LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Giải pháp phát triển đa dạng hoá sản phẩm ở Công ty CP Dược và TBVTYT Bộ GTVT TRAPHACO": http://123doc.vn/document/556533-giai-phap-phat-trien-da-dang-hoa-san-pham-o-cong-ty-cp-duoc-va-tbvtyt-bo-gtvt-traphaco.htm
ở mức độ thứ năm là sản phẩm tiềm ẩn, tức là những sự hoàn thiện và biến
đổi mà sản phẩm đó cuối cùng có thể nhận đợc trong tơng lai. Trong khi sản
phẩm hoàn thiện thể hiện những gì đã đợc đa vào sản phẩm ngày hôm nay thì sản
phẩm tiềm ẩn lại chỉ nêu ra hớng phát triển khả dĩ của nó. Đây chính là nơi các
công ty tìm kiếm tích cực những cách thức mới để thoả mãn khách hàng và tạo sự
khác biệt cho sản phẩm của mình. Sự xuất hiện của một số khách sạn thợng hạng
mà ở đó khách có thể ở nhiều phòng là một sự đổi mới khách sạn truyền thống.
Một số công ty đã bổ sung cho sản phẩm của mình những ích lợi không
những thoả mãn mà còn làm cho khách hàng vui lòng bằng cách mang đến những
sự ngạc nhiên bất ngờ cho họ khi tiêu dùng sản phẩm của công ty mình
1.4. Danh mục sản phẩm :
Một danh mục sản phẩm là tập hợp tất cả những loại sản phẩm và mặt hàng
mà một ngời bán cụ thể đa ra để bán cho ngời mua. Danh mục sản phẩm của một
công ty sẽ có chiều rộng, chiều dài, chiều sâu và một mật độ nhất định
Chiều rộng danh mục sản phẩm thể hiện công ty có bao nhiêu loại sản phẩm
khác nhau.
Chiều dài danh mục sản phẩm là tổng số mặt hàng của công ty .
Chiều sâu danh mục thể hiện có bao nhiêu phơng án của mỗi sản phẩm
trong một loại.
Mật độ của danh mục sản phẩm thể hiện mối quan hệ mật thiết đến mức độ
nào giữa các loại sản phẩm khác nhau xét theo cách sử dụng cuối cùng, thiết bị
sản xuất hay kênh phân phối nào khác.
Bốn chiều này của danh mục sản phẩm tạo nên những căn cứ để xây dựng
chiến lợc sản phẩm của công ty. Công ty có thể khuyếch trơng doanh nghiệp của
mình theo nhiều cách. Công ty có thể mở rộng danh mục sản phẩm bằng cách bổ
sung những sản phẩm mới. Công ty có thể kéo dài từng loại sản phẩm. Công ty có
thể bổ sung thêm các phơng án sản phẩm cho từng sản phẩm và tăng chiều sâu
của danh mục. Cuối cùng công ty có thể tiếp tục tăng hay giảm mật độ của loại
sản phẩm tùy theo ý đồ của công ty muốn có uy tín vững chắc trong một lĩnh vực
hay tham gia vào nhiều lĩnh vực.
Việc lập kế hoạch danh mục sản phẩm chủ yếu tùy thuộc vào trách nhiệm
của những ngời hoạch định chiến lợc của công ty căn cứ vào những thông tin do
ngời làm công tác marketing của công ty cung cấp. Họ phải đánh giá những loại
sản phẩm cần phát triển, cần duy trì, cần thu hoạch và cần loại bỏ.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 9 - trần ngọc vân
khoa qtkd cn & xdcb trờng đhktqd
2. Đa dạng hoá sản phẩm và sự cần thiết của đa dạng hoá sản phẩm
trong doanh nghiệp công nghiệp :
2.1. Thực chất của đa dạng hoá sản phẩm:
Trong hệ thống mục tiêu kinh tế - xã hội của mỗi doanh nghiệp có hai mục
tiêu đợc coi là cơ bản, tạo tiền đề cho các mục tiêu khác đó là việc tạo ra sản
phẩm với chất lợng cao phù hợp với nhu cầu của thị trờng và xã hội và việc đạt
đợc lợi nhuận tối đa sau mỗi chu kỳ kinh doanh trên cơ sở nâng cao hiệu quả của
các hoạt động sản xuất kinh doanh. Để thực hiện có hiệu quả hệ thống mục tiêu
kinh tế-xã hội nói chung và hai mục tiêu nói riêng mỗi doanh nghiệp phải xác
định đợc cơ cấu sản phẩm hợp lý của mình. Tính hợp lý của mỗi cơ cấu sản phẩm
chỉ thích ứng với những điều kiện nhất định trong mỗi kỳ kinh doanh do đó khi
những điều kiện ấy có sự thay đổi thì cơ cấu sản phẩm cũng phải thay đổi để đạt
tính hợp lý mới điều đó có nghĩa là cơ cấu sản phẩm của công ty phải mang tính "
động " để thích ứng với nền kinh tế thị trờng cạnh tranh sôi động.
Sự hoàn thiện và đổi mới cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp đợc thực hiện
theo nhiều cách khác nhau nh :
- Thu hẹp danh mục sản phẩm bằng cách loại bỏ những sản phẩm lỗi thời,
những sản phẩm kém sức cạnh tranh và những sản phẩm không có khả năng tạo
ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Giữ nguyên chủng loại sản phẩm đang sản xuất nhng cải tiến, hoàn thiện
những sản phẩm ấy về hình thức, về nội dung, tạo thêm nhiều kiểu dáng và thế hệ
sản phẩm mới .
- Bổ sung thêm vào danh mục sản phẩm những sản phẩm mới phù hợp với
nhu cầu thị trờng và xu hớng phát triển của khoa học, công nghệ.
- Chuyển hoá vị trí các sản phẩm trong cơ cấu sản phẩm của doanh nghiệp,
đa những sản phẩm ở vị trí hàng thứ lên vị trí hàng đầu hoặc ngợc lại bằng cách
thay đổi định lợng sản xuất mỗi loại.
Trong thực tế, các hớng trên đây đợc thực hiện xen kẽ lẫn nhau. Nếu cơ cấu
sản phẩm của doanh nghiệp thay đổi theo hớng thu hẹp lại, đảm bảo sự tập trung
cao hơn về sản xuất thì doanh nghiệp phát triển theo hớng chuyên môn hoá. Ngợc
lại cơ cấu sản phẩm đợc mở rộng ra, doanh nghiệp phát triển theo hớng đa dạng
hoá Trong những thời kì nhất định và trên một thị trờng nhất định doanh nghiệp
có thể thực hiện đa dạng hoá thông qua hình thức cải tiến , hoàn thiện sản phẩm
đã có hoặc là đa ra những sản phẩm mới hoàn toàn có thể cùng loại hoặc khác
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 10 - trần ngọc vân
khoa qtkd cn & xdcb trờng đhktqd
biệt so với những sản phẩm cũ nhng doanh nghiệp cũng có thể kết hợp cả hai
hình thức trên nhằm thỏa mãn đáp ứng cao nhất nhu cầu của thị trờng.
Nh vậy đa dạng hoá sản phẩm của doanh nghiệp là việc mở rộng danh mục
sản phẩm, nó gắn liền với quá trình đổi mới và hoàn thiện cơ cấu sản phẩm, nhằm
đảm bảo doanh nghiệp thích ứng đợc với sự biến động của môi trờng kinh doanh.
Đa dạng hoá sản phẩm là một nội dung cụ thể của đa dạng hoá sản xuất và
đa dạng hoá kinh doanh công nghiệp. Khi thực hiện đa dạng hoá sản phẩm,
doanh nghiệp chỉ mở rộng danh mục các sản phẩm công nghiệp của mình, nghĩa
là hoạt động của doanh nghiệp vẫn chỉ giới hạn trong lĩnh vực sản xuất công
nghiệp. Khi thực hiện đa dạng hoá sản xuất, thì ngoài lĩnh vực truyền thống là
sản xuất công nghiệp, doanh nghiệp còn có thể thâm nhập sang các lĩnh vực sản
xuất khác. Chẳng hạn, thâm nhập sang các lĩnh vực sản xuất công nghiệp không
phải truyền thống, sang lĩnh vực nông, lâm, ng nghiệp, xây dựng cơ bản Còn khi
thực hiện đa dạng hoá kinh doanh ( hay kinh doanh tổng hợp ) doanh nghiệp có
thể phát triển sang cả lĩnh vực thơng mại, dịch vụ
Mối quan hệ giữa đa dạng hoá sản phẩm và kế hoạch hoá sản xuất - kinh
doanh đợc thể hiện ở chỗ khi xác định phơng án đa dạng hoá sản phẩm đòi hỏi
doanh nghiệp phải xác định rõ chủng loại sản phẩm, khối lợng sản phẩm của mỗi
loại, thị trờng tiêu thụ, khả năng đảm bảo các yếu tố đầu vào, khả năng huy động
vốn đầu t và dự kiến lợi nhuận sẽ đạt đợc.
Đa dạng hoá sản phẩm là một khuynh hớng phát triển ngày càng phổ biến
trong các doanh nghiệp công nghiệp. Các tổ chức kinh tế lớn nh tập đoàn kinh
doanh thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, kinh doanh đa ngành và đa lĩnh vực hoạt
động. Số lợng và chủng loại hàng hoá lu thông trên thị trờng thực chất cũng là
một chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển của mỗi doanh nghiệp cũng nh của nền
kinh tế nói chung. Nhiều doanh nghiệp độc lập với các quy mô khác nhau cũng
thực hiện đa dạng hoá sản phẩm và trong thực tế việc thực hiện đa dạng hoá sản
phẩm đã không những giúp doanh nghiệp đạt đợc các mục tiêu kinh tế và phi
kinh tế nh lợi nhuận hay thế lực trên thị trờng mà còn đóng góp rất lớn vào sự
phát triển của toàn xã hội nhờ tạo ra nhiều loại hàng hoá mang lại lợi ích và thỏa
mãn tốt nhất nhu cầu của ngời tiêu dùng.
2.2. Sự cần thiết phải đa dạng hoá :
2.2.1. Nhu cầu thị tr ờng ngày càng phong phú, đa dạng và th ờng xuyên biến đổi :
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 11 - trần ngọc vân
khoa qtkd cn & xdcb trờng đhktqd
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trờng, đời sống xã hội
cũng ngày càng đợc nâng cao về nhiều mặt. Trong cuộc sống ngày nay, nhu cầu
của con ngời không chỉ bó gọn ở mức độ thấp nh có ăn, có mặc mà phải là ăn
ngon mặc đẹp ngoài ra còn có nhu cầu vui chơi, giải trí, nhu cầu thẩm mĩ rất cao.
Nh vậy so với trớc kia trong thời kì kế hoạch hoá tập trung tự cung tự cấp, nhu
cầu thị trờng mang tính cứng nhắc và bị áp đặt bởi chính các yếu tố cung, giờ đây
nhu cầu mới là nhân tố thực sự quyết định sự vận động của thị trờng. Các sản
phẩm không thể đáp ứng đợc nhu cầu của thị trờng khi chúng chỉ mang " ích lợi
cốt lõi " đơn thuần mà còn phải mang tính thẩm mĩ, sự tiện nghi và phong phú về
chủng loại. Việc một loại sản phẩm có cùng giá trị sử dụng nhng có thêm một số
đặc tính khác để thoả mãn từng đoạn thị trờng nhất định chính là một biểu hiện
của hoạt động đa dạng hoá sản phẩm. Đa dạng hoá sản phẩm tạo ra nhiều mặt
hàng mới phong phú với chất lợng cao tăng phơng án sản phẩm để ngời tiêu dùng
có nhiều cơ hội lựa chọn. Theo quy luật tất yếu, thị trờng luôn vận động và biến
đổi không ngừng làm nảy sinh những nhu cầu mới cao hơn, phong phú hơn tạo ra
những thách thức và cũng đồng thời mang đến những cơ hội kinh doanh cho
doanh nghiệp. Trong môi trờng kinh doanh sôi động mà ngời thành công là ngời
biết " nắm lấy các cơ hội ", doanh nghiệp phải luôn bám sát các diễn biến của
quan hệ cung cầu trên thị trờng, xây dựng cơ cấu sản phẩm tối u thich ứng với sự
linh hoạt của thị trờng. Thực tế cho thấy hiện nay các doanh nghiệp luôn cố gắng
làm mới và mở rộng danh mục sản phẩm của mình dựa trên sự hoàn thiện không
ngừng các sản phẩm hiện có song song với việc đa vào sản xuất những mặt hàng
mới đón đầu nhu cầu thị trờng, tạo thế chủ động của doanh nghiệp trên thơng tr-
ờng. Sự phong phú và biến đổi không ngừng của thị trờng đã đòi hỏi các doanh
nghiệp phải năng động sáng tạo trong việc tạo ra một cơ cấu sản phẩm " động "
thông qua hoạt động đa dạng hoá sản phẩm mới có thể tồn tại và phát triển trong
sự cạnh tranh khốc liệt " thơng trờng là chiến trờng ".
2.2.2. Do tiến bộ của khoa học công nghệ nên chu kỳ sống của sản phẩm bị rút ngắn
Ngày nay cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang diễn ra với tốc độ
nhanh nh vũ bão. Một khối lợng đồ sộ các phát minh sáng chế ra đời đã tạo ra
ngày càng nhiều công nghệ, máy móc thiết bị, nguyên liệu mới. Điều đặc biệt là
hàm lợng tri thức hay tỷ trọng phần mềm trong các công nghệ mới này là rất lớn
chính vì vậy thời gian tồn tại của các công nghệ này rất ngắn và điều này cũng
đồng nghĩa với việc sản phẩm của doanh nghiệp bị đào thải nhanh hơn. Chu kỳ
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 12 - trần ngọc vân
khoa qtkd cn & xdcb trờng đhktqd
sống của một sản phẩm đợc chia ra 4 pha: bắt đầu, phát triển, bão hoà, suy thoái.
Các thành tựu khoa học công nghệ đợc áp dụng ngày càng rộng rãi vào sản xuất
làm cho giai đoạn bão hoà và suy thoái của một sản phẩm đến nhanh hơn. Sự lạc
hậu nhanh chóng của công nghệ và sản phẩm không cho phép doanh nghiệp tự
hài lòng với những gì hiện có mà phải tranh thủ nắm bắt kịp thời những thành tựu
mới nhất của khoa học công nghệ và sử dụng những thành tựu ấy nh một lợi thế
cạnh tranh. Vì vậy doanh nghiệp phải luôn xem xét, đánh giá sản phẩm đang ở
giai đoạn nào trong chu kỳ sống nếu đang ở giai đoạn bão hoà doanh nghiệp sẽ
tìm cách cải tiến sản phẩm đó để kéo dài tuổi thọ của sản phẩm hoặc chuẩn bị
nghiên cứu sản xuất sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu phong phú của thị trờng. Sự
xuất hiện của các ngành công nghệ mới vừa tạo điều kiện vừa thúc đẩy doanh
nghiệp tạo ra nhiều sản phẩm mới, thực hiện đa dạng hoá sản phẩm nh một phơng
thức phát triển của doanh nghiệp.
2.2.3. Xu h ớng chuyên môn hoá kết hợp với đa dạng hoá trong sản xuất kinh doanh :
Việc nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa chuyên môn hoá và đa dạng hoá
sản phẩm của doanh nghiệp công nghiệp là cơ sở để xác định đúng đắn con đờng,
phơng hớng và điều kiện phát triển các hình thức tổ chức sản xuất tơng ứng.
Về hình thức, khi mức độ đa dạng hoá sản phẩm càng cao trình độ chuyên
môn hoá sản xuất của doanh nghiệp càng thấp nhng xét về nội dung đó không
phải là hai quá trình độc lập mà có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau.
Thứ nhất, bản thân sản phẩm chuyên môn hoá của doanh nghiệp cũng phải
đợc hoàn thiện, cải tiến về hình thức và nội dung, tăng thêm kiểu cách, mẫu mã
để đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trờng. Theo nội dung này, sản phẩm chuyên
môn hoá của doanh nghiệp đợc đa dạng theo hình thức biến đổi chủng loại.
Thứ hai, với nhiều doanh nghiệp việc thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn
hoá thờng không sử dụng hết các nguồn lực sẵn có. Bởi vậy trong khi coi nâng
cao một cách hợp lý trình độ chuyên môn hoá là phơng hớng chủ đạo của phát
triển doanh nghiệp, doanh nghiệp vẫn cần mở rộng danh mục sản phẩm để tận
dụng các nguồn lực sản xuất. Với nội dung này, đa dạng hoá sản phẩm tạo thành
" tuyến sản phẩm " hỗ trợ quan trọng cho phát triển chuyên môn hoá.
Thứ ba, có rất nhiều phơng thức thực hiện đa dạng hoá sản phẩm nhng đa
dạng hóa sản phẩm dựa trên cơ sở nền tảng các điều kiện vật chất kĩ thuật của
chuyên môn hoá ban đầu mang lại, sẽ giảm bớt đợc nhu cầu đầu t. Đây chính là
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 13 - trần ngọc vân
khoa qtkd cn & xdcb trờng đhktqd
ràng buộc của chuyên môn hoá đến việc thực hiện đa dạng hoá sản phẩm của
doanh nghiệp.
Nh vậy, để xây dựng cơ cấu sản phẩm động mang tính linh hoạt thì bản thân
sản phẩm chuyên môn hoá của doanh nghiệp cũng phải đợc đa dạng hoá và đây
đợc coi là xu hớng tất yếu đảm bảo cho doanh nghiệp đứng vững trong môi trờng
kinh doanh thiên biến vạn hoá.
2.2.4. Phân tán rủi ro, đảm bảo an toàn trong kinh doanh :
Mục tiêu chính của các doanh nghiệp khi tiến hành sản xuất kinh doanh là
lợi nhuận nhng trong nền kinh tế thị trờng cạnh tranh khốc liệt, sự thành công
của doanh nghiệp bị đe dọa bởi rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan. Một cơ
hội kinh doanh có khả năng thu lợi càng lớn thì mức độ rủi ro kinh doanh xảy ra
đối với doanh nghiệp càng cao. Các nguyên nhân gây ra rủi ro có thể đến từ các
yếu tố nội tại của doanh nghiệp nh máy móc thiết bị không đồng bộ, công nghệ
lạc hậu, thiếu vốn hay từ môi trờng kinh doanh nh sự thay đổi đột ngột nhu cầu,
chính sách kinh tế của nhà nớc, thiên tai Rủi ro kinh doanh xảy ra có thể gây
thiệt hại rất lớn cho doanh nghiệp về nhiều mặt vì vậy khi xây dựng các phơng án
kinh doanh, doanh nghiệp rất quan tâm đến việc ngăn ngừa rủi ro đảm bảo độ an
toàn cao nhất cho doanh nghiệp. Một trong những biện pháp giúp doanh nghiệp
giảm thiểu những rủi ro là thực hiện đa dạng hoá sản phẩm để tạo ra các tuyến
sản phẩm với nhiều thang, dòng bổ sung lẫn nhau thay vì chỉ tập trung sản xuất
một sản phẩm khi các yếu tố khách quan biến động có thể dẫn đến sự phá sản của
doanh nghiệp.
2.2.5. Đa dạng hoá góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự
phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực đó
trong quá trình tái sản xuất nhằm đạt đợc các mục tiêu kinh doanh. Một hiện tợng
có tính phổ biến tồn tại trong các doanh nghiệp hiện nay là các nguồn lực không
đợc tận dụng hết mức sản xuất thực tế mà thờng nằm dới đờng giới hạn khả năng
sản xuất. Sự lãng phí nguồn lực có thể do: đầu t không đúng mục đích, đọng vốn
lớn, không sử dụng hết công suất thiết bị máy móc hay không tận dụng hết chất
có ích của nguyên liệu Việc đa dạng hoá sản phẩm trên cơ sở các nguồn lực sẵn
có cho phép doanh nghiệp tăng năng lực sản xuất, đạt đợc lợi nhuận tối đa ngoài
ra còn tăng thêm thu nhập cho ngời lao động, giải quyết việc làm và các mục tiêu
xã hội khác.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 14 - trần ngọc vân
khoa qtkd cn & xdcb trờng đhktqd
Tóm lại, thực hiện đa dạng hóa sản phẩm đợc coi là một xu hớng tất yếu
khách quan đối với các doanh nghiệp công nghiệp giúp doanh nghiệp tồn tại, phát
triển vững chắc trong nền kinh tế thị trờng hiện hay.
II. Các hình thức đa dạng hoá và các nhân tố ảnh h ởng đến đa dạng hoá sản
phẩm :
1. Các hình thức đa dạng hoá sản phẩm :
Trong quá trình mở rộng kinh doanh các doanh nghiệp có thể thực hiện đa
dạng hoá sản phẩm với những hình thức khác nhau. Sau đây là một số cách phân
loại đa dạng hoá sản phẩm.
1.1. Xét theo sự biến đổi danh mục sản phẩm : có các hình thức đa dạng hoá sau
đây:
1.1.1. Biến đổi chủng loại :
Đó là quá trình hoàn thiện và cải tiến các loại sản phẩm đang sản xuất đang
sản xuất để giữ vững thị trờng hiện tại và thâm nhập vào thị trờng mới, nhờ sự đa
dạng về kiểu cách, cấp độ hoàn thiện của sản phẩm thoả mãn thị hiếu, điều kiện
sử dụng và khả năng thanh toán của những khách hàng khác nhau. Sự hoàn thiện
ấy có thể thuần tuý về hình thức sản phẩm ( kiểu dáng, mẫu mã ) hoặc về nội
dung sản phẩm ( chất lợng, cấp độ hoàn thiện về kỹ thuật ) hoặc cả về hình thức
và nội dung sản phẩm.
1.1.2. Đổi mới chủng loại:
Loại bỏ những sản phẩm lỗi thời, những sản phẩm khó tiêu thụ và bổ sung
những sản phẩm mới vào danh mục sản phẩm của doanh nghiệp. Những sản
phẩm đợc bổ sung này có thể là sản phẩm mới tuyệt đối ( đối với doanh nghiệp
và với thị trờng ) hoặc sản phẩm mới tơng đối ( mới với doanh nghiệp nhng
không mới với thị trờng ).
Việc thực hiện hình thức đa dạng hoá sản phẩm này gắn liền với việc doanh
nghiệp rời bỏ một số thị trờng cũ và gia nhập những thị trờng mới.
1.1.3. Hình thức hỗn hợp:
Kết hợp một số nội dung của hình thức thứ nhất và thứ hai vừa nêu. Nghĩa là
doanh nghiệp vừa cải tiến, hoàn thiện một số sản phẩm đang sản xuất, vừa loại bỏ
những sản phẩm không sinh lợi, vừa bổ sung những sản phẩm mới vào danh mục
sản phẩm của mình.
1.2. Xét theo tính chất của nhu cầu sản phẩm:
1.2.1. Đa dạng hoá theo chiều sâu nhu cầu mỗi loại sản phẩm:
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 15 - trần ngọc vân
khoa qtkd cn & xdcb trờng đhktqd
Đó là việc tăng thêm kiểu cách, mẫu mã của cùng một loại sản phẩm để đáp
ứng toàn diện nhu cầu của các đối tợng khác nhau về cùng một loại sản phẩm. Ví
dụ nh doanh nghiệp sản xuất kem đánh răng có thể có kem đánh răng chống sâu
răng cho trẻ em, kem đánh răng muối
Việc thực hiện hình thức đa dạng hoá sản phẩm này gắn liền với việc phân
đoạn thị trờng sản phẩm.
1.2.2. Đa dạng hoá theo bề rộng nhu cầu các loại sản phẩm: thể hiện ở việc doanh
nghiệp chế tạo một số sản phẩm có kết cấu, công nghệ sản xuất và giá trị sử dụng
cụ thể khác nhau, để thoả mãn đồng bộ một số nhu cầu có liên quan với nhau của
một đối tợng tiêu dùng. Ví dụ nh doanh nghiệp không chỉ sản xuất kem đánh
răng mà còn sản xuất bàn chải đánh răng. Việc thực hiện hình thức đa dạng hoá
sản phẩm này đòi hỏi doanh nghiệp phải có tiềm lực lớn về tài chính, công nghệ
để xây dựng doanh nghiệp quy mô lớn, cơ cấu sản xuất phức tạp.
1.2.3. Đa dạng hoá theo h ớng thoát ly sản phẩm gốc, đ a sản phẩm mới vào danh mục
của doanh nghiệp:
Nếu hai hình thức đa dạng hoá sản phẩm nêu trên vẫn lấy một loại sản phẩm
chuyên môn hoá ban đầu làm cơ sở để mở rộng danh mục sản phẩm của doanh
nghiệp thì ở hình thức này sản phẩm đợc mở rộng không có liên quan đến sản
phẩm chuyên môn hoá ban đầu cả về giá trị sử dụng và công nghệ sản xuất.
1.3. Xét theo mối quan hệ với sử dụng nguyên liệu chế tạo sản phẩm:
1.3.1. Sản xuất những sản phẩm có giá trị sử dụng khác nhau nhng có chung
chủng loại nguyên liệu gốc. Ví dụ, nhà máy sứ vừa sản xuất sứ dân dụng, sứ mỹ
nghệ, sứ điện, vừa sản xuất sứ vệ sinh. Các sản phẩm này có giá trị sử dụng khác
nhau nhng đều sử dụng cao lanh và các loại men xơng làm nguyên liệu chính.
1.3.2. Sử dụng tổng hợp các chất có ích chứa đựng trong một loại nguyên liệu để
sản xuất một số loại sản phẩm coa giá trị sử dụng khác nhau. Chẳng hạn trong
công nghiệp mía đờng, ngời ta sử dụng không những tổng hợp cây mía để sản
xuất ra đờng mà còn để sản xuất ra cồn công nghiệp, ván ép
1.4. Xét theo phơng thức thực hiện :
1.4.1. Đa dạng hoá sản phẩm trên cơ sở các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp :
Bằng việc áp dụng hình thức này, doanh nghiệp có thể tiết kiệm đợc đầu t,
giảm bớt thiệt hại do rủi ro khi thực hiện đa dạng hoá sản phẩm, tận dụng đợc
khả năng sản xuất hiện có. Tuy nhiên sự tận dụng này lại hạn chế khả năng mở
rộng danh mục sản phẩm của doanh nghiệp.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 16 - trần ngọc vân
khoa qtkd cn & xdcb trờng đhktqd
1.4.2. Đa dạng hoá sản phẩm trên cơ sở nguồn lực hiện có kết hợp với đầu t bổ sung :
Nghĩa là việc mở rộng danh mục sản phẩm đòi hỏi phải có đầu t, nhng đầu t
này chỉ giữ vị trí bổ sung nhằm khắc phục khâu yếu hoặc khâu sản xuất mà
doanh nghiệp còn thiếu. So với hình thức trên, khả năng mở rộng danh mục sản
phẩm của doanh nghiệp đợc nâng cao hơn
1.4.3. Đa dạng hoá sản phẩm bằng đầu t mới :
Hình thức này thờng đợc áp dụng khi doanh nghiệp đang triển khai sản xuất
những sản phẩm mới, mà khả năng sản xuất hiện tại không thể đáp ứng đợc.
Trong trờng hợp này nhu cầu đầu t thờng lớn và xác suất rủi ro sẽ cao hơn, nhng
khả năng sản xuất đợc mở rộng hơn.
Tóm lại, từ các hình thức đa dạng hoá sản phẩm nêu trên ta thấy, trong phạm
vi hoạt động sản xuất-kinh doanh của mỗi doanh nghiệp có thể có nhiều hình
thức đa dạng hoá sản phẩm, các hình thức này đan xen cùng tồn tại và bổ sung
cho nhau, u điểm của mỗi hình thức đa dạng hoá sản phẩm chỉ đợc thể hiện khi
doanh nghiệp bảo đảm cho nó những điều kiện thích hợp mà hình thức này đòi
hỏi. Dù áp dụng một hay nhiều hình thức đa dạng hoá sản phẩm thì cũng làm cho
danh mục sản phẩm của mỗi doanh nghiệp đợc mở rộng, cơ cấu sản phẩm trở nên
phức tạp hơn và mỗi doanh nghiệp sẽ có thêm nhiều thang, dòng và mặt hàng sản
phẩm.
2. Các nhân tố ảnh hởng đến đa dạng hoá sản phẩm:
2.1. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp:
2.1.1. Nhu cầu thị tr ờng :
Trong điều kiện cơ chế thị trờng, mỗi doanh nghiệp phải bám sát nhu cầu
của thị trờng và đa ra thị trờng những sản phẩm và dịch vụ mà thị trờng cần. Việc
điều tra phân tích nhu cầu thị trờng phải đợc coi là một trong những công tác
quan trọng hàng đầu trong quản lý doanh nghiệp và quản lý ngành công nghiệp.
Trong chiến lợc đa dạng hoá sản phẩm của doanh nghiệp, yếu tố quan trọng và có
ảnh hởng lớn nhất đến phơng hớng và mức độ đa dạng hoá chính là nhu cầu thị
trờng.
- Kiểu cách mẫu mã, kích cỡ mỗi loại sản phẩm mà thị trờng đòi hỏi. Việc
phân khúc nhu cầu thị trờng có ý nghĩa quan trọng trong việc phân tích nhu cầu
thị trờng về mỗi loại sản phẩm. Vì vậy để cung cấp một hàng hoá, dịch vụ với
một số lợng, chất lợng, giá cả, thời gian cung ứng cụ thể theo đúng yêu cầu của
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 17 - trần ngọc vân
khoa qtkd cn & xdcb trờng đhktqd
khách hàng thì việc xác định đúng phân đoạn thị trờng sẽ quyết định sự thành
công của doanh nghiệp.
- Nhu cầu sản phẩm có liên quan đến ngời tiêu dùng, nghĩa là phân tích bề
rộng nhu cầu các sản phẩm. Để xác định phơng hớng đa dạng hoá sản phẩm cũng
cần phải xem xét điều kiện để sản xuất các sản phẩm, kết cấu và tính chất sản
phẩm.
- Các loại sản phẩm có thể thay thế. Việc nghiên cứu phân tích này nhằm
hạn chế rủi ro trong khi phát triển đa dạng hoá sản phẩm.
- Sự vận động của sản phẩm trong chu kỳ sống của nó. Việc đa dạng hoá nếu
nhằm vào sản phẩm đang ở pha suy thoái thì sẽ làm tăng rủi ro kinh doanh.
- Đối với các doanh nghiệp thực hiện đa dạng hoá bằng sản phẩm không mới
đích thực ( đã có trên thị trờng ) thì một việc làm không thể thiếu là phải xem xét
đánh giá phần thị trờng còn lại của một sản phẩm mà doanh nghiệp có thể xâm
nhập.
Nhu cầu TT = Dung lợng _ Phần TT mà các DN khác
về SP của DN thị trờng có khả năng cung ứng
Tóm lại việc nghiên cứu, phân tích sự ảnh hởng của nhân tố chủng loại và
dung lợng nhu cầu trên thị tròng để xác định phơng hớng và mức độ đa dạng hoá
sản phẩm không chỉ ở mặt lợng mà còn ở cả tính chất, nhu cầu và quan hệ với các
sản phẩm liên quan khác.
2.1.2. Bản quyền công nghiệp:
Một thực tế hiện nay là các doanh nghiệp đầu t rất lớn cho hoạt động nghiên
cứu phát triển sản phẩm mới nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ nh-
ng sản phẩm của họ nhiều khi không mang lại lợi nhuận nh mong muốn. Nguyên
nhân chủ yếu là các đối thủ cạnh tranh thông qua các kênh thông tin khác nhau
có thể sao chép và nhái lại sản phẩm của doanh nghiệp một cách nhanh chóng khi
doanh nghiệp còn cha thu hồi vốn đầu t.
Vấn đề bản quyền công nghiệp có ảnh hởng rất lớn đến hoạt động đa dạng
hoá của công ty vì hầu hết các công ty đều thực hiện đa dạng hoá sản phẩm mới
với công ty nhng không mới với thị trờng. Bản quyền công nghiệp xác nhận
quyền sở hữu của một doanh nghiệp đối với nhãn hiệu, bí quyết công nghệ của
một sản phẩm. Vì vậy khi xây dựng chiến lợc đa dạng hoá công ty phải hết sức
quan tâm đến vấn đề này nhằm bảo vệ chính sản phẩm và uy tín của mình và
tránh vi phạm bản quyền công nghiệp.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp - 18 - trần ngọc vân
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét