Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

ý nghĩa vận dụng các lý thuyết này trong việc tạo , huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển ở nước ta


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "ý nghĩa vận dụng các lý thuyết này trong việc tạo , huy động và sử dụng vốn đầu tư phát triển ở nước ta": http://123doc.vn/document/1052468-y-nghia-van-dung-cac-ly-thuyet-nay-trong-viec-tao-huy-dong-va-su-dung-von-dau-tu-phat-trien-o-nuoc-ta.htm


sẽ làm tăng cả tổng sản lợng và sản lợng bình quân mỗi lao động , tăng tốc
độ tăng trởng của nền kinh tế
Cho đến những năm đầu của thập kỷ 50 của thế kỷ XX,Murkse đã
nhấn mạnh vai trò của đầu t và vốn đầu t đến sự phát triển của nền kinh tế .
Nurkse cho rằng việc thiếu vốn đầu t là nguyên nhân gây ra tình trạng
nghèo đói . Ông đã chỉ ra cái vòng luẩn quẩn của s nghèo đói (vicions circle
of poverty),.
Về phía cung : Một quỗc gia có thu nhập thấp sẽ có khả năng tích luỹ
thấp, tích luỹ thấp dẫn đến thiếu vốn đầu t , thiếu vốn đầu t dẫn đến nằng
lực sản xuất bị hạn chế và năng suất lao động cũng không thể cao ,năng lực
sản xuất thấp dẫn đến thu nhập thấp .
Về phía cầu :Thu nhập thấp làm cho sức mua thấp, sức mua thấp làm
cho động lực gia tăng đầu t bị hạn chế dẫn đến năng lực sản xuất thấp và từ
đó sẽ lại dẫn đến thu nhập thấp .
Thực tế cho thấy ,các nớc nghèo hiện nay trên thế giới hầu hết chịu
ảnh cảnh nghèo đói , một phần do những nguyên nhân trên . Tức là sự
nghèo đói tại các quốc gia này một phần là do thiếu vốn đầu t và sự đầu t
thích đáng có hiệu quả .
Điều này cho thấy rằng ,để phát triển và thực hiện xoá đói giảm nghèo
thành công thì phải làm sao phá vỡ đợc cái vòng luẩn quẩn trên. Một trong
nhng biện pháp để phá vỡ cái vòng luẩn quẩn là xuất phát từ khía cạnh đầu
t . Nên kinh tế phải tạo đợc sự chuyển tăng mức tích luỹ t thấp lên mức
trung bình và mức cao để tăng quy mô đầu t . Từ đó tăng năng lực sản xuất
và cuối cùng là gia tăng thu nhập .
Trong hầu hết các mô hình tăng trởng, từ mô hình Harrod_Domar (Mô
hình 1 khu vực) hay mô hình Arthuslewis (mô hình 2 khu vực ),đều thể
hiện một mối quan hệ chặt chẽ và rõ ràng giữa sự gia tăng của đầu t và thu
nhập của nền kinh tế. Quan điểm cho rằng tích tụ vốn cho đầu t là chìa
khoá cho sự tăng trởng kinh tế đợc thể hiện trong các chính sách phát triển
tại nhiều quốc gia (pakistan và An độ đều sử dụng kế hoạch năm năm
trong những năm đầu thập kỷ 60 trong đó nhấn mạnh đến nhu cầu vốn
trong giai đoạn mở đầu quá trình công nghiệp hoá ,trong đó việc sử dụng
một lợng vốn t nớc ngoài là có thể chấp nhận đợc.
Mô hình ArthusLewis tíêp tục kế thừa kế thừa các quan điểm của các
nhà kinh tế học cổ điển nhấn mạnh đến sự tăng trởng của t bản vốn để tăng
lợi nhuận và tích luỹ từ đó sẽ gia tăng đầu t . Trong mô hình kịnh tế nhị
nguyên ,Lewis cho rằng :Vấn đề quan trọng trong lý thuyết phát triển kinh
tế là hiểu đợc quá trình mà nền kinh tế trớc đây chỉ tích luỹvà đầu t từ 4 hay
5% thu nhập quốc gia hay thậm chí hơn, chuyển sang nền kinh tế mà mức
tích luỹ t nguyện là 12 -15%thu nhập quốc gia hay hơn .
Theo Lewis ,tất cả cá quốc gia mà hiện nay đã tơng đối phát triển đã
từng có thời kỳ gia tăng mạnh mẽ về vốn ,trong đó tỷ lệ đầu t thuần của các
5
nền kinh tế này tăng từ mức 5% hay ít hơn đến mức 12% hay hơn . Quá
trình đó chúng ta gọi là cách mạng công nghiệp .
Để đánh gía mức gia tăng trong tổng sản lợng quốc gia (Y),các nhà
kinh tế thờng bắt đầu với việc ớc tính tỷ lệ tích luỹ và khối lợng sản phẩm
đâù ra thuần tuý đợc tạo ra từ đầu t thuần . Nhiều nghiên cứu đã cố gắng l-
ợng hoá số vốn sản lợng (capital output ratio) hay hệ số vốn (capital
coefficient), tỷ số vồn sản lợng gia tăng(incrememtal capital output ratio)
hay cận biên (Marginal) viết tắt là ICOR đợc tính bằng lợng vốn gia tăng
cần thiết
Để tạo ra một đơn vị gia tăng trong tổng sản lợng quốc gia(y).
Tỉ số Icor của các nớc đang phát triển thờng là từ 2:1 > 5:1
Ví Dụ : nếu muốn tăng sản lợng quốc gia 20, khi mà Icor tính đợc cho
nền kinh tế là 4:1 thì lợng vốn gia tăng cần thiết để đầu t là 80.
Theo mô hình Harod-Domar, tốc dộ tăng trởng của nền kinh tế phụ
thuộc vào tỷ số vốn sản lợng và năng suất của vốn đầu t
g= y\y = k.y\k.y =y\k . k\y =1\Icor .1\y
Từ đây chúng ta có thể xác định mức vốn đầu t cần thiết của nền kt để
đạt đợc mức tăng trởng nào đó với hệ số Icor cố định .
Ngời ta cũng có thể viết tỉ lệ tăng trởng dự kiến của nền kt (g) nh sau :
g =y\y =1\icor . s\y
Bởi I =S =>s\y =g .icor .
Ví dụ : nếu tỉ lệ tăng trởng của nền kt năm 200x dựkiến là 5% và hệ số
Icor là 15%.
s\y = g .icor = 0,005 . 3 = 0,15 hay 15%
2. Lý thuyết của Keynes về đầu t
Theo Keynes, mỗi sự gia tăng về vốn đầu t đều kéo theo sự gia tăng
nhu cầu bổ sung về nhân công và nhu cầu về t liệu sản xuất . Do vậy , làm
tăng thu nhập của nền kinh tế và đến lợt mình tănh thu nhập lại làm tăng
đầu t mới . Qúa trình này thể hiện thông qua 1 đại lợng gọi là số nhân đầu t-
. Số nhân đầu t thể hiện qua tác dộng dây chuyền : tăng đầu t ,làm tăng
thu nhập ,tăng thu nhập làm tăng đầu t mới, tăng đầu t mới làm tăng thu
nhập mới. Qua quá trình hoạt động này, số ngân đầu t làm phóng đại thu
nhập lên .
Số nhân đầu t thể hiện mối quan hệ giữa gia tăng thu nhập cà mức gia
tăng đầu t .Số nhân này xác định sự gia tăng đầu t sẽ làm cho thu nhập tăng
lên nh thế nào . Nếu kí hiệu dy là mức gia tăng thu nhập , dI là mức giá tăng
đầu t và m là số nhân đầu t thì :
m = dy \ dI
6
vì I =s nên : m =dy \ds = dy \ (dy dc) =1 \ (1 dy\dc) =1\ (1
-c)
Trong dó c là khuynh hớng tiêu dùng cận biên . chẳng hạn khuynh h-
ớng tiêu dùng cận biên của xã hội là C thì theo nguyên lý số nhân từ 1 tỉ
đồng đầu t ta có thể có mức thu nhập là 4 tỉ đồng hay là hệ số phóng đại
đến 4 lần .
Cũng theo keynes , hiệu quả cận biên của vốn đầu t phụ thuộc vào tỉ
suất thu lợi dự kiến của số tiền đầu t mới chứ không phải so với phí tổn
nguyên thuỷ của nó. Nh vậy , cùng với sự tăng lên của vốn đầu t thì hiệu
quả cận biên của mỗi đồng vốn gia tăng bị giảm sút . Bởi vì : đầu t làm tăng
thêm khối lợng hàng hoá sản xuất thêm và tăng cung hàng hoá cung ứng
trên thị trờng làm giảm giá của các hàng hoá sản xuất thêm và tăng hàng
hoá sẽ làm chi phí vốn đầu t tăng từ đó giảm hiệu quả sử dụng vốn .Do
đó ,tăng đầu t sẽ dẫn đến giảm hiệu quả cận biên của vốn .Mặt khác , sự
tăng đầu t sẽ dẫn đến giảm hiệu quả cận biên của vốn . Mặt khác , sự
khuyến khích đầu t lại phụ thuộc vào lãi xuất . Ngời ta xẽ tiếp tục đầu t
trừng nào hiệu quả cận biên của vốn bằng hoặc vẫn lớn hơn lãi suất huy
động vốn . Khi hiệu quả cận biên của vốn bằng hoăc thấp hơn lãi suất thì
ngời ta không đầu t nữa . Vì vậy, để kích thích đầu t cần tìm biện pháp tăng
hiệu quả cận biên của vốn hoặc giảm lãi xuất .
3. Các lý thuyết khác về đầu t.
Keynes và các nhà kinh tế học cổ điển giả thiết 1 cách khái quát rằng
đầu t là 1 hàm của lãi suất . I =f(i) . Tuy nhiên , bắt đầu từ cuối năm 30 của
thế kỉ XX , các nhà kinh tế học đã trở nên hoài nghi về tầm quan trọng của
lãi xuât trong việc xác định biến số đầu t . Hơn nữa , các nghiên cứu thực
nhiệm ban đầu cho thấy rằng đầu t là tơng đối ít nhạy cảm với sự biến động
của lãi xuất và kết quả là 1 số lí thuyết khác về đầu t đã đợc đa ra . Chúng ta
sẽ xem xet 1 vài lý thuyết quan trọng trong số các lí thuyết trên .
3.1. Lí Thuyết gia tốc đầu t ( the accelerator theory of investment)
Lí thuyết gia tốc đầu t ở hình thức đơn giản nhất dựa vào giả thiết rằng
cần phải có 1 khối lợng nhất định vốn đâù t (capital stock) để sản xuất ra 1
lợng sản phẩm đầu ra ( output) cho trớc .Điều này cho thấy một mối qua hệ
cố định giữa vốn đầu t và sản lợng đầu ra.
Có thể biểu diễn mối quan hệ dới dạng công thức sau :
X = Kt \ Yt
x : là đại lợng thể hiện mối quan hệ giữa hai biến
số vốn đầu t và sản lợng đầu ra.
Kt : là khối lợng vốn đầu t của nền kinh tế trong thời
gian t
Yt : là sản lợng đầu ra trong thời gian t
7
Kt = x . Yt
Nếu giả định rằn x là không thay đổi , hay mối quan hệ này là nh nhau
tại các thời điểm khác nhau .khi đó trong giai đoạn t-1 ta cũng có :
Kt -1 = x . Yt-1
Từ đó có thể suy ra :
Kt - K( t -1) = x(Yt - Y(t-1))
K = x . Y
Nh vây , đầu t thuần (net investment) : Kt-K(t-1) bằng với x ( hệ số gia
tốc đầu t ) nhân với mức thay đổi trong tổng sản lợng đầu ra . Với giả thiết
x là số cố định thì chúng ta thấy rằng đầu t thuần là 1 hàm số của mức thay
đỏổi sản lợng đầu ra . Nếu mức sản lợng đầu ra tăng , đầu t thuần sẽ là 1 số
dơng , Nếu mức sản lợng đầu ra tăng càng nhiều thì đầu t ròng tăng càng
lớn .ngợc lại , nếu mức sản lợng đầu ra mà giảm thì đầu t thuần sẽ là 1 số
âm.
Vậy có thể viết : NI =x(Yt - Y(t-1)) =x .Y
NI : là đầu t thuần.
Y : mức thay đổi trong tổng sản lợng đầu ra
Theo lí thuyết này thì cần phải có 1 lợng vốn đầu t nhất định để sản
xuất ra một lợng sản phẩm đầu ra cho trớc . Qua thời gian mà tổng cầu
không thay đổi thì đầu t thuần vẫn bằng không bởi không có động lực cho
các hãng mở rộng quy mô của mình . Tuy nhiên , tổng đầu t vẫn là số dơng
bởi các hang vẫn phải thay thế máy móc và thiết bị dã sử dụng . Gỉa sử tổng
cầu tăng làm cho sản lợng đầu ra tăng lên theo lí thuyết gia tốc , khối lợng
vốn của nền kinh tế sẽ tăng lên
3.2. Lí thuyết đầu t nội bộ (the internal funds theory of investment)
Lí thuyết này cho rằng đầu t phụ thuộc vào mức lợi nhuận .Lợi nhuận
thực tế phản ánh 1 cách chính xác lơih nhuận kỳ vọng . Bởi đầu t phụ thuộc
vào lợi nhuận kì vọng nên nó có mối quan hệ đồng biến với lợi nhuận thực
tế:
I = f() : là lợi nhuận
Lí thuyết này cho rằng các doanh nhiệp có thể huy động vốn đầu t từ
nhiều nguồn : từ thu nhập gửi lại , từ khấu hao tài sản cố định , từ vay nợ và
từ phát hành cổ phiếu ,trái phiếu .TRong đó nguồn từ thu nhập gửi lại và
khấu hao là các nguồn vốn nội bộ của doanh nhiệp ,trong khi khoản vay nợ
và phát hành chứng khoán là các nguồn huy động từ bên ngoài . với nhiều lí
do khác nhau , lí thuyết ũy đầu t nội bộ để đầu t .Biện pháp chủ yếu để tăng
vốn nôi bộ là lợi nhuận từ các hoạt động sản xuất kinh doanh phải cao.
8
3.3. Lí thuyết tân cổ điển về đầu t (the neoclassical theory of
investment)
Theo lí thuyết tân cổ điển về đầu t thì đầu t sẽ phụ thuộc vào sản lợng
đầ ra và giá tơng đối của dịch vụ vốn với giá của sản lợng đầu ra . trong đó
giá của dịch vụ vốn đầu t phụ thuộc vào giá của các hàng hoá vốn hay lãi
suất và chính sách thuế thu nhập . vì vậy , sự thay đổi của sản lợng đầu ra
hoặc sự thay đổi của lãi suất , của thuế suất thuế thu nhập sẽ ảnh hởng trực
tiếp đến đầu t của nền kinh tế .
Theo lí thuyết gia tốc đầu t , sản lợng đầu ra là yếu tố quyết định mức
đầu t . vì vậy tăng chi tiêu của chính phủ hoặc giảm thuế thu nhập doanh
nghiệp sẽ ảnh hởng đến đầu t của nền kinh tế do nó tác độnh trực tiếp đến
quy mô quỹ nội bộ . còn lí thuyết tân cổ điển cũng cho rằng chính sách
thuế thu nhập cũnh ảnh hởng mạnh đến đầu t nhng không phải do ảnh hởng
đến nguồn vốn nội bộ doanh nghiệp mà donó tác động đến giá của các dịch
vụ vốn và từ đó có ảnh hởng đến đầu t
3.4. Lý thuyết q về đầu t .
Lí thuyết này cho rằng đầu t có mối quan hệ tỷ lệ thuận với q . Trong
đó q là tỷ số giữa giá trị thị trờng của doanh nghiệp và chi phí thay thế tài
sản của doanh nghiệp đó . giá trị thị trờng của doanh nghiệp có thể tính đợc
bằng cách cộng giá trị thị trờng của các cổ phiếu thòng , cổ phiếu u dãi
cũng nh giá trị vay nợ thuần của doanh nghiệp . Tài sản (vật chất ) của
doanh nghiệp chủ yếu bao gồm nhà xởng .trang thiết bị và hàng hoá dự trữ
Mối quan hệ này thể hiện nh sau : nếu giá trị thị trờng của doanh
nghiệp mà tăng và cao hơn chi phí thay thế các tài sản của doanh nghiệp đó.
Doanh nghiệp sẽ có động cơ huy động thêm vốn để đầu t mở rộng quy mô
sản xuất kinh doanh và tăng giá trị thuần của doanh nghiệp .khi đó đầu t
thuầ sẽ là số dơng.



9
Chơng II - ý NGHĩA VậN dụng các lý thuyết
này trong việc tạo , huy động và sử dụng
vốn đầu t phát triển ở nớc ta
I - Thực trạng tạo huy động và sử dụng vốn đầu t
1. Vốn đầu t xã hội - nhu cầu nguồn vốn , huy động và sử dụng
1.1 . Vốn đầu t xã hội.
Là yếu tố trực tiếp quyết định tốc độ tăng trởng kinh tế , nhng tốc độ
tăng trởng kinh tế không chỉ phụ thuộc vào số lợng vốn mà quan trọng hơn
là hiệu quả sử dụng vốn
Năm
Tổng vốn đầu
t XH
(tỷ đồng)
GDP theo giá
thực tế
(tỷ đồng)
Tỷ lệ VDT xã
hội so với GDP
(%)
Tốc độ tăng
GDP (%) giá
so sánh
1995 68.048 228.892 29.7 9.54
1996 79.367 272.036 29.2 9.34
1997 96.870 361.468 30.9 8.15
1998 96.400 361.468 26.7 5.8
1999 103.900 399.942 26.0 4.8
Nhận xét :
Khi tỷ lệ vốn đầu t xã hội so với GDP bị sút giảm , nếu hiệu quả sử
dụng vốn đầu t không tăng , thì tốc độ tăng trởng kinh tế sẽ bị sút giảm theo
.
Khi quy mô GDP dã lớn hơn , để tăng trởng 1% đòi hỏi 1 lợng vốn lớn
hơn trớc , do đó hệ số ICOR Cũng tăng lên .
Do hiệu quả sử dụng vốn đầu t còn thấp và giảm nên hệ số ICOR đã
tăng nhanh ,và hiệu quả ở mức cao .
1.2. Nhu cầu vốn lớn
Nhu cầu vốn đầu t xã hội năm 2000 so với mức thực hiện 1999 đã
tăng 27.8 -40.1% (bằng cách lấy 132.8+145.6 chia 103.9 nghìn tỷ đồng).
Tăng 29 - 42. Nhu cầu rất lớn so với tốc độ tăng của GDP theo giá
thực tế chỉ có 11.8- 12.4%
10
Nhu cầu vốn đẩu t cã hội 2000 so với mức thực hiện năm 1999 đã
tăng 18.4 -29.9% tong ứng 19-31 nghìn tỷ đồng.
Tổng hợp cả 2 phơng án thì nhu cầu vốn đầu t xã hội năm 2000 mức
thấp nhất là 123 nghìn tỷ đồng và mức cao nhất là 145.6 nghìn tỷ đồng .so
với mức thực hiện năm 1999 tăng 19 42 nghìn tỷ đồng , tơng ứng 18.4-
40.2% .
1.3. Nguồn ,huy động và sử dụng vốn cho đầu t phát triển
2. Tình hình tạo, huy động và sử dụng vốn ở nớc ta.
Nguồn vốn ngân sách nhà nớc là nguồn mà nhà nớc có thể trực tiếp kế
hoạch hoá và điều hành ,cũng là nguồn có tác dụng tạo ra các công trình
trọng điểm của đất nớc , chuyển dịch cơ cấu kinh tế , đầu t vào những lĩnh
vực ,những địa bàn mà các thành phần kinh tế khác không làm đợc hoặc
không muốn làm ,có tác dụng là nguồn vốn mồi để thu hút các nguồn vốn
khác .nguồn vốn nhà nớc bao gồm vốn thuộc ngân sách NN tập trung và
nguồn ngân sách Nhà nớc
Đầu t phát triển (ĐTPT) là yếu tố quan trọng hang đầu quyêt định tốc
độ tăng trởng, phát triển kinh tế xã hội. Đầu t phát triển đúng hớng và có
hiệu quả thì sẽ tạo ra năng lực mới làm chuyển đổi cơ cấu thành phần kinh
tế, các vùng va lãnh thổ theo hớng CNH-HĐH. Với tầm quan trọng của đầu
t phát triển nhà nớc đã thực hiện u tiên cho phát triển các nguồn lực cho đầu
11
1995 1996 1997 1998 1999
Tổng số -tỷ đồng 68.048 79.367 96.870 96.400 103.900
100.0 100.0 100.0 100.0 100.0
1.vốn nhà nớc -tỷ đồng 26.048 35.894 465.70 51.600 64.000
-% 38.3 45.2 48.1 53.5 61.6
a) vốn ngân sách NN -tỷ đồng 13.575 16.544 20.570 20.700 26.000
-% 19.9 20.8 21.2 21.5 25.0
b) vốn tín dụng -tỷ đồng 3064 8280 12700 14800 19000
-% 4.5 10.4 13.1 15.4 18.3
c) vốn tự có củaDNNN -tỷ đồng 9409 11070 13300 16100 19000
-% 13.8 13.9 13.7 16.7 18.3
2. Vốn ngoàI quốc doanh -tỷ đồng 20000 20773 20000 20500 18900
-% 29.4 26.2 20.6 21.3 20.2
3. vốn FDI -tỷ đồng 22000 22700 30360 24300 18900
-% 32.3 28.6 31.2 25.2 18.2
t bằng các chính sách huy động vốn dựa trên các lý thuyềt về đầu t. Trong
các nguồn vốn đầu t thì nguồn vốn đầu t nhà nớc có tính chất quan trọng và
định hớng trong đầu t phát triển. Nguồn vốn nhà nớc bao gồm vốn của ngân
sách nhà nớc, nguồn vốn tín dụng đầu t phát triển của nhà nớc và nguồn vốn
đầu t của doanh nghiệp nhà nớc.
Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nớc (NSNN). Đây chính là nguồn
thu ngân sách cho đầu t. Đó chính là phần chênh lệch giữa tổng thu và tổng
chi thờng xuyên của ngân sách nhà nớc. Đây là một nguồn vốn đầu t quan
trọng trong chiến lớc phát triển kinh tế xã hội của mỡi quốc gia. Nguồn vốn
này thờng đợc sử dụng cho các dự án kết cầu hạ tầng KTXH, quốc phòng
hỗ trợ cho các doanh nghiệp đầu t vào lĩnh vực cần tham gia của Nhà nớc,
chi cho công tác lập và thực hiện các dự án qui hoạch tổng thể phát triển
kinh tế xã hội vùng, lãnh thổ
Với lý thuyết đầu t và tăng trởng kinh tế thì ta thấy đầu t tỷ lệ thuận
với tăng trởng kinh tế do đó phải huy động một nguồn vốn lớn cho đầu t mà
đối với nguồn vốn ngân sách Nhà nớc thì đó là chênh lệch giữa thu (thuế,
phí, bán tài nguyên, bán hay cho thuê tài sản thuộc Nhà nớc quản lý) và chi
tiêu thờng xuyên. Nhà nớc đã mở rộng và không ngừng gia tăng các khoản
thu và cắt giảm các khoản chi thờng xuyên không hợp lý để tăng cờng tích
luỹ từ nội bộ nền kinh tế, để đầu t cho phát triển kinh tế.
Còn lý thuyết gia tốc đầu t cho ta thấy mối quan hệ giữa vốn đầu t và
sản lợng đầu ra. Với một khối lợng vốn cố định sẽ tạo ra một sản lợng đầu
ra nhất định tuỳ thuộc vào tỷ số giữa vốn đầu t và sản lợng đầu ra (Kt/Yt).
Với tình trạng ở Việt Nam thì vốn còn thiếu nên áp dụng lý thuyết này rất
khó. Do vậy thì chúng ta phải tăng năng suất lao động xã hội bằng cách đầu
t đúng hớng, có hiệu quả từ ngân sách Nhà nớc và các nguồn vốn khác.
Việc huy động nguồn vốn ngân sách cũng rất quan trọng trong việc đầu t
phát triển để làm tăng năng suất lao động xã hội.
Cụ thể là giai đoạn 1991 - 1995 nguồn vốn này trong GDP chiếm
khoảng 6% thì giai đoạn 1996 - 1997 đạt 6,6%. Nếu so sánh nguồn vốn đầu
t phát triển từ ngân sách Nhà nớc trong tổng số vốn đầu t toàn xã hội thì tỷ
trọng này đạt 21,3% trong thời kỳ 1991 - 1995. Đi cùng với việc mở rộng
qui mô ngân sách, mức chi cho đầu t phát triển từ ngân sách Nhà nớc cũng
gia tăng đáng kể, tăng từ 2,3% GDP năm 1991 lên 6,1% GDP năm 1996.
Đối với nguồn vốn tín dụng đầu t phát triển của Nhà nớc: Cùng với
quá trình đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu t phát triển của Nhà nớc ngày
càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lợc phát triển kinh tế xã hội. Các lý
thuyết về đầu t đòi hỏi cần phải có nguồn vốn đầu t để phát triển kinh tế xã
hội trong khi các nguồn vốn khác cũng đang đợc huy động thì nguồn vốn
tín dụng đầu t phát triển của Nhà nớc có một ý nghĩa quan trọng là tăng c-
ờng các nguồn vốn cho đầu t phát triển bắt buộc các dự án đầu t từ nguồn
này phải có hiệu quả, dự án có hiệu quả thì mới tạo đà cho việc đầu t mới
hay nói cách khác là khi dự án có hiệu quả thì dẫn đến lợi ích (lợi nhuận) sẽ
12
tăng theo lý thuyết quĩ đầu t nội bộ. Vì vậy để có vốn chúng ta có thể phát
hành trái phiếu đầu t có kỳ hạn dài
Cụ thể về tình hình huy động vốn từ tín dụng đầu t phát triển của Nhà
nớc trong giai đoạn qua: Giai đoạn 1991 - 1995 nguồn vốn này mới chiếm
5,6% tổng vốn đầu t toàn xã hội thì giai đoạn 1996 - 1999 đã chiếm 14,5%
và riêng năm 2000 nguồn vốn này đã đạt 17% tổng vốn đầu t toàn xã hội.
Cho đến năm 2001 nguồn vốn tín dụng đầu t phát triển của Nhà nớc và
đầu t vào ngành công nghiệp trên 60% tổng vốn đầu t (gần 55% số dự án)
đã góp phần quan trọng vào việc chuyển dịch cơ cấu đầu t và cơ cấu kinh tế.
Nguồn vốn này có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể sự bao
cấp vốn trực tiếp của Nhà nớc. Với cơ chế tín dụng, các đơn vị sử dụng
nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay bên cạnh đó vốn
tín dụng đầu t của Nhà nớc còn phục vụ công tác quản lý và điều tiết kinh tế
vĩ mô.
Nguồn vốn đầu t từ doanh nghiệp Nhà nớc: Đợc xác định vào thành
phần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, các doanh nghiệp Nhà nớc vẫn
nắm giữ một khối lợng vốn Nhà nớc khá lớn. Tuy nhiên các doanh nghiệp
này, sự tồn tại và phát triển của chúng hoàn toàn phụ thuộc vào hoạt động
tài chính của bản thân chúng, hay nói cách khác sự sống còn của mọi doanh
nghiệp đều phụ thuộc vào hiệu quả của việc huy động vốn và sử dụng vốn.
Lý thuyết quỹ đầu t nội bộ cho rằng lợi nhuận sẽ làm tăng đầu t do đó các
doanh nghiệp Nhà nớc phải huy động nguồn này để gia tăng đầu t, mà
muốn huy động đợc nguồn này thì các doanh nghiệp Nhà nớc phải làm ăn
có lãi nghĩa là hoạt động phải có hiệu quả để đem lại lợi nhuận làm tăng
nguồn vốn tự có của doanh nghiệp sau đó tái đầu t .
ý nghĩa của việc vận dụng các lý thuyết về đầu t đã đợc thể hiện qua
tình hình huy động vốn của nguồn vốn này qua các thời kỳ cụ thể sau:
Trong giai đoạn 1991 - 1995 tốc độ tăng trởng bình quân của doanh nghiệp
Nhà nớc là 11,7% gấp 1,5 lần tốc độ tăng trởng của nền kinh tế. Trong giai
đoạn 1998 - 2001 tốc độ tăng trởng của doanh nghiệp Nhà nớc chậm lại nh-
ng vẫn chiếm khoảng 40% GDP của toàn bộ nền kinh tế, nộp ngân sách
chiếm 40% tổng thu của ngân sách Nhà nớc, tạo việc làm cho 1,9 triệu lao
động. Tỷ trọng nguồn vốn đầu t của các doanh nghiệp Nhà nớc có xu hớng
giảm nhanh trong tổng vốn đầu t của toàn xã hội từ 13,5% thời kỳ 1986 -
1990 xuống 2,5% thời kỳ 1991 - 1995 và 2% thời kỳ 1996 - 1997. Gần đây
nguồn vốn này đang có xu hớng tăng trở lại. Nguồn vốn này bao gồm khấu
hao cơ bản để lại, một phần lợi nhuận sau thuế để tích luỹ.
Về quy mô số lợng doanh nghiệp Nhà nớc trong thời gian qua có xu h-
ớng gia tăng. Tính đến cuối năm 1995 đợc ghi nhận là 6.480 trong đó số
doanh nghiệp có mức vốn dới 1 tỷ đồng và doanh nghiệp có số công nhân
dới 100 ngời đang giảm dần, trong khi đó doanh nghiệp có số vốn trên 1 tỷ
đồng và có số công nhân trên 500 ngời tăng lên. Số vốn của các doanh
13
nghiệp Nhà nớc đầu t trong năm 1995 là 2500 tỷ đồng (chỉ chiếm 32%
trong tổng số vốn của doanh nghiệp Nhà nớc).
Tổng số 1991 1992 1993 1994 1995
Doanh nghiệp Nhà nớc 88,25 78,2 7,1 63,2 58,1
Doanh nghiệp ngoài quốc
doanh
0,15 4,1 6,2 6,6 5,7
Doanh nghiệp có vốn đầu t
nớc ngoài
11,6 17,7 22,8 30,2 36,2
Tỷ trọng vốn của các loại hình doanh nghiệp (đơn vị %)
Nguồn vốn ngân sách tập trung hiện chỉ dới 10% tổng vốn đầu t xã hội
và phụ thuộc vào cân đối thu - chi ngân sách . trong điều kiện thu ngân sách
còn hạn hẹp ,dân c ầu t trực tiếp còn ít , thờng gửi ngân hàng .kênh đầu t
của ngân sách còn đang trầm lắng thì cần tăng tỉ lệ bội chi nân sách dành
cho đầu t ,phát hành công trái ,trái phiếu ,kỳ phiếu để đầu t cho đân c là cần
thiết.
Nguồn vốn ODA cũng là 1 nguồn vốn quan trọng . Vấn đề mấu chốt là
đẩy mạnh tiến độ giải ngân và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn này.
Nguồn vốn tín dụng , vốn ngoài quốc doanh vốn FDI cũng là những
nguồn vốn quan trọng.
2.1.2. Nguồn vốn từ khu vực t nhân.
Một nền kinh tế phát triển là đi với một thị trờng vốn phát triển, mạng
lới dịch vụ Ngân hàng hoàn hảo và tiện lợi, các nguồn lực xã hội đợc sử
dụng tối u và có hiệu quả. Đó là các công cụ để huy động một nguồn vốn
rất lớn, còn tồn tại trong dân, cha đợc huy động triệt để.
Nguồn vốn từ khu vực t nhân bao gồm: Phần tiết kiệm của dân c,tích
luỹ doanh nghiệp dân doanh, hợp tác xã.
Theo Adam Smith: Vốn đầu t là yếu tố quyết định chủ yếu số lao
đông hữu dụng và hiệu quả. Theo điều tra và đánh gì về giá trị vốn của các
loại hình doanh nghiệp t nhân:
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét