LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "các giải pháp hạ giá thành sản phẩm để nâng cao lợi nhuận tại xí nghiệp cơ điện - vật tư": http://123doc.vn/document/1053107-cac-giai-phap-ha-gia-thanh-san-pham-de-nang-cao-loi-nhuan-tai-xi-nghiep-co-dien-vat-tu.htm
Chơng I: Những vấn đề cơ bản về lợi nhuận
và giá thành sản phẩm
I. lợi nhuận của doanh nghiệp
1. Khái niệm
Trong các doanh nghiệp, tồn tại dới mọi hình thức sở hữu khác nhau
mục tiêu cuối cùng của họ là tối đa hoá giá trị tài sản cho các chủ sở hữu. Để
đạt đợc mục tiêu đó thì tối đa hoá lợi nhuận giữ một vai trò quan trọng.
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của doanh nghiệp, là chỉ tiêu
chất lợng đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp.
*Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập
và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt đợc thu nhập đó từ các hoạt động đó
của doanh nghiệp đa lại.
Khái niệm lợi nhuận trên bao hàm hai nghĩa là lợi nhuận lợi nhuận trớc
thuế và lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp.
-Lợi nhuận trớc thuế của doanh nghiệp bao gồm lợi nhuận từ hoạt động
kinh doanh, lợi nhuận từ hoạt động tài chính và lợi nhuận từ hoạt động bất th-
ờng.
+Lợi nhuận trớc thuế từ hoạt động kinh doanh là khoản tiền chênh lệch
giữa tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ và chi phí hoạt động
kinh doanh.
+Lợi nhuận trớc thuế từ hoạt động tài chính là chênh lệch giữa doanh
thu hoạt động tài chính và chi phí hoạt động tài chính.
+Lợi nhuận trớc thuế từ hoạt động bất thờng là chênh lệch giữa doanh
thu hoạt động bất thờng và chi phí hoạt động bất thờng.
Lợi nhuận trớc thuế từ các hoạt động là tổng số lợi nhuận trớc thuế của
doanh nghiệp. Lợi nhuận trớc thuế là cơ sở để tính thuế thu nhập doanh
nghiệp.
-Lợi nhuận sau thuế (thu nhập sau thuế) của doanh nghiệp.
Lợi nhuận sau thuế là chênh lệch giữa lợi nhuận trớc lợi nhuận trớc thuế
của và thuế thu nhâp doanh nghiệp.
7
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hậu-TC41D
Thuế
TNDN
= Lợi nhuận
trớc thuế
x Thuế suất
thuế
TNDN
Lợi nhuận
sau thuế
= Lợi nhuận
trớc thuế
Thuế
TNDN
2. Tỉ suất lợi nhuận
Trong nền kinh tế thị trờng, doanh nghiệp có tồn tại và phát triển đợc
hay không phụ thuộc rất lớn vào việc doanh nghiệp có tạo ra đợc lợi nhuận
hay không. Nhng nếu chỉ xét chỉ tiêu lợi nhuận để đánh giá khách quan hoạt
động của doanh nghiệp là cha đủ. Bởi vì hiệu quả kinh tế tăng thì bao gồm lợi
nhuận tăng, nhng lợi nhuận tăng thì cha chắc đã có hiệu quả kinh tế. Ví dụ để
tăng lợi nhuận gấp 2 mà tăng chi phí vốn lên gấp 10 lần là không hiệu quả. Do
vậy, việc đánh giá chất lợng hoạt động của các doanh nghiệp ngời ta phải kết
hợp chỉ tiêu lợi nhuận với các chỉ tiêu về tỉ suất lợi nhuận nh tỷ suất lợi nhuận/
doanh thu, tỷ suất lợi nhuận/ vốn chủ sở hữu, tỷ suất lợi nhuận/ tài sản, tỷ suất
lợi nhuận/ giá thành
Một số chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận
+
kỳtrong dụng sử vốnsố Tổng
kỳtrong nhuậnLợi
vốn nhuậnlợisuất Tỷ =
Tỷ suất này nói lên trình độ sử dụng tài sản vật t, tiền tệ của doanh
nghiệp. Thông qua đó kích thích doanh nghiệp tìm những khả năng tiềm tàng,
quản lý và sử dụng vốn đạt hiệu quả cao. Nó cho biết một đồng vốn sẽ mang
lại mấy đồng lợi nhuận.
+ Tỷ suất lợi nhuận giá thành là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận tiêu thụ so
với giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hoá tiêu thụ.
bộ toàn thành Giá
nhuậnLợi
thành giá nhuậnlợisuất Tỷ =
Qua đây cho biết hiệu quả của chi phí bỏ vào sản xuất, tiêu thụ một đơn
vị sản phẩm.
+ Tỷ suất lợi nhuận doanh thu bán hàng là một chỉ số tổng hợp phản
ánh kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
thu Doanh
nhuậnLợi
thu doanh nhuậnlợisuất Tỷ =
8
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hậu-TC41D
Tỷ suất này nếu thấp hơn tỷ suất chung của toàn ngành cho thấy hoặc
doanh nghiệp bán hàng với giá thấp hơn hoặc giá thành sản phẩm của doanh
nghiệp cao so với các ngành khác.
3. Các nhân tố ảnh hởng tới lợi nhuận
*Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng. Nó chịu ảnh hởng bởi nhiều
nhân tố, có những nhân tố thuộc về chủ quan, có những nhân tố thuộc khách
quan và có sự bù trừ lẫn nhau. Các nhân tố chủ quan và khách quan ràng buộc
nhau và không tách rời. Ví dụ giá bán sản phẩm là nhân tố chủ quan, doanh
nghiệp quyết định trên cơ sở chi phí bỏ ra và lợi nhuận mong muốn. Nhng nếu
trên thị trờng giá bán thấp buộc doanh nghiệp phải hạ giá cá biệt của mình và
ngợc lại.
*Lợi nhuận phụ thuộc điều kiện sản xuất kinh doanh, điều kiện giao
thông, vận chuyển hàng, thị trờng tiêu thụ sản phẩm, thời điểm tiêu thụ khác
nhau làm cho lợi nhuận giữa các doanh nghiệp cũng không giống nhau.
*Ngoài ra, lợi nhuận phụ thuộc quy mô của doanh nghiệp. Quy mô sản
xuất khác nhau thì lợi nhuận sẽ khác nhau. Nhng tỷ suất lợi nhuận không phụ
thuộc vào quy mô mà phụ thuộc vào công tác quản lý. Vì vậy, bên cạnh việc
tăng lợi nhuận, doanh nghiệp luôn phải chú ý đến việc tăng tỷ suất lợi nhuận.
Điều này nhắc nhở doanh nghiệp nên chọn đạt mức lợi nhuận mà các khả
năng của mình có thể đạt tới, thích hợp với các điều kiện của doanh nghiệp
nh vốn, thời gian và khả năng thực hiện sản xuất kinh doanh.
Đứng về phía chủ quan của doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể tăng lợi
nhuận thông qua việc hạ giá thành sản phẩm. Trong cơ chế thị trờng cạnh
tranh, hạ giá thành sản phẩm ảnh hởng trực tiếp tới lợi nhuận của doanh
nghiệp.
4. Phân loại lợi nhuận
Lợi nhuận đạt đợc của mối doanh nghiệp có thể đợc nhìn nhận từ hai
góc độ khác nhau. Đó là từ nhà kế toán và nhà tài chính.
Lợi nhuận kế toán là chênh lệch giữa thu nhập và chi phí bỏ ra để đạt
đợc thu nhập mà không tính đến chi phí cơ hội.
Lợi nhuận tài chính là chênh lệch giữa thu nhập và chi phí có tính đến
chi phí cơ hội.
Chi phí cơ hội là chi phí có thể bị mất đi nếu dùng dự án này thay cho
dự án kia.
Để xem xét, phân tích hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp, lợi nhuận tài
chính đa lại kết quả khác quan và buộc phải tính đến.
9
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hậu-TC41D
II. Giá thành sản phẩm
1. Khái niệm và vai trò của chỉ tiêu giá thành sản phẩm
Nghiên cứu chi phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cha cho biết lợng chi
phí cần thiết để hoàn thành sản xuất và tiêu thụ một loại sản phẩm hoặc một
đơn vị sản phẩm nhất định. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, khi quyết
định lựa chọn phơng án kinh doanh một loại sản phẩm nào đó, doanh nghiệp
cần phải tính đến lợng chi phí bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm hoặc
một khối lợng sản phẩm đó. Do vậy phải xác định giá thành sản phẩm.
Việc nhận thức sản phẩm có nhiều góc độ:
Xét trên góc độ giá trị, giá thành sản phẩm là một bộ phận của giá trị
sản phẩm đợc biểu hiện bằng tiền bao gồm: giá trị vật t, t liệu sản xuất đã tiêu
hao và giá trị lao động cần thiết sáng tạo ra trong quá trình sản xuất sản phẩm.
Trong hạch toán, giá thành sản phẩm là những chi phí đợc tính vào giá
thành sản phẩm sau khi đã kết thúc đợc quá trình công nghệ - kỹ thuật sản
xuất sản phẩm theo quy trình.
*Vậy, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí doanh
nghiệp bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất hoặc để sản xuất và tiêu thụ một
khối lợng hay một đơn vị sản phẩm nhất định.
Giá thành sản phẩm là phạm trù kinh tế chủ quan, chúng ta có thể tác
động vào giá thành sản phẩm thông qua xây dựng giá thành để hạ thấp giá
thành sản phẩm.
2. Các nhân tố ảnh hởng tới giá thành sản phẩm
2.1. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
*Thị trờng - giá cả
Trong nền sản xuất hàng hoá, mọi doanh nghiệp không thể cô lập,
không liên hệ gì với thị trờng. Vì vậy, tất cả hoạt động của doanh nghiệp đều
chịu tác động của thị trờng - giá cả. Hơn thế nữa, giá thành sản phẩm luôn
chịu tác động trớc nhất của thị trờng - giá cả.
Khi giá cả trên thị trờng biến động sẽ làm cho giá thành sản phẩm biến
động theo. Giả sử khi giá thành nguyên liệu, nhiên liệu tăng lên, các chi phí
về những yếu tố này sẽ trực tiếp tăng lên và làm tăng giá thành sản phẩm.
Hoặc khi giá cả các mặt hàng tiêu dùng tăng làm cho tiền lơng thực tế giảm,
nó làm ảnh hởng tới năng suất lao động và gián tiếp gây ảnh hởng tới giá
thành sản phẩm. Nếu doanh nghiệp muốn đảm bảo mức tiền lơng thực tế của
ngời lao động thì phải tăng chi phí tiền lơng, dẫn đến tăng giá thành sản phẩm.
10
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hậu-TC41D
Thị trờng cũng ảnh hởng tới giá thành sản phẩm thông qua sự phân bố
các yếu tố đầu vào và mức độ cạnh tranh giữa các yếu tố này. Mọi doanh
nghiệp khi hoạt động đều cần mua các yếu tố đầu vào. Nếu sự phân bổ và mức
độ cạnh tranh ổn định, giúp cho việc sản xuất kinh doanh đợc liên tục và việc
hạch toán giá thành sản phẩm cũng ổn định.
Tóm lại, nhân tố thị trờng - giá cả ảnh hởng lớn tới giá thành sản phẩm
thông qua quy luật cung - cầu và quy luật cạnh tranh.
*Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành
Mỗi ngành có một đặc điểm kinh tế - kỹ thuật riêng chi phối tới việc
xác định các yếu tố trong giá thành sản phẩm cũng nh quy mô của từng yếu tố
đó. Đặc điểm này sẽ làm cho chi phí của từng khoản mục trong giá thành sản
phẩm thay đổi khác nhau dẫn tới quy mô và cơ cấu giá thành sản phẩm trong
từng ngành khác nhau. Chẳng hạn nh trong các doanh nghiệp công nghiệp, chi
phí cho nguyên vật liệu thờng chiếm tỷ trọng lớn, chi phí nhiên liệu, động lực
thờng chiếm tỷ trọng nhỏ. Nhng đối với các doanh nghiệp giao thông vận tải
thì ngợc lại.
Xem xét nhân tố này giúp cho việc định hớng các giải pháp hạ giá
thành sản phẩm trong từng ngành.
*Sự can thiệp của nhà nớc
Sự can thiệp của nhà nớc trong nền kinh tế thị trờng là một tất yếu
khách quan. Nó tác động tới mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp. Sự tác
động của nhà nớc tới giá thành sản phẩm đợc thể hiện trên các mặt sau:
Nhà nớc xây dựng lên một hệ thống các quy định tính giá thành sản
phẩm. Các quy định này đợc cụ thể tới từng loại doanh nghiệp. Nó chỉ ra các
loại chi phí đợc tính vào giá thành sản phẩm hoặc một tỷ lệ phí nhất định nào
đó tính vào giá thành sản phẩm. Ngoài ra, nhà nớc còn có quy định đối với
những sản phẩm nhất định thì tiêu chuẩn định mức các yếu tố đầu vào là bao
nhiêu. Những điều này có ảnh hởng trực tiếp tới giá thành sản phẩm.
Chính sách thuế của nhà nớc cũng ảnh hởng tới giá thành sản phẩm của
doanh nghiệp. Bởi vì thuế sẽ đánh vào các yếu tố đầu vào làm tăng chi phí dẫn
tới tăng giá thành sản phẩm. Bên cạnh đó, nếu nhà nớc thực hiện chính sách
trợ giá, khuyến khích các doanh nghiệp thì có thể dẫn tới việc giảm giá thành
sản phẩm.
Nh vậy, trong cơ chế thị trờng, nhà nớc có vai trò quan trọng trong việc
xác định mức giá thành sản phẩm của các doanh nghiệp. Tuy nhiên sự tác
11
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hậu-TC41D
động này vẫn luôn đảm bảo cho doanh nghiệp đợc chủ động trong hoạt động
cũng nh quyết định kết quả hoạt động kinh doanh của mình.
2.2. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
*Sự tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ
Chúng ta đang trong một nền kinh tế thị trờng ngày càng phát triển.
Những thành tựu của khoa học công nghệ ngày càng tiến bộ và đợc áp dụng
rộng rãi. Khoa học, công nghệ và những ứng dụng của nó có tác động mạnh
mẽ tới sự tồn tại của sản phẩm và đặc biệt có ảnh hởng mạnh tới giá thành sản
phẩm của doanh nghiệp. Hai doanh nghiệp cùng sản xuất một sản phẩm với
hai công nghệ khác nhau sẽ có chi phí khác nhau. Công nghệ tiên tiến hơn thì
quy trình sản xuất đợc khép kín, liên tục, ít gián đoạn và giảm chi phí cho thời
gian chờ đợi. Vì vậy, công nghệ tốt làm giảm chi phí và tăng năng suất lao
động. Việc áp dụng, đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp do đó là cần
thiết và diễn ra mạnh mẽ. Nó có tác dụng lớn trong việc hạ giá thành sản
phẩm của doanh nghiệp. Ngợc lại, nếu dùng công nghệ cũ, làm giảm hiệu quả
kinh tế, đẩy giá thành sản phẩm lên cao.
Tuy nhiên, trong từng doanh nghiệp cụ thể, với những đặc điểm kinh tế,
kỹ thuật riêng mà việc lựa chọn công nghệ không giống nhau. Bởi áp dụng
khoa học công nghệ phải đồng bộ với các yếu tố lao động, quản lý kinh doanh
và quản lý tài chính.
*Tổ chức lao động khoa học và chiến lợc sử dụng lao động
Để tạo ra một sản phẩm, ngoài máy móc, thiết bị thì ngời lao động
chiếm một vị trí quan trọng. Tổ chức lao động và sử dụng lao động trong
doanh nghiệp có ảnh hởng tới kết quả giá thành sản phẩm .
Tổ chức lao động khoa học là việc phân công lao động vào từng khâu
của dây chuyền sản xuất phải phù hợp với trình độ lao động, yêu cầu của dây
chuyền. Khoa học ở đây còn thể hiện trong việc sắp xếp tối đa để tăng năng
suất lao động, đồng thời có chế độ thời gian nghỉ ngơi đủ để tái sản xuất sức
lao động.
Chiến lợc sử dụng lao động dựa vào việc sản xuất sản phẩm gì, công
nghệ nào nhằm có kế hoạch đào tạo phát triển trình độ hoặc tập huấn cho lao
động. Nhờ vậy, lao động đợc nâng cao chuyên môn, có công việc ổn định. Họ
yên tâm làm việc và có ý thức trách nhiệm trong công việc.
Tổ chức lao động khoa học và chiến lợc sử dụng lao động tác động trực
tiếp tới kết quả kinh tế nói chung và giá thành sản phẩm nói riêng.
*Tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh và quản lý tài chính
12
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hậu-TC41D
Dới góc độ giá thành sản phẩm, công việc tổ chức quản lý sản xuất kinh
doanh và quản lý tài chính sẽ giúp các bộ phận trong doanh nghiệp phối hợp
chặt chẽ với nhau.
Tổ chức làm cho mọi hoạt động khoa học, giảm chi phí vô ích về vật
chất, thời gian và con ngời. Quản lý phối hợp với tổ chức để xem thực tế hoạt
động sản xuất kinh doanh có theo kế hoạch không. Nó có chức năng theo dõi
và giám sát công việc.
Tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh và quản lý tài chính quyết định
đến sự ổn định giá thành sản phẩm cũng nh mức giá thành sản phẩm của
doanh nghiệp.
3. Phân loại giá thành sản phẩm
Việc phân loại giá thành sản phẩm dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau.
Với từng tiêu thức xác định đợc các loại giá thành sản phẩm riêng.
3.1. Phân theo thời điểm tính và nguồn số liệu để tính giá thành
Theo tiêu thức này , chỉ tiêu giá thành đợc chia ra thành giá thành kế
hoạch, giá thành định mức và giá thành thực tế.
*Giá thành kế hoạch là giá thành đợc xác định trớc khi bớc vào kinh
doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trớc và các định mức, các dự toán chi phí
của kỳ kế hoạch.
*Giá thành định mức cũng là giá thành đợc xác định trớc kỳ sản xuất
kinh doanh. Tuy nhiên, khác với giá thành kế hoạch đợc xây dựng trên cơ sở
các định mức bình quân tiên tiến và không biến đổi trong suốt cả kỳ kế hoạch,
giá thành định mức đợc xác định trên cơ sở các định mức về chi phí hiện hành
tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch (thờng là ngày đầu tháng). Vì
vậy giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định
mức chi phí đạt đợc trong quá trình thực hiện kế hoạch giá thành.
*Giá thành thực tế là chỉ tiêu đợc xác định sau khi kết thúc quá trình
sản xuất sản phẩm. Nó dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá
trình sản xuất sản phẩm.
Cách phân loại này có tác dụng trong việc quản lý và giám sát chi phí,
xác định đợc các nguyên nhân vợt hay hụt định mức chi phí trong kỳ kế
hoạch. Từ đó điều chỉnh kế hoạch hoặc định mức chi phí cho phù hợp.
3.2. Phân theo phạm vi phát sinh chi phí
Theo chỉ tiêu này, giá thành sản phẩm đợc chia ra thành giá thành sản
xuất và giá thành tiêu thụ.
13
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hậu-TC41D
*Giá thành sản xuất (còn gọi là giá thành công xởng) là chỉ tiêu phản
ánh tất cả những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản
phẩm trong phạm vi phân xởng sản xuất. Nó gồm các khoản mục chi phí trực
tiếp:
- Chi phí vật t trực tiếp gồm các chi phí về nguyên liệu, vật liệu và động
lực tiêu dùng trực tiếp cho sản xuất sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp.
- Chi phí nhân công trực tiếp gồm các khoản trả cho ngời lao động trực
tiếp sản xuất nh: tiền lơng, tiền công và các khoản phụ cấp có tính chất lơng,
chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn và công nhân trực
tiếp.
- Chi phí sản xuất chung gồm các khoản chi phí chung phát sinh ở các
phân xởng, bộ phận kinh doanh của doanh nghiệp nh: tiền lơng, phụ cấp trả
cho nhân viên phân xởng; chi phí vật liệu, công cụ, dụng cụ xuất dùng cho
phân xởng; khấu hao tài sản cố định; chi phí dịch vụ mua ngoài và các chi phí
bằng tiền ngoài các chi phí kể trên.
*Giá thành tiêu thụ (còn gọi là giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ)
là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Giá thành toàn bộ
sản phẩm bao gồm:
- Giá thành sản xuất của sản phẩm , dịch vụ đã tiêu thụ.
- Chi phí bán hàng gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ
sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ nh: tiền lơng, các khoản phụ cấp phải trả cho
nhân viên bán hàng, tiếp thị, đóng gói, vận chuyển, bảo quản; khấu hao tài
sản cố định; chi phí vật liệu, bao bì, dụng cụ, đồ dùng, chi phí dịch vụ mua
ngoài và các chi phí khác bằng tiền nh chi phí bảo hành sản phẩm, chi phí
quảng cáo
- Chi phí quản lý doanh nghiệp gồm các chi phí quản lý kinh doanh,
quản lý hành chính và các chi phí chung khác có liên quan đến hoạt động của
toàn doanh nghiệp nh: tiền lơng và các khoản phụ cấp trả cho ban giám đốc và
nhân viên quản lý ở các phòng ban; chi phí vật liệu, đồ dùng cho văn phòng,
khấu hao tài sản cố định dùng chung cho doanh nghiệp, các khoản thuế, lệ
phí, bảo hiểm, chi phí dịch vụ mua ngoài thuộc văn phòng doanh nghiệp và
các chi phí khác bằng tiền chung cho toàn doanh nghiệp nh: lãi vay vốn kinh
doanh, lãi vay vốn đầu t của những tài sản cố định đã đa vào sử dụng, dự
Giá thành
toàn bộ
sản phẩm
=
Giá thành
sản xuất
sản phẩm
+
Chi phí
quản lý
doanh
nghiệp
+
Chi phí
bán
hàng
14
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hậu-TC41D
phòng nợ phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, phí kiểm toán,
chi phí tiếp tân, công tác phí, tiền nộp quỹ quản lý Tổng công ty và các khoản
trợ cấp thôi việc cho ngời lao động theo chế độ hiện hành
Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết đợc kết quả
kinh doanh (lãi, lỗ) của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp
kinh doanh. Tuy nhiên, nó có những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức
phân bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý cho từng mặt hàng, từng loại dịch
vụ.
4. ý nghĩa của việc hạ giá thành để tăng lợi nhuận
Thực chất của việc hạ giá thành sản phẩm là việc tiết kiệm chi phí lao
động sống và lao động vật hoá cho một đơn vị hay một khối lợng sản phẩm
đầu ra. Nó có ý nghĩa to lớn đối với doanh nghiệp và xã hội.
4.1. Đối với doanh nghiệp
*Thứ nhất, hạ giá thành sản phẩm giúp sản phẩm của doanh nghiệp
tăng khả năng cạnh tranh trên thị trờng, đẩy nhanh việc tiêu thụ sản phẩm.
Trong nền kinh tế thị trờng, môi trờng hoạt động kinh doanh là mở thì sản
phẩm rất phong phú và đa dạng. Để kích thích sự tiêu dùng, sản phẩm đó
không chỉ có chất lợng, mẫu mã tốt mà giá thành phải dễ chấp nhận. Nếu giá
bán của doanh nghiệp thấp thì tiêu thụ nhanh, tránh đợc việc tồn đọng hàng
hoá. Nhờ vậy, doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh, giảm chi phí sử dụng vốn,
tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
*Thứ hai, hạ giá thành sản phẩm sẽ trực tiếp làm tăng lợi nhuận của
doanh nghiệp. Khi giá thành sản phẩm cá biệt của doanh nghiệp thấp hơn các
doanh nghiệp khác mà giá bán hàng hoá đó trên thị trờng đã xác định thì
doanh nghiệp sẽ thu đợc lợi nhuận cá biệt cao hơn.
*Thứ ba, hạ giá thành sản phẩm giúp doanh nghiệp mở rộng sản xuất.
Vì giá thành sản phẩm giảm thì chi phí sản xuất giảm. Cũng với lợng chi phí
ban đầu, nay doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô sản xuất lớn hơn. Tiếp đến,
giảm giá thành sản phẩm đồng nghĩa với lợi nhuận tăng, từ phần lợi nhuận
mới này, doanh nghiệp có thể trích ra để đầu t, mở rộng tái sản xuất. Vậy, hạ
giá thành sản phẩm đã góp phần lớn trong việc mở rộng quy mô sản xuất của
doanh nghiệp.
4.2. Đối với xã hội
Trong điều kiện xã hội hiện nay, mọi nguồn lực đều có hạn. Nhiệm vụ
nghiên cứu và hạ giá thành sản phẩm là tất yếu.
15
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Minh Hậu-TC41D
*Giá thành sản phẩm hạ giúp cho con ngời có cơ hội dùng sản phẩm với
giá thấp hơn, thoả mãn nhiều nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ hơn. Nhờ vậy,
mức sống của con ngời đợc nâng cao.
*Giá thành sản phẩm hạ làm tăng lợi nhuận. Lợi nhuận tăng thì tích luỹ
cho nền kinh tế tăng. Bên cạnh đó, lợi nhuận tăng khiến cho các khoản thu
ngân sách nhà nớc tăng thông qua thuế và lợi tức. Nên nền kinh tế có điều
kiện phát triển chiều rộng và chiều sâu.
Nhìn tổng quát, hạ giá thành sản phẩm góp phần lớn vào thúc đẩy phát
triển kinh tế, xã hội.
III. Quan hệ giữa giá thành và lợi nhuận của doanh
nghiệp
1. Giá thành sản phẩm là yếu tố cơ bản quyết định chi phí kinh doanh
của doanh nghiệp
Chi phí kinh doanh của doanh nghiệp ngoài giá thành sản phẩm còn có
các loại chi phí khác nh chi phí hợp lý hợp lệ trong thuế thu nhập doanh
nghiệp. Trong đó, chi phí hình thành nên giá thành sản phẩm chiếm tỷ trọng
chủ yếu, cơ bản.
Giá thành sản phẩm gồm những chi phí hoàn thành việc sản xuất hoặc
tiêu thụ một đơn vị sản phẩm. Đó là sự tổng hợp từ khâu chuẩn bị sản xuất đến
hết khâu tiêu thụ sản phẩm. Mà những chi phí này trực tiếp tạo ra thành quả,
sản phẩm của doanh nghiệp. Sản phẩm của doanh nghiệp sản xuất để thoả
mãn nhu cầu của khách hàng, thị trờng. Vì vậy, sản phẩm có vai trò quan
trọng nên giá thành sản phẩm là yếu tố chi phí cơ bản của doanh nghiệp. Nó
quyết định quy mô, tính hiệu quả của chi phí kinh doanh bỏ ra. Nếu chi phí
này đợc chuyển tối đa vào giá thành sản phẩm thì sẽ tạo ra hiệu quả cao trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chi phí hợp lý hợp lệ trong thuế thu nhập của doanh nghiệp cũng có vai
trò quan trọng giúp doanh nghiệp giảm thuế thu nhập, tăng lợi nhuận sau thuế.
Nhng chi phí hợp lý hợp lệ chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong chi phí kinh
doanh. Bởi những chi phí này đợc quy định rất chặt chẽ. Cụ thể nh không đợc
tính vào chi phí: các khoản trích trớc vào chi phí mà thực tế không chi; các
khoản chi không có chứng từ hoặc chứng từ không hợp pháp; các khoản tiền
phạt, các khoản chi không liên quan đến doanh thu tính thuế thu nhập và thu
nhập chịu thuế; các khoản chi do các nguồn vốn khác đài thọ.
16
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét