- Vật liệu làm điện cực là than chì (grafit) vì chúng có điện trở
nhỏ độ bền cơ học và độ bền nhiệt cao. Các điện cực được kẹp
trong giá kẹp và nhờ cơ cấu nâng hạ mà chúng có thể di chuyển
theo phương thẳng đứng để điều chỉnh độ dài của hồ quang điện
và đồng thời điều chỉnh nhiệt độ trong bể nấu.
- Để giảm tiêu hao nhiệt, người ta chèn kín khe hỗ giữa lỗ
vòm và điện cực bằng vòng làm nguội đặc biệt 14
- Phần bệ của lò gồm hai gối tựa số 10, các con lăn số 11 và
bộ phận đỡ thân lò bằng thép đúc số 12 được liên kết chặt với
đáy lò.
- Việc quay nghiêng lò để tháo xỉ hoặc rót thép được thực
hiện bởi cơ cấu quay nghiêng kiểu điện - cơ hoặc kiểu thuỷ lực. Xỉ
được tháo ra qua cửa sổ 5 khi quay nghiêng lò.
- Liệu được nạp vào lò bằng cần cẩu. Để giảm thời gian nạp,
ở những lò hiện đại người ta không nạp liệu qua cửa sổ mà nạp
từ phía trên đỉnh lò. Để làm việc đó phải đẩy vòm lò sang bên
hoặc đẩy thân lò lệch khỏi vòm lò. Việc nạp liệu được tiến hành
nhờ gầu xúc với thời gian từ 5 - 7 phút. Dung lượng của lò điện hồ
quang thường là 30 - 40tấn. Lượng tiêu hao điện năng vào
khoảng 600 - 1000 kwh/tấn.
- Thời gian luyện từ 3,5 đến 5 giờ.
Hiện nay lò điện có dung lượng 200 tấn đang được dùng-
rộng rãi trên thế giới Hình 2 giới thiệu dạng tổng thể của lở điện
hồ quang.
§2- SƠ LƯỢC VỀ QUÀ TRÌNH SẢN XUẤT THÉP TRONG LÒ
ĐIỆN
Nguyên liệu để sản xuất thép trong lò điện- cũng giống như
ở lò Mác tanh nhưng vật liệu làm phụ gia và vật liệu hợp kim thì
khác hơn. Do giá thành năng lượng điện cao nên lò điện hồ quang
chỉ dùng để luyện thép có chất lượng cao từ thép vụn và một
lượng nhỏ gang thỏi hoặc dùng để luyện lại phế liệu của thép hợp
kim với chất phụ gia đắt tiền.
Nguyên liệu để luyện thép trong lò điện phải chứa 5% - 6%
Các bon. Lượng các bon đó lớn hơn lượng cacbon chứa trong
thép khi đã luyện xong.
Đáy lò điện được xây bằng gạch magie cho nên tính ưu việt
của lò là có thể luyện thép từ nguyên liệu có chứa photpho và lưu
huỳnh.
Quá trình sản xuất thép chất lượng cao với việc oxy hoá
cacbon của liệu tương tự như quá trình luyện thép vụn của lò
Máctanh, nghĩa là nó cũng bao gồm các giai đoạn nạp liệu, nấu
chảy, sôi - khử và tinh luyện.
Sau khi kết thúc nạp liệu, các điện cực được hạ sát với
nguyên liệu và khi đóng điện sẽ xuất hiện hồ quang giữa điện cực
và kim loại làm nóng chảy nguyên liệu. Việc nấu chảy kim loại bắ
t
đầu tiến hành ở trong vùng có nhiệt độ cao tức là ở dưới các điện
cực.
Trong quá trình nấu chảy kim loại sẽ xẩy ra quá trình oxy
hoá sắt, silic mangan, và các tạp chất khác có trong liệu. Các oxyt
vừa được tạo thành khi tác dụng tương hỗ với chất trợ chảy (trợ
dung) sẽ tạo thành xỉ lỏng hoạt tính. Ở giai đoạn này người ta chờ
thêm vôi và quặng sắt tức là tạo ra những điều kiện đầy đủ để
chuyển hoá photpho từ kim loại sang xỉ lò.
Trong giai đoạn nấu chảy này cũng hình thành một lớp kim
loại và một lớp xỉ, sau khi giữ nhiệt cho kim loại một thời gian ờ
dưới lớp xỉ thì cuối cùng xỉ được tháo ra khi quay nghiêng lò về
phía cửa nạp liệu khi đó hàm lượng cacbon trong thép chỉ còn
khoảng 0,5- 0,6% sẽ tham gia vào giai đoạn sôi.
Mục tiêu của giai đoạn sôi là để khử cacbon đạt đến định
mức. Khi bắt đầu giai đoạn này, phải rắc thêm vôi một lần nữa để
nâng nhiệt độ lên đến cực đại nhằm tạo ra xỉ có tính oxy hoá cao.
Sau khi kim loại lỏng sôi, quặng sắt được nạp vào trên bề
mặt của xỉ và nhờ đó sẽ xẩy ra phản ứng oxy hoá cacbon và phần
còn lại của photpho, silic.
Khi điều khiển tốc độ cháy hoàn toàn của cacbon, hàm
lượng cacbon trong thép có thể đạt được từ 0,02 - 0,03% (thấp
hơn so với định mức yêu cầu). Sau lần nạp mẻ quặng sắt này thì
ngừng lại, duy trì dòng điện một thời gian ngắn nữa và sau đó
tháo xỉ oxy hoá ra ngoài.
Giai đoạn luyện cuối cùng có tên gọi là tinh luyện. Nó được
hoàn thành nhờ môi trường hoàn nguyên của lò và đây cũng là
giai đoạn quan trọng nhất của quá trình luyện. Trong giai đoạn này
kim loại được oxy hoá, khử lưu huỳnh đến giới hạn cần thiết, tạo
cho thép có thành phần hoá học theo yêu cầu và điêu chỉnh nhiệt
độ của nồ
i nấu. Nhiệt độ của kim loại cần phải đảm bảo sao cho
việc rót khuôn tốt
§3 - KẾT CẤU CỦA XƯỞNG LUYỆN THÉP
Xưởng luyện thép bao gồm: Toà nhà chính, sân khuôn, gian
tháo vật đúc, gian làm nguội vật đúc, gian làm sạch và bôi trơn
khuôn.
a- Toà nhà chính bao gồm bốn /gian: Gian nguyên liệu, gian
lò, gian rót thép, kho chứa phôi cán.
Gian nguyên liệu 1 để nhập, bảo quản và xuất nguyên liệu
cho phân xưởng nguyên liệu và các phân xướng khác. Gian này
thường được bố trí như sau:
- Thép vụn và gang thỏi được xếp trong các hố chứa sâu
dưới mặt đất;
- Fero được để trên mặt đất 2;
- Vật liệu dạng hạt rời để trong các boong ke di động 6;
- Kho chứa ở cuối gian là nơi bảo quản hợp kim fero và điện
cực.
- Tại gian này cũng đặt máy nghiền và các toa thả dốc để
nghiền than cốc và fero silic 7.
- Trong gian liệu có đường sắt để vận chuyển nguyên liệu.
Hai bên đường sắt và trên nền xưởng có đặt những boong ke di
động để chứa nguyên liệu rời rạc. Tại đây bố trí cần cẩu số 5 có
dầm ngang để di chuyển boongke cùng với dụng cụ chất và tháo
tải trọng như nam châm, gầu ngoạm và các kẹp để gắp máng.
Những khối nặng được di chuyển bằng xe bốc xếp hàng.
Gian lò II - Trong đó đặt các lò điện hồ quang 11 cùng với
trạm biến áp 12. Để vận hành lò ờ độ cao xác định, sàn làm việc
được thiết kế có ban công đi thông sang gian liệu. Trấn sàn đó đặt
đài điều khiển, các lò để nung nóng nguyên liệu và các giá đặt
thùng, máng. Phía dưới sàn là kho chứa gạch chịu lửa, các buồng
quạt thông gió, trạm nạp acquy cùng các xe bốc xếp tiếng, xe
goòng cùng thùng xỉ số 15 di chuyển trên đường ray số 14, các
thiết bị điện như máy phát tần số thấp và các thiết bị điện khác.
Gian rót thép III: Kim loại lỏng
được rót từ gầu 16 trực tiếp
vào khuôn hoặc thông qua gầu trung gian 19 và thiết bị đặc biệt số
20 để rót liên tục. Tại đây đắt hai đường goòng thông suốt. Dọc
theo một đường có bố trí diện tích để rót thép. Chiều dài của diện
tích đó phải đảm bảo sao cho có thể đặt hai toa xe goòng chở
khuôn. Còn con đường goòng kia để vận chuyển phế liệu của quá
trình sản xuất. Ngoài ra ỡ gian này người ta còn bố trí những giá
cho gầu rót thép, các thiết bị để sấy chúng và các máy để sấy gậy
bịt lò. Ở đây cũng bố trí các thiết bị để tinh chế thép trong chân
không. Gian này được bố trí cẩu rót thép kiểu cầu lăn số 18, cần
cẩu công xôn treo tường số 17.
Ở nơi nối tiếp giữa gian rót và kho phôi thép cán có đặt thiết
bị rót liên tục số 20. Một phần phía trên của thiết bị đúc liên tục
nhô lên phía trên mặt phẳng nền nhà còn nửa kia thì ở dưới hố.
Kho phôi cán được bố trí ở gian cuối cùng IV của toà nhà
chính. Phôi cán được nhập vào kho sau khi tiếp nhận chúng từ
thiết bị đúc liên tục. Trong gian này còn được bố trí các thiết bị
sau:
- Giàn con lăn vận chuyển số 24;
- Lò số 22 vời ống khói 23 để ủ phôi và các giá để xếp phôi;
- Nhà kho được bố trí cần cẩu chuyên dùng số 21 để vận
chuyển phôi;
- Các trạm điện treo số 4, 13 và một thanh ray đi dấn các
trạm của toà nhà chính nhằm phục vụ cho việc sửa chữa cần cẩu
của tất cả các gian.
b – Khu vực tháo vật đúc ra khỏi khuôn
Tại khu vực này, vật đúc được tháo khỏi khuôn nhờ cần cẩu
tháo khuôn ba nguyên công. Đường sắt được đặt xuyên suốt
trong toà nhà mà dọc theo nó là các toa xe chở khuôn đúc. Ở đây
cũng có các khoang tàu để sữa chữa các cơ cấu ép phôi ra khỏi
khuôn của cân câu.
c . Sân khuôn: Là nơi có đường sắt xuyên suốt để thu nhận
toa bằng cùng với ống rót trung tâm, các toa xe cùng với các tấm
đáy khuôn và khuôn rỗng. Trong sân khuôn có diện tích cần thiết
để lắp ráp các bộ phận cùng với khuôn, các băng tải để chuyển
gạch xiphông, lò để sấy ống rót trung tâm và các giá để lắp chúng
và lò sấy khuôn. Ở phía dưới khu vực lắp ráp có nhà kho chứa
gạch xiphông và thiết bị sấy nóng vữa chịu lửa. Trong nhà có bố
trí cần cẩu cầu lăn.
d - Gian lên nguội, làm sạch và bôi trơn khuôn: Nơi đây
có bố trí vòi phun gương sen được chế tạo dưới dạng cầu vượt.
Dọc theo con đường của toa chở khuôn có bố trí thiết bị làm sạch
khuôn bằng thuỷ lực. Cùng một lúc có thể làm sạch 2 khuôn bằng
vòi nước áp lực 50 N/cm
2
. Nước được dẫn qua vòi phun rồi đi vào
trong lòng khuôn. Áp lực cao của nước được tạo rá nhờ trạm
bơm.
Khuôn được bôi trơn ở gian đặc biệt nhờ máy bôi trơn. Các
toa chở khuôn được dẫn đi qua gian bôi trơn bằng đường sắt.
Dọc theo con đường sắt đó có bố trí các khu vực làm việc để kiểm
tra việc bôi trơn khuôn. Các xe goòng chở khuôn được đẩy đi dọc
theo đường tàu nhờ cầ
n đẩy.
§4- LÒ ĐIỆN HỒ QUANG
Nói chung các lò điện hồ quang có dung lượng từ 5 tấn trở
lên đều được thiết kế với việc chất liệu bằng cơ khí hoá. Liệu
được chất từ phía trên bằng gầu liệu sau một đến hai lần nạp.
Loại lò nạp liệu từ phía trên có những đặc tính ưu việt dưới
đây:
- Cho phép chất liệu hầu hết khoảng không gian làm việc của
lò.
- Cho phép dùng sắt phế với kích thước lớn và sắt phế được
xếp một cách hợp lý.
- Cho phép rút ngắn thời gian từ lúc ra lò đến lúc bắt đầu của
lần luyện tiếp sau, do đó tăng năng suất của lò và giảm tiêu hao
điện năng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét