không dốc sức cải tiến quản lý vàcông
nghệ , kéo dài tình trạng kém hiệu quả,yếu sức cạnh tranh của nền kinh tế,nguy cơ
tụt hậu xa hơn sẽ càng lớn trước sự phát triểnnhanh chóng của các nền kinh tếkhác
trong đócó những lĩnh vừc phát triểnhết sức mạnh mẽ và nhanh chóng do có sự
đột phá về công nghệ
5. Thực tế của tất cả cá nước,kể cả cảc nước phát triển,cho thấy:trong lĩnh vực kinh
tế,hội nhập không phải chỉ toàn “ được” mà không có “thiệt”.Vì vậy,hợp tác luôn
đi liền đấu tranh,hội nhập đi liền với cạnh tranh để giành cái “ được” tối đa và hạn
12
Ph¹m V¨n Tïng - Líp KTPT 44B §HKTQD
chế cái “thiệt” đến mức tối thiểu. Đánh giá “được” hay “thiệt”cũng cần có cái
nhìn toàn diệnđối với toàn bộ nền kinh tế,không chỉ hạn chế trong đánh giá cái
“được” của từng ngành,từng lĩnh vực riêng lẻ. Điều quan trọng là,về tổng thể thì
cái “đườc” phải nhiều hơn cái “ thua thiệt”.
6. Xác định lộ trình hội nhập quốc tế không chỉ là xác định thồi gian mở cửa của thị
trường trong nước cho hàng hóa ,dịch vụ , và đầu tư nước ngoài thâm nhầp mà
còn phác họa thời điểm nền kinh tế nước taphải vươn lên ,phát huy lợi thế so
sánh,chiếm lĩnh thị phần ngày càng lởntên thương trường quốc tế,thâm nhập ngày
càng nhiều vào thị trường các nướcvề hàng hóa,về đầu tư và dìch vụ,nâng cao vị
trí,vai trò của nền kinh tế nước ta trên thị trường thế giới.
7. Với kết quả nghiên cứu còn rất giản lược hiện nay,trên cơ sở phân tích sức cạnh
tranh của các mặt hàng và dịch vụvề chất lượng , giá thành trên các thị trường
khác nhau,ta có tạm thời chia thànhcác nhóm để xác địnhthời gian hội nhập,mở
cửa thị trường :mặt hàng và dịch vụ nàocó khả năng cạnh tranh hơn thìtham gia
hội nhập sớm hơn,mở cửa thị trường sớm hơn,mặt hàng nào kém khả năng cạnh
tranh thì cần bảo hộ có thời gian và tham gia hội nhập chậm hơn.

Toàn cầu hóa kinh tế quốc tế và khu vực đang trở thành một xu thế khách quan của
các quan hệ kinh tế hiện đại. Trong xu thế đó, quốc gia nào có chiến lược, chính sácg, biện
pháp và cộng cụ quản lý hợp lý sẽ mang lại được lợi ích lớn hơn và hạn chế bất lợi,ngược
lại sẽ có những kết quả khong như mong muốn.
Để có thể hợp tác tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài, đặc biệt là nguồn vốn, tiến bộ
khoa học và công nghệ, nguyên nhiên liệu … đòi hỏi trước hết phải có sự thống nhất nhận
thức về độc lập dân tộc và hội nhập. Độc lập dân tộc để mở cửa, chủ động hội nhập để bảo
vệ độc lạp dân tộc. Như vậy chúng ta phải xây dựng một nền kinh tế, hay nói chính xác hơn
một cơ cấu kinh tế bao gồm những ngành có lợi thế so sánh, nghĩa là có khả năng kết hợp
một cách có hiệu quả kinh tế cao nhất các nguồn lực như vốn, công nghệ, con người…
Quá trình đổi mớiqua hơn 15năm đã khẳngđịnh đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà
nước ta. Trong sự thành công đó, không thể không nhắc đến đóng góp của kinh tế đối ngoại.
Nhờ có sự thay đổi trong chính sách và cơ chế quản lý ngoại thương của nhà nước, các
doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều được quyền xuất khẩu. kim ngacg xuât
nhập khẩu không ngừng tăng qua các năm, năm 2001 đạt 16,2 tỷ USD là năm cao nhất từ
trước đén nay. Nhiều mặt hàng của Việt Namđã có mặt trên thị trường thế giới như gạo, dệt
may, thủy sản… Từ năm 1987, khi lần đầu tiên chúng ta ban hành Luật đầu tư nước ngoài,
đến nay đã có hơn 40 quốc gia và lãnh thổ đầu tưvào nước ta. Tính đến hết tháng 12/2001
có 3.346 dự án được cấp giấy phép với tổng số vốn đăng ký 41.8 tỷ USD, trong đó vốn thực
hiện chiếm khoảng 38%. Cơ cấuvốn đầu tư trực tiếp ngày càng phù hợp với yều cầu chuyển
dịch cơ cấu kinh tế. Vốn FDI thu hút vào lĩnh vực sản xuất vật chất, kết cấu hạ tầng kinh tế
đều tăng, năm2001 đạt 85% tổng số vốn đầu tư, đầu tư của các nước ngoài vào các quốc gia
phát triển (EU, Bắc Mỹ , Nhật Bản…) đều tăng và chiếm 44%tổng số vốn đăng ký tại Việt
Nam, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã tạo ra 34% giá trị sản xuất toàn ngành
công nghiệp, khoảng 23%kim ngạch xuất nhập khẩu (chưa kể dầu khí ) và đóng góp trên
12%GDP của cả nước, thuhút hơn 30 vạn lao động trực tiếp và hàng triệu lao động gián
tiếp, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam tiếp tục tăng, xóa đói giảm
nghèo, y tế, giáo dục đô thị… Đến tháng 12/2001, vốn ODA được các nhà tài trợ cam kết
cho Việt Nam vay là15,04 tỷ USD (bình quân hàng năm là 1,5USD).Văn kiện ĐH Đảng IX
đã đánh giá hoạt động kinh tế đối ngoại trong thời gian qua là:Hoạt động xuất nhập khẩu
tiếp tục phát triển khá, cơ cấu hàng xuất khẩu đã có sự thay đổi mọi bước, khối lượng các
mặt hàng chủ lực đều tăng khá., thị trường xuất nhập khẩu dược củng cố và mở rộng thêm.
Cơ cấu thu hút vốn đầ tư trực tiếp nước ngoài ngày càng phù hợp với nhu cầu chuyển dịch
cơcấu kinh tế của nước ta,vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) tiếp tục tăng, góp phần
quan trọng phát triển kết cấu hạ tầng.
13
Ph¹m V¨n Tïng - Líp KTPT 44B §HKTQD
Hội nhập không chỉ đòi hỏi Việt Nam phải hoạch định các chính sách đối ngoại đúng đắn
mà còn phải ban hành luật pháp cho phù hợp với thông lệ quốc tế, xây dựng các lưc lượng,
tổ chức, doanh nghiệp, cán bộ có khả năng tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. Văn kiện Đại
hội IXchỉ rõ “Hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả tạo điều kiện cần thiết để xây dựng kinh
tế độc lập tự chủ… Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tranh thủ mọi thời cơđể phát triển
trên nguyên tắc giữ vững độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Để chủ động hội nhập cần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hóa,
đa dạng hóa, chủ động hội nhập kinh tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện của nước ta và
đảm bảo thực hiện những cam kết trong quan hệ song phương và đa phương nhưAFTA,
APEC, Hiệp định thương mại Việt -Mỹ, tiến tới gia nhập WTO…
Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế vừa là một tất yếu khách quan vừa là yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội của nước ta để đảm bảo cho Việt Nam trở thành một nước công nghiệp vào
năm 2002. Đồng thời, để đạt được mục tiêu chiến lược giai đoạn 2001-2010 trong điều kiện
nước ta vẫn là một nước đang phát triển ở trình độ thấp, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu,
sản phẩm chưa có sức cạnh tranh cao, nhiều nguyên nhiên liệu, máy móc vẫn phải phụ
thuộc vào bên ngoài, chúng ta không thể không hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là phát
triển kinh tế đối ngoại. Mục tiêu này, theo ý kiến của nhiều chuyên gia trong và ngoài nước,
có thể đạt được và thậm chí sẽ vượt nếu chúng ta chú trọng hơn nữa và nắm bắt vững
những đặc điểm mới của kinh tế đối ngoại trong bối cảnh kinh tếthế giới hiện nay. Đặc
điểm nền kinh tế nước ta là xuất phát thấp, sản xuất nông nghiệp là chính, xuất khẩu nguyên
liệu, sản phẩm sơ chế chủ yếu. Khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh tế thấp, môi trường
kinh doanh chưa ổn định. Đó là những trở ngại lớn cho chúng ta trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế. Tuy nhiên chúng ta cũng có những thuận lợi, đó là chính trị ổn định, đậưc
biệt là nguồn lực con người.
Mở rộng và tăng cường hoạt động kinh té đối ngoại xuất phát từ yêu cầu của nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển hợp tác và liên kết kinh tế với các tổ
chức kinh tế, các quốc gia trong khu cực và trên thế giới. Dođó, chúng ta cần có những quan
điểm chính sau:
1. Chủ động hội nhập và mở rộng kinh té đối ngoại nhưng phải đảm bảo giữ vững độc lập
dân tộc tự chủ và định hướng chủ nghĩa xã hội, bảo đảm vững chắc an ninh quốc gia, giữ
gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Lấy lợi ích của hội nhập kinh tế quốc tế để phục vụ cho sự
nghiệp CNH, HĐH vãây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa đảm bảo có lợi cho các bên tham gia,
phát huy tối đa nội lực (con người, tài nguyên, vốn…), đồng thời tranh thủ tối đa nguồn
lực bên ngoài (vốn, công nghệ, thị trường ), đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ kinh
tế đối ngoại để tránh lệ thuộc. Xây dựng tốt và quản lý nợ, có kế hoạch trả nợ để có thể
huy động được nhiều hơn nguồn vốn này với những ưu thế của bchúng (lãi suất thấp, thời
hạn vay dài, khối lượng vốn vay lớn, có thời hạn…)
2. Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại, đó là sự chuẩn bị về luật
pháp, điều kiện của các doanh nghiệp, mặt hàng, thời hạn, điều kiện mở cửa… Nắm vững
các nguyên tắc luật pháp, chính sách của các bên đối tác, các tổ chức kinh tế quốc tế và
chủ động đấu tranh để đòi các nước (đặc biệt là các nước phát triển ) cùng thực hiện theo
hướng cùng có lợi, bình đẳng thực hiện đúng nguyên tắc, cam kết.
3. Tập trung nguồn lực cho giáo dục và đào tạo, bồi dưỡng năng lực, phẩm chất của cán bộ
làm công tác kinh doanh, quản lý doanh nghiệp. Đội ngũ cán bộ nàyphải có năng lực,
phẩm chất chính trị vững vàng và có năng lực, am hiểu kiến thức nghệp vụ, ngoại ngữ,
phải đặt lợi ích cá nhân, doanh nghiệp trong lợi ích quốc gia. Cần chấn chỉnh, củng cố,
xắp xếp và từng bước tuyển chọn cán bộ quản lý và kinh doanh.
4. Thực hiện chính sách nhiều thành phần trong kinh té đối ngoại và hội nhập, khẩn trương
tổ chức và xắp xếplại hệ thống doanh nghiệp nhằm hình thành những doanh nghiệp có
đầy đủ năng lực và kinh doanh có hiệu quả trên thị trường quốc tế, có nhiều chiến lược
phát trển các ngành có hàm lượng trí thức phát triển cao : điện tử, công nghệ sinh học, vật
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét